ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > KHÁM PHÁ XỨ NGHỆ AN
Lịch sử và kiến trúc đền Chín Gian ở Quế Phong
Tin đăng ngày: 25/3/2020 - Xem: 254
 

Hồ Thủy

Upload

1. Lịch sử đền Chín Gian

Đền Chín Gian (Tến Cau Hong) huyện Quế Phong được khởi dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIV gắn với quá trình khai bản lập mường của dòng họ Lo Khăm. Với sự tích gắn với nhân vật Tạo Ló Ỳ người có công xây dựng vùng Quế Phong thành một nơi hưng thịnh và mở rộng ra chín mường như ngày nay.

Truyền thuyết kể lại rằng Ló Ỳ đã có công xây bản lập mường làm cho mường lớn Quỳ Châu trở nên thịnh vượng. Để tạ ơn trời đất, thần thánh đã cho dân chúng làm ăn phát đạt, nên cả 9 mường góp công, của xây dựng đền Chín Gian để thờ Trời (Thẻn Phà). Sau khi đền xây dựng xong, các mường (Poọng) các họ người Thái dắt trâu đến cúng, đến mừng, thành thông lệ, lễ cúng thường tổ chức rất lớn.

Đầu thế kỷ XVIII đền được chuyển về bản Piếng Chào, xã Châu Kim, huyện Quế Phong. Quá trình di chuyển đền Chín Gian gắn với huyền thoại sau: “Một hôm dân làng đang mở hội chín mường, trong khi các Mo thực hiện nghi thức tắm trâu ở bến Tà Khoẳng (một đoạn sông Nậm Giải), bỗng dưng có con rồng đến cuốn (Quái Mè Hảo) con trâu cái trắng của mường Tôn vào trong hang đá. Tạo mường cho rằng đây là điềm xấu, liền cho dân chúng giết trâu để lập đàn tế trời. Cả mường đang làm lễ tế trời, bỗng dưng mây đen kéo đến, sấm chớp mịt mùng. Núi đá có cái hang mà rồng kéo trâu vào nứt ra thành 3 mảnh (hiện nay gọi là con Tạch tà Khoẳng thuộc xã Châu Kim). Ngày hôm sau, từ đâu có một con quạ cổ khoang trắng bay đến đậu trên tảng đá bị sét đánh, sau đó bay lại cắp miếng xương trâu trắng bay lên bầu trời lượn 9 vòng rồi bay thẳng xuống một ngọn đồi có tên Pú Pỏm thuộc bản Piếng Chào thả khúc xương trâu trắng xuống đó. Lấy làm điềm lạ, Tạo mường cho rằng thần linh, Thẻn Phà và Tổ tiên đã đồng ý chuyển đền về khu vực này (nay là xã Châu Kim), lập tức cả mường tập trung dựng đền tại nơi có khúc xương con trâu mà con quạ khoang đã thả”. Từ đó, ngôi đền tồn tại cho đến ngày nay.

Năm 1927, tri phủ Quỳ Châu, Sầm Văn Huyên cho dân các mường khai thác gỗ lim trên rừng đem về tập trung tại bãi sông thuộc bản Piềng Pần, nay thuộc xã Châu Thắng để đẽo gỗ, sau đó vận chuyển bằng đường sông lên bến Tà Tạo để dựng lại ngôi đền hoàn toàn bằng gỗ lim.

Sau năm 1945, chế độ Chầu Hủa bị bãi bỏ, các hoạt động thờ cúng tại đền Chín Gian không được duy trì nữa, đền Chín Gian cũng từ đó bị xuống cấp. Năm 2005 thể theo nguyện vọng của đồng bào các dân tộc Thái trên vùng đất 9 mường, đền Chín Gian và lễ hội được phục hồi nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.

2. Công trình kiến trúc đền Chín Gian

Đền Chín Gian nguyên khởi được làm bằng tranh tre nứa mét, về sau được xây dựng quy mô với kiến trúc nhà sàn đặc thù của đồng bào dân tộc Thái miền Tây xứ Nghệ. Đền Chín Gian tọa lạc trên một ngọn đồi có tên Pú Pỏm có độ cao so với mực nước biển là 186,4m, thuộc bản Kim Khê, xã Châu Kim, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

Dưới chân đồi, cách đền Chín Gian 300m là Bãi tắm trâu, đây là bãi đất phẳng bên bờ sông Nậm Giải được gọi là bến Tà Tạo. Theo phong tục tập quán của người Thái, trước khi rước trâu về tế lễ tại sân đền Chín Gian để thực hiện nghi lễ tâm linh, con trâu được các thầy mo đưa ra bến này để làm lễ tắm cho trâu và lễ phóng sinh, đồng bào Thái gọi nghi lễ nay là lễ “Ton đắm, ton thẻn”.

Cách Bãi tắm trâu khoảng 200m về phía Bắc trên đường rước trâu về đền Chín Gian là Am thổ thần (Pù Xưa). Am thổ thần có diện tích 12m2, kết cấu kiến trúc theo kiểu nhà bát giác được cấu tạo bởi 4 cột tròn lớn có chiều cao 2,8m, đường kính 30cm. Phía trên mái lợp ngói mũi hài, 4 góc mái được đắp hình tượng rồng, phía trước Am có bình phong che chắn.

Qua Am thổ thần là đến Am nghỉ, tiếng Thái gọi là Pắc Phắng. Am nghỉ có kiến trúc giống Am thổ thần nhưng diện tích nhỏ hơn. Phía trong Am nghỉ bài trí một ban thờ xây bằng gạch làm nơi đặt lư hương và lễ vật mỗi khi đền tổ chức Lễ hội.

Từ dưới Am nghỉ du khách phải đi qua 164 bậc đá xanh mới đến được sân đền Chín Gian. Sân đền có diện tích khoảng 200m2, nền láng xi măng, vôi vữa tổng hợp. Giữa sân trang trí hình tượng 9 con trâu làm bằng xi măng, trong đó có 6 con trâu đen và 3 con trâu trắng, mỗi con trâu được đặt trên bệ đá. Phía trước có 9 cái vạc đựng nước. Theo quan niệm của đồng bào Thái ở Quế Phong đây là 9 cái vạc sử dụng để lấy nước mưa luộc trâu tế thần trong dịp mường tổ chức lễ hội, 9 con trâu là vật hiến tế tượng trưng của các mường xưa.

Kiến trúc trung tâm là đền Chín Gian được làm theo kiểu nhà sàn, một đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái. Đây nơi linh thiêng nhất để thờ phụng Thèn Phả, Náng Xỉ Đà và các vị thần có công khai bản lập mường cũng là nơi thực hiện các nghi lễ quan trọng của bản mường trong đó có lễ hội chém trâu.

Đền Chín Gian có diện tích 138,6m2 được làm bằng gỗ kết hợp với vôi vữa, gạch kiên cố gồm 9 gian, kết cấu vì kèo theo kiểu “giao nguyên”, phía dưới mái nhà đền đóng trần gỗ, xung quanh thưng ván gỗ. Phía trước và 2 bên đền trổ các hệ thống cửa, vừa làm lối đi vừa có tác dụng để lấy ánh sáng cho di tích. Nâng đỡ mái là hệ thống cột cái và cột quân kết hợp với các cấu kiện như: xà thượng, xà hạ, kẻ,... Mái đền Chín Gian bao gồm 4 mái xòe rộng sang 4 phía, trên bờ nóc, bờ giải trang trí hình tượng “lưỡng long chầu nguyệt” một sự giao thoa văn hóa giữa miền ngược và miền xuôi. Phía ngoài hành lang của đền trang trí hệ thống lan can gỗ làm theo kiểu chấn song, con tiện tạo thành những hàng “răng bừa” tiếng Thái gọi là “phát ban”. Hai bên hồi nhà sàn có 2 cầu thang lên xuống, chia làm 9 bậc, mỗi bậc có chiều cao 20cm, rộng 3,6m.

Trong đền được chia làm 9 gian tương ứng với nơi thờ tự của 9 mường. Cách bài trí thờ tự được sắp xếp tuân theo một quy ước chặt chẽ của đồng bào dân tộc Thái. Vị trí trang trọng nhất ở gian giữa là nơi thờ tự chính của đền được dành cho mường Tôn (mường Chủ), cũng là nơi thờ Thẻn Phà, Náng Xỉ Đà và Tạo Ló Ỳ. Các gian thờ còn lại là nơi thờ tự của 8 mường anh em: Mường Pắn, Mường Miểng, Mường Ha Quèn, Mường Chón, Mường Puộc, Mường Quáng, Mường Chừn, Mường Chọong. Trên ban thờ các mường đặt các đồ tế khí gắn với phong tục tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Thái như ống tre để đựng nước, bạc nén, vải thổ cẩm, lọng tre,… Ngoài ra còn đặt một số đồ thờ tự thiết yếu khác để phục vụ các nghi lễ tâm linh của đền.

Upload

 

Đoàn rước của Lễ hội đền Chín Gian

3. Các vị thần được thờ tại Đền Chín Gian

* Thẻn Phà (Vua Trời) và Náng Xỉ Đà (con gái trời)

Theo “Tục thờ thần và thần tích Nghệ An” (2000) của PGS. Ninh Viết Giao, Nxb Nghệ An và một số tài liệu dân tộc học cho biết câu chuyện về Thẻn Phà và Náng Xỉ Đà là một câu chuyện có tính chất huyền thoại được các già bản, già mường trao truyền vào tâm thức của người Thái Phủ Quỳ cách ngày nay hàng trăm năm, từ thế hệ này qua thế hệ khác như một “phổ ký truyền ngôn” về cội nguồn của dân tộc mình. Người Thái ở khu vực miền núi Tây - Bắc xứ Nghệ cho rằng: Trời là một thế lực siêu nhiên, trời có thể cho mùa màng tươi tốt, ấm no hạnh phúc, trời cũng có thể tạo ra thiên tai lũ lụt, thiên tai, hỏa hoạn. Vì vậy đối với cư dân lấy nông nghiệp làm căn bản như đồng bào dân tộc Thái thì vấn đề thờ Trời (Thẻn phà) được xem là một lẽ tất nhiên và bổn phận của họ là phải tôn thờ trời, cúng trời để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, tránh được các thiên tai. Vì vậy họ lập đền thờ và tôn Thẻn Phà (Vua trời) là một đấng siêu nhiên tối cao của đồng bào Thái dân tộc Thái miền Tây Bắc xứ Nghệ.

Truyền thuyết cũng nói về nhân vật Náng Xỉ Đà, con gái của Thẻn Phà được vua cha giao nhiệm vụ xuống trần gian thay cha mình cai quản và giúp đỡ nhân dân chín mường. Để nhân thế hóa nhân vật Xỉ Đà, đồng bào Thái đã gắn nàng vào truyền thuyết Thẻn Phà sai Náng Xỉ Đà xuống mường đất làm vợ của Khủn Tinh một vị tù trưởng giỏi giang, khỏe mạnh, thông minh cai quản toàn bộ chín mường ở Quỳ Châu xưa.

 * Tạo Ló Ỳ

Trong kho tàng truyện cổ dân gian của đồng bào Thái vùng đất mường Quỳ Châu xưa còn lưu lại nhiều truyền thuyết về Tạo Ló Ỳ, phổ biến nhất còn truyền cho đến ngày nay về nhân vật Tạo Ló Ỳ như sau: “Xưa kia, Tạo Mường ở Luông Phả Bàng (tức tỉnh Luông Phơ Ra Băng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ngày nay) sinh được 2 người con trai, người anh có tên là Ló Ỳ, người em là Ló Ai. Cả hai anh em đều khôi ngô, tuấn tú và có sức vóc hơn người, Ló Ỳ vừa thông minh vừa đức độ được Tạo mường chọn lựa để sau này kế ngôi. Ló Ai cũng là người khôn ngoan không kém anh trai mình, song lại là kẻ tham lam và đố kỵ. Biết cha có ý định nhường ngôi cho anh, Ló Ai vô cùng bực tức, luôn tìm cơ hội để hãm hại anh trai của mình, sau khi hãm hại anh trai, Ló Ai ném xác xuống sông. Xác Tạo Ló Ỳ cứ trôi theo dòng nước từ Luông Phơ Ra Băng trôi về dòng sông Mã sau đó bị kẹt lại một khúc sông. May mắn đã được một con Quạ vô tình tiếp cho một liều thuốc tiên nên Ló Ỳ được cứu sống.

Sau khi sống lại, Ló Ỳ đi lạc vào một vùng đất lạ xin ăn. Đây là vùng mới, cư dân thưa thớt, chưa có ai cai quản, khiến cho dân tình ở đây luôn loạn lạc bởi nạn cướp bóc. Thấy Ló Ỳ là một người khỏe mạnh, thông minh, tốt bụng, nhanh nhẹn, lại có nguồn gốc xuất thân từ gia đình dòng dõi, thường xuyên giúp dân đánh đuổi thú dữ và quân cướp bóc, bày cho nhân dân trồng trọt chăn nuôi. Đồng bào đã tôn Ló Ỳ làm Tạo thay mặt nhân dân cai quản và khai bản lập mường gọi là mường Quạ Cứu để nhớ ơn bầy quạ đã cứu mình.

Nhưng vì nhớ quê hương, cha mẹ, anh em, Tạo Ló Ỳ đã trao lại quyền cai quản cho một người khác và từ biệt mọi người để trở về quê cũ. Trên đường tìm lại cố hương, Tạo Ló Ỳ đã lạc sang một vùng đất khác thuộc Quế Phong ngày nay. Cũng giống như mường Quạ Cứu, nhân dân ở đây cũng đang còn sơ khai, thưa thớt chưa có mường có bản vì chưa có ai đảm nhiệm vai trò làm Tạo. Tạo Ló Ỳ đã ở lại giúp dân lập bản dựng mường và trở thành vị chúa đầu tiên của 9 mường.

Từ khi có Tạo Ló Ỳ, vùng đất này ngày càng được mở rộng các mường mới cũng từ đó lần lượt ra đời. Mường do Tạo Ló Ỳ trực tiếp cai quản được gọi là mường Tôn (mường gốc) có nghĩa là mường chủ nay thuộc các bản: bản Piếng Chào, bản Đô, bản Giang xã Châu Kim, bản Đỏn Cớn xã Mường Nọc, bản Pỏi, Đỉn Đảnh xã Châu Thôn, Mường Chò Lè thuộc xã Tri Lễ.

Sau khi Tạo Ló Ỳ qua đời, để tỏ lòng biết ơn và kính trọng vị Tạo mường đã có công lập ra chín bản, mười mường, đồng bào Thái ở đây đã tôn ông thành một vị thần và đem vào phối thờ trong đền Chín Gian cùng với Thèn Phả và Náng Xỉ Đà.

* Cắm Lự - Cắm Lạn

Gia phả họ Cầm Cần cho biết người Tạo mường đầu tiên đến mường Nọc là cha con Cắm Lự và Cắm Lạn, 2 cha con mỗi người hùng cứ một vùng rộng lớn được đồng bào gọi là Vua áo đỏ. Cắm Lự lập nghiệp ở mường Chiêng Ngám thuộc vùng Châu Tiến và Châu Bính, Quỳ Châu ngày nay nhưng do hỏa hoạn, mường của Cắm Lự bị cháy thành tro phải chuyển về mường Tôn ở Quế Phong. Cắm Lạn sinh được 4 con trai là Cắm Cần, Cắm Cật, Cắm Pinh và Cắm Pính và 2 người con gái. Trong số các người con trai của Cắm Lạn chỉ duy nhất Cắm Cần là có con trai nối dõi là Cắm Hiền, khi lớn lên Cắm Hiền muốn lấy con của em gái cha mình ở mường Puộc là nàng Òn La nhưng không thành, sau đó Cắm Hiền lấy một người con gái dân tộc Kinh, một gia đình khá giàu có đang cai quản vùng đất thuộc Nghĩa Đàn ngày nay. Từ khi về nhà ở nhà chồng, cô gái luôn che kín mặt không tiếp xúc với người ngoài và không cho ai nhìn thấy mặt con trai của mình là Tạo Xây kể cả ông nội là Cắm Cần. Vì muốn nhìn thấy mặt cháu trai của mình, Cắm Cần đã bày kế để được vào buồng nhìn mặt cháu. Nhưng vợ của Cắm Hiền cho rằng bố chồng mình có ý đồ không tốt, liền bỏ nhà về quê ngoại và kể lại sự tình cho cha ruột của mình là một tù trưởng nổi tiếng ở Nghĩa Đàn. Cha ruột của vợ Cắm Hiện liền cho quân lính lên mường Tôn đánh nhau với Cắm Cần. Cắm Cần thua trận phải đem cháu nội của mình là Tạo Xây chạy vào khu rừng có tên là Hoọng Chờ Cờ để trốn sự truy đuổi. Khi mâu thuẫn giữa 2 nhà được giải quyết, Cắm Hiền lên Hoọng Chờ Cờ đón cha và con trai mình về nhưng trên đường về đến Pù Vai Nhàng ở bản Khoẳng thì Cắm Cần qua đời.

Sau khi Cắm Cần qua đời, để tưởng nhớ công lao của dòng họ Cắm đặc biệt là Cắm Lự, Cắm Lạn và Cắm Cần có công trong việc khai bản lập mường nên bà con người Thái ở đây vào phối thờ trong đền Chín Gian.

Upload

Lễ cúng tại đền Chín Gian

Cho đến ngày nay, đền Chín Gian vẫn được xem là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh, nơi bảo lưu và phát triển văn hóa đặc thù của dân tộc Thái vùng Tây Bắc Nghệ An. Gắn với đó là Lễ hội đền Chín Gian, là Lễ hội có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn nhất, có quy mô liên vùng khắp cả vùng Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Con Cuông, Tương Dương và sang vùng Sầm Tớ (Lào) với nhiều sinh hoạt văn hóa đặc sắc. Đối với người Thái ở Quế Phong nói riêng, ở Phủ Quỳ xưa nói chung, Đền và Lễ hội đền Chín Gian là cội nguồn của người Thái, mỗi khi có Lễ hội, bà con dân tộc Thái các vùng nói trên đều hành hương về đền Chín Gian.

Đất và người xứ Nghệ khác:
CEO Nghiêm Tiễn Viễn - chàng trai đam mê công nghệ với Giải Đặc biệt Sáng tạo KH&CN Nghệ An 2020 (27/9/2020)
Đồng chí Trịnh Thuyết - chiến sỹ cộng sản Xô Viết kiên cường, người con ưu tú của quê hương Thanh Chương (11/9/2020)
Lễ hội đón tiếng sấm của dân tộc Ơ Đu (24/8/2020)
Tục làm vía - Tín ngưỡng đặc sắc người Thái (5/8/2020)
Kỷ niệm 90 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh: Đồng chí Trần Thị Liên - Nữ chiến sĩ Xô Viết dũng cảm, kiên cường (31/7/2020)
Cương Quốc công Nguyễn Xí với vùng đất Cửa Lò thời Lê sơ (29/7/2020)
Đồng chí Nguyễn Duy Trinh - Tấm gương người cộng sản kiên trung, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc (29/7/2020)
Đồng chí Trần Thị Liên - Nữ chiến sĩ Xô Viết dũng cảm, kiên cường (22/7/2020)
Làng Phúc Thọ quê hương tôi (8/7/2020)
Đồng chí Lê Mao (1903 - 1931) - Người cộng sản kiên trung, niềm tự hào của nhân dân Nghệ An (8/7/2020)
Nghệ An trấn trong Hoàng Việt địa dư chí (6/7/2020)
Nguyễn Khắc Viện - Một nhà báo lớn của thời đại (6/7/2020)
Văn cúng thiên đài của người xưa (23/6/2020)
Di tích lịch sử quốc gia Đền thờ và Mộ Phùng Phúc Kiều, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò (23/6/2020)
Đồng chí Lưu Quốc Long được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đào tạo tại Quảng Châu - Trung Quốc (18/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 935 | Tất cả: 2,471,997
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp