NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa
Tin đăng ngày: 31/3/2020 - Xem: 104
 

Nguyễn Đình Chú

Upload

Nền khoa cử Nho học xưa với khoa thi đầu tiên vào năm 1075 chấm dứt với khoa thi cuối cùng vào năm 1919. Trong  844 năm tồn tại đã có 2890 vị đại khoa tính từ Phó bảng trở lên trong đó có 47 Trạng nguyên. Dưới thời vua Lê Thánh Tông đã dựng bia Tiến sĩ tại Văn miếu Quốc Tử giám ở Hà Nội. Dười thời nhà Nguyễn, kinh đô dời vào Thuận Hóa thì tại Huế cũng có bia Tiến sĩ. Một nhân vật tinh hoa từng đi qua trường thi Nho học đó là Chu Văn An bao đời nay đã được thờ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám với tư cách là sư biểu của quốc gia. 

Việc đánh giá nền khoa cử Nho học đó đã diễn ra như thế nào trong lịch sử?

Dĩ nhiên, trong thời đại phong kiến thì chốn khoa cử Nho học này là thiên đường trong ước mơ của những chàng trai ưu tú của đất nước, là cửa Vũ Môn mà ai vượt qua được thì sẽ hóa rồng. Mặc dù ở chốn khoa trường đó, vào thời Lê Mạt cũng đã xẩy ra hiện tượng đút lót mua bán bài thi để triều đình phải dùng biện pháp ngăn chặn. Nền khoa cử Nho học này đầu tiên bị chê bai là bởi các nhà duy tân nửa sau thế kỷ XIX, tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ. Trong Tế cấp bát điều (tám điều khẩn cấp) mà Nguyễn Trường Tộ điều trần với triều đình, điều thứ tư là: “Xin sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng”. Từ đó, ông đề nghị mở các khoa Canh nông, khoa Thiên văn và khoa Địa lý, khoa Công kỹ nghệ, khoa Luật học và dùng chữ viết theo kiểu vẫn là chữ Hán nhưng đọc theo âm Việt. Ví dụ: ẩm thực thì đọc là ăn uống. Thay đổi nền học thuật như thế là thay đổi nền giáo dục và cũng sẽ dẫn đến việc khai tử nền khoa cử Nho học lâu đời. Thực dân Pháp chiếm đóng nước ta. Đất nước “khổ nhục nhưng vĩ đại”, vĩ đại mà khổ nhục, “Một phen thay đổi sơn hà” không chủ động. Nền giáo dục Nho học gắn với nó là chế độ khoa cử Nho học rơi vào cảnh chợ chiều. Nguyễn Khuyễn cho biết lúc này Tiến sĩ đã thành “Tiến sĩ giấy”, “Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi”. Thơ Tú Xương phản ánh rõ cảnh tượng chợ chiều đó: “Nào có ra gì cái chữ Nho/ Ông Nghè ông Cống cũng nằm co/ Chi bằng đi học làm ông Phán/ Sáng rượu sâm banh tối sữa bò”. Sang đầu thế kỷ XX với phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907), nền Nho học cùng với chế độ thi cử Nho học lại bị phê phán một cách tự giác hơn, khi mà các chí sĩ Đông Kinh nghĩa thục đã tiếp thu được tinh hóa văn minh Âu Tây tạo ra một cuộc cách mạng về tư tưởng văn hóa giáo dục trong đó có vấn đề cải cách chế độ thi cử. Trong Văn minh tân học sách có 6 chủ trương: 1) Dùng văn tự nước nhà (chữ Quốc ngữ); 2) Hiệu đính sách vở; 3) Sửa đổi phép thi; 4) Cổ vũ nhân tài; 5) Chấn hưng công nghệ; 6) Mở tòa báo. Với những chủ trương này nếu được thực hiện thì rõ ràng sẽ tiễn đưa nền khoa cử Nho học về quá khứ. Dưới thời Pháp thuộc, tân học thay thế cựu học. Trong đó ở bậc Tiểu học, Cao tiểu mỗi tuần vẫn có ba tiết học chữ Hán (Cảractères Chinois) là trò chơi đồ cổ. Trò không muốn học, thầy không muốn dạy. Trừ một số con em nhà Nho khoa bảng cũ mà di truyền văn hóa chưa mất hẳn thì vẫn nhờ món chơi đồ cổ đó mà sau này làm nên công chuyện Hán Nôm.

Số phận của nền khoa cử Nho học từ ngày có tư tưởng duy tân và dưới thời Pháp thuộc là thế. Còn dưới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là xã hội chủ nghĩa thì sao? Nổi lên là một sự phủ nhận triệt để trong đà chung phủ nhận chế độ phong kiến có thượng tầng kiến trúc phong kiến có Nho giáo, Nho học và chế độ khoa cử Nho học. Kết luận chúng ta thường gặp trên sách báo: nền giáo dục dưới thời phong kiến là nền giáo dục sách vở giáo điều xa thực tế lạc hậu. Chế độ khoa cử Nho học chỉ để đào tạo những ông quan ăn trên ngồi trốc thiên hạ “cướp đêm là giặc cướp ngày là quan”.

Về nền khoa cử Nho học đã được kết luận như thế là chuẩn xác rồi còn gì để nói nữa ư? Không! Với tôi, thấy cần nói lại một cách cơ bản. Bởi khoa học đích thực là công việc recherche nghĩa là tìm đi tìm lại, cứ thế mà tìm. Ở đây không có tiếng nói cuối cùng. Bài viết của tôi có nhan đề Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học thời xưa là những gì tôi đã nghĩ đến theo phương châm khoa học là Recherche.  Mong có sự trao đổi và chỉ giáo.

 *  *  *

Những ý kiến của các nhà Duy tân cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là xuất phát từ động cơ hoàn toàn chính đáng và có căn cứ nhất định bởi đã thấy nền giáo dục và chế độ thi cử Nho học vào thời đó không thể cứu được vận nước.  Phải duy tân làm cho đất nước hùng cường thì mới cứu được nước. Mà duy tân thì phải biết đâu là cũ đâu là mới để bỏ cũ thay mới. Nhưng như thế chưa phải các nhà duy tân đã phủ nhận sạch trơn nền khoa cử Nho học  tồn tại hơn 800 năm. Chỉ đến sau này, việc phủ nhận nền khoa cử Nho học mới là ở cấp độ tổng thể và triệt để. Một khi có tình trạng “dĩ Âu vi trung”, bị gián cách lịch sử một cách rõ nét do sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên phương diện văn hóa và tinh thần(1), do có chuyện thay chữ viết Hán Nôm sang Quốc ngữ tuy được rất lớn nhưng mất không nhỏ(2). Thực tế đúng là trớ trêu mâu thuẫn. Ngoại trừ thời cải cách ruộng đất và chủ nghĩa thành phần tai hại một thời thì vẫn đề cao vẫn tôn thờ hầu hết những bậc khoa bảng của chế độ khoa cử Nho học trong khi lại chê bai phủ nhận nền khoa cử đó.

Đúng là phải tìm hiểu lại thực chất của nền khoa cử Nho học xưa sao cho đúng để từ đó mà rút kinh nghiệm cho hôm nay, khi mà chúng ta không ai không muốn có một nền giáo dục đích đáng trong đó có chế độ khoa cử đúng đắn chứ không như hiện nay. Do đó để hiểu đúng nền khoa cử Nho học trước hết là phải hiểu đúng những gì đã là cơ sở tạo ra nó, liên quan đến nó.

Upload

1. Phải hiểu đúng chế độ phong kiến Việt Nam thời trung đại

Chẳng phải sách báo thời nay đã chia lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu từ sau chiến thắng Bạch Đằng giành lại độc lập đất nước, mở ra các triều đại Ngô-Đinh-Lê-Lý-Trần đến thời Lê sơ là giai đoạn còn có vai trò lịch sử, đã cùng nhân dân đoàn kết chống ngoại xâm phát triển đất nước. Giai đoạn thứ hai từ thời Lê mạt cho đến thời triều Nguyễn thì ngày một suy thoái khủng hoảng triền miên và cuối cùng bán nước cho thực dân Pháp. Trong thực tế, vẫn chăm lo bảo tồn những di sản văn hóa, tôn vinh những danh nhân thời phong kiến. Nhưng ở phương diện nhận thức thể hiện trên sách báo thì một khi đã vận dụng lý thuyết giai cấp, lý thuyết về năm hình thái xã hội từ phương Tây đến thì lại cho rằng chế độ phong kiến là một chế độ lạc hậu so với chế độ tư bản, đặc biệt là với chế độ xã hội chủ nghĩa. Giai cấp phong kiến là một giai cấp thống trị phản động cần tiêu diệt. Chủ nghĩa tôn quân biểu trưng của chế độ phong kiến là lạc hậu. Ông vua là kẻ có quyền uy tối thượng, ăn trên ngồi trốc thiên hạ, tốt thì dân được nhờ, xấu thì dân phải chịu, kém xa ông Tổng thống cai trị dân bằng pháp luật theo chế độ nghị trường. Những kết luận như trên đúng sai thế nào? Theo tôi, là chưa đúng như nó vốn có. Bởi lẽ ở nước ta thời đó, nó là phong kiến nhưng là phong kiến đức trị, được xây dựng từ truyền thống nhân văn của dân tộc và dựa vào các học thuyết đạo đức: Nho - Phật - Đạo. Nho giáo không phải là không có hạn chế này nọ nhưng vẫn là một học thuyết vô địch trong các học thuyết cổ kim Đông Tây của nhân loại ở việc xây dựng đạo đức làm người trong cõi trần gian(3). Phật giáo là một tôn giáo có tình thương bao la bát ngát hơn bất cứ tôn giáo nào của thế giới, thương con người, thương đến cả muôn loài(4). Đạo giáo từ gốc Lão giáo là học thuyết cao siêu huyền diệu một khi biến tướng thành Đạo giáo đã tạo ra thế giới tâm linh góp phần vào sự bình yên cho cuộc sống. Đặc biệt là giữa Nho Phật Đạo không đối lập nhau mà liên kết với nhau theo tinh thần Tam giáo đồng nguyên từ đó đã hình thành không biết bao nhiêu là triết lý nhân sinh cao diệu có giá trị trong muôn đời. Cũng phải nói thêm. Thời phong kiến đức trị đó không phải không có pháp trị. Bộ Hình thư ra đời năm 1042 thời nhà Lý, các bộ sách điển chế như Quốc triều thông chế (20 quyển), Kiến trung thượng lễ (10 quyển), Hoàng triều đại điển (10 quyển), Hình luật thư (1341) dưới thời nhà Trần, Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) thời Lê Thánh Tông, Bộ luật Gia Long thời nhà Nguyễn không phải là luật pháp ư. Vua Lê Thái Tổ chẳng đã nói: “Từ xưa đến nay, trị nước đều phải có pháp luật. Không có pháp luật thì sẽ loạn” (Đại Việt sử ký toàn thư). Trong Hoàng triều quan chế, vua Lê Thánh Tông đã dụ rằng: “Quan to quan nhỏ đều ràng buộc với nhau, chức trọng chức khinh cùng kiềm chế lẫn nhau. Uy quyền không bị lợi dụng. Thế nước vậy là khó lay. Hình thành thói quen giữ đạo lý theo pháp luật mà diệt bỏ lối khinh nhân nghĩa, phạm ngục hình”(Đại Việt sử ký toàn thư). Trong dịp biếm chức Binh bộ Tả thị lang Nguyễn Đình Mỹ nhà vua còn có lời dụ: “Pháp luật là phép công của cả nước, ta cùng các ngươi phải tuân theo”. Còn ông vua mà sách báo ngày nay đã nói như thế là thế nào? Đúng là sai rồi vì vô tình hay hữu ý đã bỏ mất hai chữ Thiên tử (con Trời) và mệnh đề “Thế thiên hành đạo” trong thuyết quân vương của Nho giáo. Đã là con Trời thì vua chưa phải là người quyền uy tối thượng. Còn ông Trời là gì? Thì đúng là một biểu tượng siêu hình mà theo chủ nghĩa duy vật thì cho là vô nghĩa. Các nhà Macxit lại còn cho đó là tạo thần quyền để tôn thêm quân quyền. Trong khi biểu tượng ông Trời siêu hình này là sản phẩm của năng lực người trong việc tạo ra một biểu tượng siêu hình thường trực trong đầu óc của ông vua để đôn đốc, theo dõi, không chỉ hành động mà còn tâm tư thầm lặng của ông vua hướng theo sứ mệnh thay Trời hành đạo với muôn dân. Nó là siêu hình nhưng tác dụng thực tiễn của nó là vô cùng to lớn. Nhất là một khi nó lại dựa vào thuyết tai dị và được thiết chế hóa bằng hình thức lễ tế Nam giáo chính là dịp nhà vua trịnh trọng kiểm điểm trách nhiệm thế thiên hành đạo trước Trời Đất. Thoát áp “dĩ Âu vi trung” sẽ thấy rõ như thế.

Upload

2. Phải hiểu đúng nền giáo dục thời phong kiến

2.1. Nền giáo dục xưa đó đã dựa vào Nho giáo. Vậy Nho giáo là thế nào? Chẳng phải là cha ông thuở trước thì nhất tâm sùng Nho. Nhưng từ ngày có sự đụng độ Đông Tây, nhất là thời Macxit thì giông bão đã đổ bộ lên Nho giáo do đã phạm nhiều sai lầm trong nhận thức về Nho giáo.

2.1.1. Sai lầm thứ nhất là đồng nhất Nho giáo với chế độ phong kiến để  rồi thủ tiêu chế độ phong kiến thì cũng hạ bệ nốt Nho giáo trong khi Nho giáo tuy là nền tảng học thuyết của chế độ phong kiến nhưng với chế độ phong kiến vẫn không phải là một. Chứng cớ: chế độ phong kiến đã diệt vong nhưng Nho giáo vẫn còn đó với muôn đời.

 2.1.2. Sai lầm thứ hai là hiểu sai bản chất của Nho giáo. Nó là học thuyết đạo đức chính trị xã hội lại hiểu thành học thuyết chính trị xã hội đạo đức từ đó mà tạo ra một hệ qui chiếu không đúng với Nho giáo.

2.1.3. Sai lầm thứ ba là trong hệ qui chiếu đã sa vào tình trạng “dĩ Âu vi trung” vận dụng máy móc các lý thuyết từ phương Tây đến như lý thuyết duy vật, giai cấp, hình thái xã hội... từ đó mà hiểu sai hạ thấp khinh rẻ Nho giáo.

2.1.4. Sai lầm thứ tư là nhận thức sai về sự hiện diện của Nho giáo trên đất nước mình. Nho giáo là thành tựu văn hóa bề thế và sáng giá của Trung Quốc đã du nhập vào Việt Nam theo hai qui luật. Một là gắn với xâm lược thì dĩ nhiên là phản Việt Nam nhưng một khi xâm lược bị tống khứ thì thứ Nho giáo này cũng bị cút theo. Một là thuộc qui luật của tự thân văn hóa trong đó có sự lan tỏa ảnh hưởng của một văn hóa lớn đối với các nền văn hóa nhỏ trong khu vực. Cho nên xâm lược phương Bắc cút nhưng Nho giáo vẫn ở lại góp phần phát triển văn hóa Việt Nam theo qui luật tiếp biến của bản lĩnh Việt Nam. Do không nhận thức được qui luật thứ hai nên mới có luận điểm “Nho giáo là phản động. Dân tộc ta tồn tại được là nhờ chống được Nho giáo”.

2.1.5. Sai lầm thứ năm là tuyệt đối hóa chức năng xã hội của Nho giáo. Nho giáo chỉ là học thuyết xây đắp đạo lý nhân cách làm người trong cuộc sống trần gian mà ở phương diện này thì trong lịch sử tư tưởng nhân loại không một học thuyết nào địch được với Nho giáo như đã nói.

2.2. Đây là nền giáo dục đã là quốc sách hàng đầu

Với quan điểm lịch sử cụ thể chứ không phải quan điểm hiện đại phi lịch sử sẽ thấy rõ là như thế bởi các lẽ sau đây:

 2.2.1. Có triết lý giáo dục tối ưu nhất xưa nay. Đó là: Nhân bất học bất tri lý (Người mà không học thì không biết lẽ phải). Ấu bất học lão hà vi (lúc trẻ không học thì sống đến già biết gì mà làm), Học nhi bất yểm, giáo nhân bát quyện (học thì không biết chán, dạy thì không biết mỏi), Tiên giác giác hậu giác (người biết trước dạy người biết sau), Tiên học lễ hậu học văn (học đạo làm người trước học văn sau), Tri hành hợp nhất (học và hành là một), Trạch lân xứ tử bất học (chọn chỗ ở sai thì việc học của con sẽ chẳng ra gì), Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết ấy là biết vậy).

2.2.2. Với triết lý đó, nó thực sự là quốc sách hàng đầu chứ không phải nói cho vui như hiện nay. Bởi lẽ, giáo dục thông qua chế độ thi cử là con đường độc đạo dẫn vào chấp chính. Hệ thống chấp chính quốc gia chỉ dành riêng cho những người có học vấn cao và có khoa bảng ra khoa bảng. Có chế độ thế tập ưu tiên con vua cháu chúa nhưng do có triết lý giáo dục như thế nên có chế độ cung trung giáo tập để trí thức hóa con cháu một cách rất hiệu quả. Thực tế là: đời vua khai mở vương triều thường còn ít chữ nghĩa nhưng đến đời con đời cháu thì hầu hết đã là những người có học vấn dồi dào.

2.2.3. Nền giáo dục đó đã sản sinh cho đất nước những mẫu người ưu tú đích thực. Đó là mẫu người quân tử mà sách vở thường nói đến nhưng chưa cảm nhận đúng giá trị nhân phẩm của mẫu người này trong thế giới mẫu người lý tưởng của nhân loại cổ kim Đông Tây. Riêng về mẫu người kinh bang tế thế của nền giáo dục đó mà điển hình hấp dẫn tới muôn đời là Nguyễn Công Trứ thì xem ra hậu thế đã chưa mấy nhận ra một khi đã nghĩ nền giáo dục đó chỉ là sách vở xa thực tế. Ngày nay có mẫu người kinh tế thì hai chữ kinhtế là lấy từ khái niệm kinh bang tế thế này. Nhưng nội hàm thì khác nhau xa lắm. Kinh tế thì chỉ có nghĩa là những gì thuộc đời sống vật chất, của cải. Trong khi Kinh bang tế thế là dựa theo triết lý nhân sinh với một logich tối ưu trong sự sống muôn đời của nhân loại: “Thành tâm chính ý, cách vật trí tri, tu thân tề gia, trị quốc bình thiên hạ”. Kinh bang tế thế là sự thực hiện lý tưởng trị quốc bình thiên hạ chứ không chỉ là chuyện làm giàu của cải vật chất. Sách báo cũng thường nói đến mẫu nhà Nho gồm ba loại: nhà Nho nhập thế, nhà Nho ẩn dật (ẩn sĩ), nhà Nho tài tử. Trong nhà Nho nhập thế thì cũng có nhiều trạng thái nhập thế. Trong đó đáng tôn kính nhất là nhập thế mà thành - nhà Nho nghĩa khí. Những lãnh tụ Cần vương cuối thế kỷ XIX như Phan Đình Phùng, Ngô Quang Bích, Đinh Văn Chất,.. và những chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu)... là những vị tiêu biểu nhất của mẫu nhà Nho nghĩa khí mặc dù ở lớp sau tư tưởng đã không thuần Nho nữa. Tao Đàn phó nguyên soái Thân Nhân Trung từng nói: Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Đây không chỉ là lời nói suông mà là lời nói đi đôi với thực tế một khi nó là sản phẩm của chế độ phong kiến đức trị, có nền giáo dục đúng là quốc sách hàng đầu.

3. Thực chất của nền khoa cử Nho học

Những gì đã nói trên đây về cơ sở xã hội, cơ sở văn hóa, cơ sở giáo dục và chức năng xã hội của chế độ khoa cử thiết tưởng đã đủ cho chúng ta tin vào tính chất ưu việt của nền khoa cử Nho học. Tuy thế vẫn không thể không nói đến bản thân nền khoa cử đó trong đó có hình thức tổ chức, qui chế của trường thi, hệ thống bằng cấp... Tuy nhiên khi nói đến khoa cử thì có hai điều này là cơ bản nhất trong việc định giá.

3.1. Chất lượng của đề thi

Giá gì những đề ra (Đình đối) và bài làm (Đối sách) trong nhiều kỳ thi Đình có trong Đình đối sách được dịch in đầy đủ để bạn đọc thời nay thấy đời xưa chất lượng thi cử Đình thí, bậc thi cao nhất của chế độ khoa cử Nho học, là thế nào? So với các đề tài và chất lượng luận án Tiến sĩ của thời nay về khoa học xã hội và nhân văn khác nhau thế nào? Ở đây chỉ nêu một vài chủ đề của mấy trường hợp Đình đối mà vua Tự Đức đã ra (đề thi Đình về văn sách do nhà vua ra) ngay khi đã bị nhà Duy tân vĩ đại Nguyễn Trường Tộ lên án như trên đã nói “Đình đối 1: Đất nước bị xâm lăng đối phó thế nào? Đình đối 2: Quan lại tham nhũng vơ vét của cải của nhân dân ngày càng tệ hại. Nhân dân oán giận lớn. Triều đình đã ban bố nhiều sắc lệnh cấm đoán mà chưa có hiệu quả. Bằng hiểu biết sách vở và thực tế hãy hiến kế. Phải nói cho thật. Trẫm sẽ lắng nghe và vận dụng. Đình đối 3: Nhật Bản bắt chước phương Tây mà giàu có lên như thế. Ta có nên bắt chức Nhật Bản không? Nếu theo Nhật Bản thì thế nào để giữ gìn bản sắc dân tộc”.

3.2. Chất lượng của bài làm

Đây là một ví dụ về Đối sách cũng thuộc đời Tự Đức trước đó, năm 1869, sau hai năm mất Lục tỉnh Nam kỳ: Chế sách (đề thi) của nhà vua dài gần một trang rưỡi đòi hỏi thí sinh phải vừa có trình độ uyên bác về cổ học vừa có hiểu biết cuộc sống để giải đáp hàng loạt câu hỏi xin lược thuật một số câu như sau: Hỏi về “vận hội thịnh suy”, về “tính mệnh chính giáo... nói đến mệnh thì có hưng có vong có chính có tà có cùng có đạt. Thánh vị tất đều đạt cả. Gian đâu phải không có lúc đạt. Đến như đạo, khí được thi hành khi bị ruồng bỏ, đều là do mệnh mà thành công thì là do Trời. Thế thì thuyết người làm và thuyết Trời định nói ngang hàng với nhau, có như vậy không?... Trời làm theo điều người muốn sống, thế mà tai nạn thủy hạn tật dịch cũng còn chưa khỏi hết. Đạo của Trời xa xôi. Đạo của người gần gũi. Thế thì những thuyết vọng khi chiêm tinh (trông mây khói và nhìn sao mà đoán chuyện lành dự ở đời) quả đều là không ứng nghiệm hay sao? Các điềm tốt không gì bằng điểm được mùa mà sách chép rất được mùa từng có mấy lúc mà ở đời chín năm lụt bảy năm hạn không hề nghe nói”... Trước một đề thi như thế, bài làm của Ngô Quang Bích đạt kết quả Hoàng giáp (Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân), Đình nguyên (đậu đầu kỳ thi Đình), về sau là lãnh tụ của phong trào Cần vương ở Tây Bắc đã thể hiện một trình độ học vấn rất mực uyên bác và đặc biệt là một tinh thần thân dân sâu sắc vốn có nguồn gốc từ Nho giáo. Xin dẫn một đoạn: “Người thấy hai ba năm nay thủy hạn liên tiếp, nhân dân đói khát. Năm trước đây thần đọc dụ chỉ có nói rằng: “Từ xưa đến nay chưa bao giờ nhiều việc như ngày nay, chưa bao giờ nhiều tai họa như ngày nay”. Lớn lao thay lời nói của Đức Hoàng thượng ta. Điều trên thể ý Trời. Điều dưới lo dân sinh. Thực là rất mực. Cho nên đối với thuế khóa thì tha bớt, đối với hình phạt thì giảm nhẹ, bọn quan lại hiền lương thì được biểu dương, bọn quan lại tham lam thì bị trách phạt. Hễ đem ra thi hành một chính lĩnh nào cũng nhằm xây dựng sinh mệnh cho nhân dân. Thế mà cảnh dân đau khổ lâu ngày, thần không dám nói đã thay đổi vậy. Nhân dân là con của bệ hạ, là gốc của nước nhà. Gốc rễ mà không được vun trồng làm sao có thể bền vững. Phương chi dân lại còn bị nhiễu hại, bóc lột không phải là ít. Xin bệ hạ lo làm sao bảo dưỡng vun trồng cho dân để dân được sống còn thoải mái yên ổn. Muốn cho dân được yên ổn, cốt ở chỗ chọn người mà dùng mà chỗ quan trọng của việc dùng người thì lại bắt đầu từ bộ thuyên tuyển. Cúi xin bệ hạ phải làm thế nào cho trong sạch từ gốc nguồn, đoan chính từ cội rễ, mà phép khảo thí phải cho nghiêm nhặt để những người được chọn dùng không ai không là người tốt vậy...(5).

3.3. Để hiểu rõ hơn giá trị của Đình đối và Đối sách cụ thể như trên, cần thêm mấy điều sau đây từng bị hiểu lầm hoặc hiểu chưa đúng tầm.

3.3.1. Nền tảng của học vấn

Đúng là với hậu thế một khi đã bị gián cách lịch sử thì thấy đề ra toàn đưa thư tịch cổ để hỏi mà với hầu hết người thời nay chẳng rõ nó là gì trong đó. Nhưng chính đó là thuộc một nền văn hóa, một nền triết học cao diệu của Trung Hoa cổ trung đại từng được coi là một trong ba nền văn minh lớn nhất của nhân loại: Văn minh Hy La, Văn minh Ấn Độ, Văn minh Trung Hoa. Nó đến với nước ta theo hai qui luật chứ không phải một qui luật như trên đã nói để có một nền văn hóa, một nền giáo dục trung đại cho hôm nay con cháu tự hào. Nội dung Đình đối này là thuộc nền văn hóa và triết học cao siêu đó mà đã bị che khuất. Đúng như cố đạo Puginier người tích cực cổ động chính quyền thực dân Pháp thay nhanh chữ viết để có công cụ truyền giáo đã nói: “Thay chữ viết là thay cả một nền văn hóa”. Chuyện cũ là thế: nhưng ngày nay lại có người phương Tây kêu gọi phương Tây hãy tìm về phương Đông cổ trung đại với nền văn hóa - triết học đó vì đó mới là cao siêu huyền diệu.

3.3.2. Tinh thần thân dân của Nho giáo

Sách vở đó đây cũng đã thừa nhận tinh thần thân dân của Nho giáo. Nhưng do thái độ coi thường chê bai Nho giáo nói chung nên mức độ cảm nhận về giá trị của tinh thần thân dân dó chưa đúng tầm của nó. Xin hãy đến với hai hiện tượng này để nghĩ xem tinh thần thân dân của Nho giáo là thế nào?

3.3.3.1. Lời của sách Mạnh Tử: “Dân vi quí xã tắc thứ chi quân vi khinh (Dân là quí nhất, cơ đồ giang sơn là thứ hai, vua là nhẹ).

3.3.3.2. Bốn câu thơ thực luận trong bài thơ Dụ thần liêu mà có người nói là của vua Thành Thái nhưng học giả Hoàng Xuân Hãn lại cho là của vua Minh Mạng: “Nhất bôi mỹ tửu quần sinh huyết/ Bản trản hòa canh bách tính cao/ Thiên lệ lạc thời nhân lệ lạc/ Cao thanh ca xứ khấp thanh cao” (Các ngươi hãy nhớ một chén rượu quí mà các ngươi uống đó là máu của quần sinh đấy/ Nửa bát canh ngon mà các ngươi xơi là mỡ của trăm họ đấy/ Lúc trời tuôn mưa cũng là lúc người tuôn nước mắt/ Nơi kinh đô cất lên tiếng hát cao thanh cũng là nơi cát lên tiếng khóc lớn đấy). Đây là thật hay giả? Chân thật hay mị dân? Thật trăm phần trăm bởi nó là diễn ngôn từ học thuyết đạo đức chính trị xã hội chứ không phải chính trị xã hội đạo đức, của xã hội phong kiến nhưng là phong kiến đức trị như trên đã nói.

Kết luận chung

1. Những gì được trình bày trên đây là kết quả Recherche tìm kiếm của tôi về nền khoa cử Nho học thời trung đại. Tôi tự thấy mình đang làm việc phục hưng dân tộc ở thời đại phong kiến đức trị đã bị thời gian che khuất, đang xóa đi cái mâu thuẫn của tình trạng một mặt thì vẫn tôn kính những danh nhân, bảo toàn những giá trị vốn là thành quả của chế độ đó nhưng trong nhận thức lại chê bai lên án nó do bị chi phối bởi các học thuyết đâu đâu trong tình trạng “dĩ Âu vi trung” (lấy châu Âu làm trung tâm). Trong khi làm việc phục hưng dân tộc tôi vẫn không bao giờ quên rằng thời đại nào thì cũng không thoát được qui luật khắc nghiệt của trần gian là thiện ác tương tranh, có tốt có xấu. Vấn đề là có thời thì cái thiện lấn át cái ác và có thời thì ngược lại, cái ác lấn át cái thiện. Với các học thuyết cũng vậy, dù có cao siêu đến đâu cũng không ôm hết được cuộc sống, bên cạnh cái được dù lớn đến đâu vẫn có hạn chế. Quân tử thì vẫn có chân quân tử và ngụy quân tử. Nho sĩ thì vẫn có chân Nho là học Nho và sống theo Nho, có ngụy Nho là học Nho nhưng sống phi Nho, vẫn có hủ Nho là loại Nho sĩ không theo được Nho: “Nhật nhật tân nhật nhật tân hữu nhật tân” mà bảo thủ lạc hậu trước yêu cầu phát triển của cuộc sống để có thơ Điếu hủ Nho trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

2. Nói về nền khoa cử Nho học của nước nhà, có tôn vinh nó gì gì trên sách báo, trong Hội thảo khoa học thì cũng không bằng cứ đến Văn miếu Quốc Tử Giám rồi tịnh tâm mà nghĩ: sao Tổ tiên xưa đã có được cái nhà Văn miếu Quốc Tử Giám này, không đồ sộ gì lắm, nhưng lại là nơi người Việt Nam đến chiêm bái, đặc biệt là các cháu học sinh trước ngày thi đại học, là nơi khách du lịch của thế giới ngày nào cũng nhiều như thế. Còn nay đã có gì thêm cho ra có để mai sau lại có cảnh tượng như Văn miếu Quốc Tử Giám xưa này nhỉ. Riêng tôi, mỗi lần tới Văn miếu Quốc Tử Giám là mỗi lần đầu óc lâng lâng sung sướng vì được cảm thấy Quốc hoa Quốc hồn Quốc túy của ta đó.

 

Chú thích

  1. Xem Nguyễn Đình Chú: Sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên phương diện văn hóa và tinh thần, truyền thống. Tạp chí Đông Nam Á, Hà Nội số 3 (29) 1993; Giáo trình Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, ĐHQG Hà Nội 1996. Nguyễn Đình Chú: Văn hóa Văn học Giáo dục (Tuyển tập), NXB ĐHQG Hà Nội 2017.
  2. Xem Nguyễn Đình Chú: Cần khẩn trương khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông Việt Nam. Tạp chí Hán Nôm số 2 (69), 2005; Nguyễn Đình Chú: Văn hóa Văn học Giáo dục (Tuyển tập), NXB ĐHQG Hà Nội, 2017.
  3. Xem Nguyễn Đình Chú: Hôm nay với Nho giáo. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Harvard Yenching Hoa Kỳ phối hợp tổ chức tại Hà Nội 2004.Vietstudies THD số ra ngày 14 /7/ 2010; Nguyễn Đình Chú: Văn hóa Văn học Giáo dục (Tuyển tập), NXB ĐHQG Hà Nội, 2017; Nguyễn Đình Chú: Để hiểu đúng giá trị đạo luân thường của Nho giáo - Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế Đạo luân thường của Nho giáo dưới góc nhìn xuyên văn hóa do Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc ĐHQG TP. Hồ Chí Minh tổ chức năm 2013; Nguyễn Đình Chú: Văn hóa Văn học Giáo dục (Tuyển tập), NXB ĐHQG Hà Nội 2017.
  4. Xem Nguyễn Đình Chú: Vị trí của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam (Nhìn về dĩ vãng) - Kỷ yếu về Hội thảo khoa học Phật giáo châu Á tại Quảng Ninh năm 2013; Phật giáo với mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc, NXB ĐHQG TP Hồ Chí Minh 2014; Nguyễn Đình Chú: Văn hóa Văn học Giáo dục (Tuyển tập); NXB ĐHQG Hà Nội 2017.
  5. Lời dịch được trích dẫn là của dịch giả Nguyễn Đức Vân.
Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Một phương diện của tài năng Nguyễn Du (8/5/2020)
Trang phục cô dâu Việt xưa thường có màu gì? (7/5/2020)
Thầy mo - Người là ai? (28/4/2020)
Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa (31/3/2020)
Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera (19/3/2020)
Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới (19/3/2020)
Những vấn đề của xã hội đương đại cần được trả lời (2/3/2020)
Tết cổ truyền người Thái - Nghệ An (25/2/2020)
Những năm Tý vẻ vang trong lịch sử (10/2/2020)
Tuổi Tý với danh nhân Việt Nam (7/2/2020)
Tết Nguyên Đán - Những góc nhìn về văn hóa và con người (21/1/2020)
Trao đổi thêm về một số ký hiệu nghệ thuật trong các tác phẩm viết về Tây Nguyên (6/12/2019)
Điện ảnh tài liệu Việt Nam và những câu chuyện làm phim về Bác Hồ (29/11/2019)
Đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học trong giai đoạn hiện nay (11/10/2019)
Đi tìm không gian mới cho Ví, Giặm (11/10/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 49 | Tất cả: 2,272,545
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp