ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Cuộc đời và sự nghiệp của Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế
Tin đăng ngày: 19/3/2020 - Xem: 454
 

Lê Thùy Linh

Viện Sử học

  1. Gia tộc hiển vinh

Dòng họ Nguyễn Cảnh ở vùng đất Hoan Châu xưa, Nghệ An ngày nay không chỉ được biết đến là dòng họ hiển vinh, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của lịch sử dân tộc mà còn lưu truyền sử sách bởi truyền thống tốt đẹp của dòng họ. Điều đó được thể hiện rõ nét trong “Hoan Châu ký” - một cuốn tộc phả quý, nổi tiếng của dòng họ Nguyễn Cảnh, đồng thời được nhận định là “cuốn tiểu thuyết chương hồi thuộc loại cổ nhất nước ta”[1]. Xuất hiện trước “Hoàng Lê nhất thống chí” 100 năm - một tác phẩm vốn được coi là đỉnh cao của thể loại tiểu thuyết chương hồi trong văn học Việt Nam trung đại, “Hoan Châu ký” viết tường tận về 8 đời của dòng họ Nguyễn Cảnh từ khi xuất hiện vào năm Bính Tuất (1406) đến năm Mậu Ngọ (1678).

Dòng họ Nguyễn Cảnh, tính từ thủy tổ Nguyễn Cảnh Lữ đến hậu duệ Nguyễn Cảnh Hải là 19 đời. Nguyễn Cảnh Quế là đời thứ 8, được sinh ra trong dòng họ hiển phát với những tên tuổi cha ông đóng góp nhiều công trạng cho sự phát triển của nước nhà, được lưu danh sử sách. Tính đến thời Lê trung hưng, dòng họ Nguyễn Cảnh đã có 18 quận công, 76 hầu tước, 16 bá tước, 5 tử tước, 3 nam tước, 3 tiến sĩ và nhiều cử nhân, tú tài[2]. Tỵ tổ Nguyễn Cảnh Lữ người xã Thiên Lý, Đông Triều, Hải Dương, vì loạn lạc nên ngụ cư ở thôn Ngọc Sơn, Nam Đàn, Nghệ An làm nghề chèo đò. Các đời kế tiếp là Nguyễn Cảnh Luật, Nguyễn Cảnh Cảnh đều theo nghề làm thuốc cứu người. Tổ đời thứ tư là Nguyễn Cảnh Huy, tổ đời thứ năm là Nguyễn Cảnh Hoan đều là những người mưu lược, có lòng yêu nước, thương dân. Nhân lúc “phúc nhà Lê đã dời đổi, triều Mạc tiếm quyền, lòng người dao động dẫn đến loạn lạc”, trộm cướp nổi lên khiến bốn phương nhiễu loạn, những tên cướp như Mỹ Tích, Thằng Bật ở xã Đông Liệt, Nha Bạt, Hạc Lâm ở xã Đồng Luân, Bá Cao ở xã Đại Đồng “tụ tập nhau lại bàn mưu tính kế, quấy rối khắp vùng”. Bất bình trước những hành động quấy nhiễu đời sống yên bình của nhân dân, cha con Nguyễn Cảnh Huy tuyển vài trăm tráng đinh, trang bị vũ khí, lập đồn sở quyết tâm chống lại[3]. Sau khi dẹp yên được giặc cướp ở Hoa Lâm, Đông Liệt, Đại Đồng, Nguyễn Cảnh Huy còn tìm nơi đất tốt, lập đồn điền canh tác, tích trữ lương thực[4] nhằm ổn định đời sống cho binh lính và nhân dân. Khi được triều đình Lê - Trịnh trọng dụng, hai cha con cùng nắm binh quyền và được phong tước hầu (Nguyễn Cảnh Huy tước Bình Dương hầu, Nguyễn Cảnh Hoan tước Dương Đường hầu). Khi Nguyễn Cảnh Huy mất được gia phong là Dương Vũ dực vận tán trị công thần, Đô tổng binh sứ ty Tổng binh sứ thiêm sự, quản Tri binh dân sự Bình Dương hầu, tặng Phúc Khánh quận công[5]. Với những công trạng lớn của mình, Nguyễn Cảnh Hoan được hậu thế tưởng nhớ, nhà Nguyễn phong ông là “Tuấn mại cương trung hưng, Lê Trung hưng công thần Thái phó Tấn Quận công thượng đẳng thần”.

Nguyễn Cảnh Quế là cháu nội của Thái bảo Thư Quận công Nguyễn Cảnh Kiên. Cha là Thiếu phó Thắng Quận công Nguyễn Cảnh Hà. Khi Thiếu phó Thắng Quận công mất năm Mậu Thìn (1628), Văn Tổ Nghị Vương[6] vô cùng thương tiếc, bãi triều 3 ngày để tang, ban cho 3.000 quan tiền, sai thủy quân 15 chiếc thuyền đưa về bản quán chôn cất. Nghị Vương triệu Lộc Nghĩa hầu Nguyễn Cảnh Quế vào phủ đường nói rằng: “Nhà ngươi bốn đời giúp nước rất trung nghĩa, bên trong giúp đỡ bên ngoài chống địch công lao ấy thật không nhỏ. Cha ngươi đã già vào nội các chưa được bao lâu mà đã mất, ta rất thương tiếc. Nay đem sở nguyện thu thuế cuối vụ của các xã Nam Đàn, Chân Phúc, Thanh Miện, Phù Dung chia đều cho các con cùng nhận ân huệ”[7]. Ông nội và cha Nguyễn Cảnh Quế đều là những công thần của triều đình Lê - Trịnh, góp công lớn trong việc dẹp yên nhà Mạc, giữ vững vương triều. Do đó, Nguyễn Cảnh Quế được thừa hưởng truyền thống văn võ của gia đình, dòng tộc.

Nguyễn Cảnh Quế sinh năm Ất Tỵ (1605), là con trai thứ hai của Thiếu phó phò mã Thắng Quận công Nguyễn Cảnh Hà và mẹ là con gái của Tư mã Quận công Phạm Trà ở xã Đa Lộc, huyện Yên Định[8]. Tài liệu gia phả họ Nguyễn Cảnh biên soạn tháng 2 năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức 1 (1672) có xác nhận dịch thuật của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I ghi ông sinh năm Ất Mão, có mẹ là con gái trưởng của Tả Tư mã Sái Quận công. Trong gia phả biên soạn ngày 8 tháng 4 năm Gia Long 8 (1809) ghi “mẹ là người xã Đa Lộc, huyện An Định. Là con trai trưởng của Tả Tư mã Thắng Quận công, sinh năm Ất Hợi”.

  1. Sự nghiệp hiển hách

Gia phả chép: Liêu Quận công “thiên tư kỳ lạ, nhân phẩm thanh cao, hiếu học thông suốt kinh sử, sức lực hơn người, đặc biệt rất giỏi cưỡi ngựa bắn tên, làm con của cửa tướng có tài cơ biến. Thuở nhỏ theo cha đi chinh phạt đã có chí diệt giặc”[9]; “tư chất thông minh, học rộng tài cao, ngài đã theo cha đánh giặc, lập nhiều chiến công hiển hách”[10].

Năm Bính Dần, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 8 (1626), phụng mệnh Nguyên soái Thống quốc chính Thanh Đô Vương[11], Nguyễn Cảnh Quế cùng cha là Thái phó Thắng Quận công tiên phong lên Cao Bằng diệt trừ dư đảng quân Mạc ở Nam Hồng. Theo gia phả dòng họ ghi chép về việc hai cha con Nguyễn Cảnh Quế dùng kế hỏa công hiệu quả, tiến sâu vào nơi đóng quân của họ Mạc, bắt được mấy trăm tên đồ đảng, cắt tai trái của giặc của giặc khiến “không ai không khỏi kinh ngạc, vì có cha ấy mà có con ấy không làm nhục danh tiếng hổ con vậy”. Khẳng định công lao của hai cha con, triều đình thăng cho Nguyễn Cảnh Hà chức Tả Đô đốc, Nguyễn Cảnh Quế được phong làm Thự vệ sự, Quý Nghĩa hầu cùng kim bài, bạc và cẩm bào thêu hoa rực rỡ[12].

Vạn Quận công Trịnh Xuân tranh giành ngôi chúa với anh là Thanh Đô Vương Trịnh Tráng nên tạo loạn, đốt cháy kinh thành khiến nhân dân hoảng loạn, cha là Bình An Vương Trịnh Tùng phải dời ra ngoài. “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi rõ: Ngày 18 tháng 6 năm Quý Hợi, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 5 (1623), “Trịnh Xuân tự đem quân lính, voi ngựa, súng đạn bản bộ dàn bày ở xứ Đình Ngang, sai bọn Điện Quận công, Bàn Quận công đem quân phá vào Nội phủ, cướp đoạt voi ngựa, vàng bạc, của cải, bức Vương dời ra ngoài thành, rồi phóng lửa đốt cháy tràn lan các xứ trong Kinh kỳ”[13]. Nguyễn Cảnh Quế đem 500 quân bộ binh, 7 thớt voi chiến, đến xứ Đống Tu hộ giá Thanh Đô Vương tiễu trừ quân làm loạn. Nhà chúa vui mừng triệu cha của Nguyễn Cảnh Quế vào chầu và nói: “con của Thiếu bảo thật là có tài hơn người để có thể làm rể của nước”. Chúa Trịnh Tráng gả quận chúa Trịnh Thị Ngọc Loan cho Nguyễn Cảnh Quế và phong ông là Phò mã Đô úy, Phó tướng Thự vệ sự, tước Liêu Quận công[14]

Về sự kiện Vạn Quận công Trịnh Xuân tạo loạn, một số tài liệu gia phả của dòng họ ghi việc Nguyễn Cảnh Quế bắt sống được Vạn Quận công giải về triều đình chịu tội[15] là chi tiết cần thiết phải đính chính. “Đại Việt sử ký toàn thư” không có thông tin này. Theo “Hoan Châu ký”, Bình An Vương viết thư chiêu dụ, gửi đến đồn sở của Vạn Quận công. Những lời lẽ trong thư của Bình An Vương Trịnh Tráng khiến Vạn Quận công gào khóc vì ân hận, ngậm cỏ, tự đến phủ phục dưới sân để xin nhận tội[16].

Thế kỷ XVII, Hoan Châu còn là vùng đất hiểm yếu, cách trở với triều đình trung ương nhưng lại chiếm giữ vị trí chiến lược quan trọng. Đây cũng là vùng giáp giới với khu vực cai quản của họ Nguyễn ở Đàng Trong, là nơi ảnh hưởng trực tiếp bởi các cuộc nội chiến giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong trong suốt hơn 1 thế kỷ. Do đó, cai quản được vùng đất này là việc khó khăn, người được giao trọng trách phải do triều đình trung ương chọn lựa cẩn trọng, không chỉ có tài thao lược mà còn phải biết thu phục nhân tâm và đặc biệt là lòng trung thành với triều đình trung ương.

Bấy giờ ở đất Hoan Châu nổi lên nạn trộm cướp do Hiền Tuấn[17] cầm đầu, chiếm lấy một vùng, thường xuyên quấy nhiễu, cướp phá nhân dân, cự tuyệt mệnh lệnh đầu hàng triều đình. Khi bàn bạc cùng triều thần để tìm người mưu lược trấn thủ Hoan Châu, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng khẳng định: “Như thế thì Liêu quận có thể đảm đương được”. Liêu Quận công được triều đình tin tưởng, giao trọng trách trấn thủ vùng đất hiểm yếu này. Nguyễn Cảnh Quế đem quân đóng tổng hành dinh ở xứ Vĩnh Doanh, xã An Trường, huyện Chân Lộc[18]. Ông điều động quân đắp lũy đào hào, đắp đường sá, thiết đặt quân lính tuần tra từ hang núi đến cửa biển, nơi nơi nghiêm ngặt, sau hơn 2 năm vừa kêu gọi giặc đầu hàng, vừa dùng kế hỏa công tiến đánh, bắt sống được Hiền Tuấn giải về kinh đô, đem lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân[19]. Thanh Đô Vương cho là tướng mưu trí nên cấp thưởng cho binh dân.

Là người dũng lược, trấn giữ ở vùng đất trọng yếu Hoan Châu - vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng đối với cuộc chiến tranh với chúa Nguyễn, Nguyễn Cảnh Quế từng nhiều lần tham gia vào cuộc tiến đánh quân Đàng Trong của chính quyền Lê - Trịnh. Tài liệu gia phả ghi tháng 9 năm Nhâm Tý, Nguyễn Cảnh Quế theo thánh giá đề binh đến sông Tranh, phụng mệnh lĩnh 20 thuộc tướng, 200 chiếc thuyền vượt qua Sài Môn và địa giới Minh Linh. Tuy nhiên, do gió to sóng lớn, mưa liên tiếp nên Thánh chúa lại triệu trở về. Năm Nhâm Tý là năm 1612 hoặc năm 1672. Tuy nhiên, cả hai mốc thời gian trên đều không phù hợp: năm 1612, Nguyễn Cảnh Quế mới lên 7 tuổi, chiến tranh Trịnh - Nguyễn chưa diễn ra. Ông qua đời năm 1658, trước khi cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn chấm dứt vào năm 1672. Do đó, theo suy luận của tác giả, Nguyễn Cảnh Quế phụng mệnh triều đình, đem quân đánh lại họ Nguyễn vào năm Bính Tý (1636) có lẽ hợp lý hơn cả vì cuộc giao tranh lần thứ hai giữa nhà Lê - Trịnh với chúa Nguyễn bắt đầu từ năm 1633, đến thời điểm những năm 40 của thế kỷ XVII vẫn đang tiếp diễn. Đồng thời, mốc thời gian Bính Tý (1636) cũng phù hợp hơn với chi tiết được ghi trong gia phả về công trạng của Nguyễn Cảnh Quế: 13 năm sau (tức năm 1649 - TG), “lại phụng mệnh Thánh giá nam chinh, dẫn 8.000 quân đến sông Sài, bắn được 7 chiếc thuyền, bắt sống trên 3.000 tên”. Thời điểm này, cuộc giao tranh lần thứ tư giữa Đàng Ngoài - Đàng Trong vừa mới bắt đầu được 1 năm. Nhận xét về tài năng, đức độ của Nguyễn Cảnh Quế, Trấn Chưởng khẳng định: “Liêu Quận đang là đại tướng dòng dõi siêu quần”, trọng thưởng 4 miếng kim bài, 5 hốt vàng, 130 hốt bạc, 1 cái áo lụa hồng, cấp thêm binh dân y như tổ phụ ngày khải hoàn, đồng thời được chọn thêm ở hai huyện Nam Đường, Chân Phúc 4.000 tinh binh và thăng cho Liêu quận làm Tả Hành cơ kiêm trấn xứ Nghệ An, Phó tướng, Phò mã, Đô đốc. Khi về đến thôn Ngọc Sơn, xã Hoa Lâm, huyện Nam Đường để đón sắc phong, ông ốm nặng. Chúa nghe tin liền sai Y viện Nhũ quận mang đến 2 bao thuốc bắc cùng 50 cân bạc để “vỗ về, nói lời thống thiết”[20]. Sau hơn 2 năm, bệnh tình của ông mới thuyên giảm, sau 5 năm mới khỏi bệnh hoàn toàn, liền làm lễ vật tế chay cúng tạ gia tiên cùng thần phật sông núi. Năm Bính Thân (1656)[21], ông chuẩn bị bộ thuộc tiến về kinh bái tạ thánh chúa, được ban thưởng 10 dật bạc. Chúa Trịnh dặn dò ông: “Bệnh nặng đã khỏi thì nên giữ gìn không được coi nhẹ, không phải hầu ở triều để về sau nước có việc sẽ dùng”, đồng thời Chúa hỏi rõ về các con trai con gái. Rõ ràng, sự lưu tâm của Chúa đối với sức khỏe, sinh mệnh của ông không chỉ vì mối ân tình của chúa đối với bề tôi mà hơn hết vì sinh mệnh ông gắn với những việc trọng đại của quốc gia đại sự và Chúa ý thức rất rõ điều này.

Từ khi nhận nhiệm vụ trấn thủ Hoan Châu (năm 1630) đến khi qua đời năm Mậu Tuất (1658), Nguyễn Cảnh Quế thống lĩnh lục quân và thủy quân đóng sát bờ biển từ Thanh Hóa đến Đèo Ngang. Bốn trong số 5 người con trai của ông là Tín Quận công Nguyễn Cảnh Hiệu, Yên Thọ hầu Nguyễn Cảnh Đường, Vĩnh Thọ Hầu Nguyễn Cảnh Thung, Thọ Tường hầu Nguyễn Cảnh Nông[22] chia quân đóng dọc bờ biển Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Nghi Xuân, tạo cơ nghiệp cho con cháu họ Nguyễn Cảnh ở vùng đất này.

Năm Đinh Dậu niên hiệu Thịnh Đức 5 (1657), thời vua Lê Thần Tông, bọn phản nghịch làm loạn, Nguyễn Cảnh Quế lập nhiều công trạng trong việc trấn áp, đem lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân nên được gia phong 3 lần, làm Đô đốc Đồng tri, Liêu Quận công, con trai làm Đề đốc Tín Quận công, Thự vệ sự An Quốc hầu.

Trong khoảng thời gian năm Đinh Dậu và Mậu Tuất (1657 - 1658)[23], Nguyễn Cảnh Quế phụng mệnh triều đình cùng các cơ đồn trấn các doanh trực chiến ở Quảng Bình thẳng đến dinh lớn ở Vũ Xá. Để tiện thánh giá khiển quân, cùng các tướng đạo ở Nghệ An là Thiếu bảo Tào Quận công làm cầu phao ở sông Sài, sông Tranh, Đô đốc Liêu Quận công đào cảng Lạc Châu, cảng Thiết Kinh, không kể ngày đêm phải làm xong. Công việc nặng nề, dồn gấp, bệnh cũ của Liêu Quận công Nguyễn Cảnh Quế nhân đó mà tái phát vào cuối năm Đinh Dậu (1657). Ông dặn dò những thuộc hạ: “Muốn hiếu với người thân thì trước phải trung với vua, nhà ta làm tướng đã được sáu, bảy đời, công lao trùm bốn phương, danh tiếng trên thiên hạ, thóc lúa của cải đầy kho, xe ngựa đầy sân, người giàu có ở Hoan Châu cũng khó bằng được. Các ngươi không thể tránh đi, trong lúc hiểm nguy có dễ dùng việc, nên nối tiếp chí của Tổ phụ để báo đáp lộc vua”[24]. Tài liệu gia phả khác chép thêm: Nhà vua cử nhiều danh y đem thuốc quý vào cứu chữa. Tuy nhiên, lúc này trong gia đình ông, con cái kém phần đoàn kết, không nối được chí hướng của ông cha, không giữ được nền nếp giáo huấn của con nhà tướng. Vì lẽ đó, tâm ông càng thêm ưu phiền, bệnh thêm nặng. Ngày 18 tháng Giêng năm Mậu Tuất, ông tạ thế tại Hoan Châu, hưởng thọ 53 tuổi[25].

Văn Tổ Nghị Vương nghe tin đau buồn, thương tiếc vô cùng, ban cho 1.000 quan tiền cùng 100 xấp lụa trắng.

Phần mộ của ông táng tại Cồn Nương, xã Thượng Xá, huyện Chân Lộc - Nghi Khánh, thị xã Cửa Lò.

6 năm sau khi Liêu Quận công Nguyễn Cảnh Quế mất, năm Giáp Thìn (1664), triều đình quyết định đền thờ Tràng Sơn (Đô Lương) là di tích thờ 4 vị Nguyễn Cảnh Hoan, Nguyễn Cảnh Kiên, Nguyễn Cảnh Hà, Nguyễn Cảnh Quế và cứ 10 năm, nhằm năm Giáp[26] thì tổ chức đại lễ là “Thập niên sự lệ” vào ngày 15 tháng 3 âm lịch.

Tài liệu ghi chép về số người con của Nguyễn Cảnh Quế khác bất nhất, chỉ thống nhất là ông có 2 người con gái. Số con trai, có tài liệu ghi là 4 người, tài liệu ghi 5 người. Tuy nhiên, các tài liệu khá thống nhất về tước hiệu của những người con trai này, đồng thời khẳng định những đóng góp của họ đã phần nào nối tiếp được sự nghiệp của người cha Nguyễn Cảnh Quế để lại.

Ghi nhận công lao của Nguyễn Cảnh Quế, các đời vua Nguyễn nhiều lần sắc phong cho ông và những công thần dòng họ Nguyễn Cảnh. Ngày 01 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), sắc vua ban cho Phó tướng tả Đô đốc Liêu Quận công: “Sắc Nghệ An tỉnh, Anh Sơn phủ, Đô Lương xã, Tràng Thịnh thôn, phụng sự: Phó tướng Tả đô đốc Liêu Quận công chi thần, nẫm trứ linh ứng, hướng lai vị hữu dự phong, tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, trứ phong vi Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, chuẩn hứa nhưng cựu phụng sự, thần kỳ tương hựu, bảo ngã lê dân”.

Dịch nghĩa:

“Sắc ban cho thôn Tràng Thịnh, xã Đô Lương, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xưa nay thờ phụng vị thần Phó tướng tả đô đốc Liêu Quận công chi thần là vị thần giúp nước cứu dân, vô cùng linh ứng, xưa nay chưa được dự phong. Nay nhân dịp Ta lên gánh vác mệnh lớn, truyền phong tặng là Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, chuẩn cho được thờ phụng như cũ. Thần hãy bảo vệ cho chở cho dân ta”.

Đến năm Thành Thái thứ 2 (1890), Duy Tân thứ 3 (1909), Thành Thái thứ 16 (1904)”, Khải Định thứ 9 (1924), nhà Nguyễn đều có sắc phong khẳng định Nguyễn Cảnh Quế là Thượng đẳng thần, được phong là Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, chuẩn cho thôn Tràng Thịnh được thờ phụng như cũ. Riêng sắc ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909) phong cho 4 người thuộc dòng họ Nguyễn Cảnh, trong đó có sắc cho Liêu Quận công:

“Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Lương Sơn huyện, Đô Lương xã, Tràng Thịnh thôn tòng triều phụng sự:

  • Tuấn mại cương trung hưng, Lê trung hưng công thần Thái phó Tấn Quận công thượng đẳng thần.
  • Trác vĩ dực bảo trung hưng dực vận tán trị công thần Thái bảo Tả Tư không Thư Quận công thượng đẳng thần.
  • Trác vĩ dực bảo trung hưng dực vận tán trị công thần Thiếu bảo phó tả tư mã Thắng Quận công thượng đẳng thần.
  • Trác vĩ dực bảo trung hưng dực vận tán trị công thần phó tướng Liêu Quận công thượng đẳng thần”[27].

Sắc năm Khải Định thứ 9 (1924) khẳng định: “Trác vĩ dực bảo trung hưng Lê triều công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân trung quân phủ Tả đô đốc Phó tướng Liêu Quận công thượng đẳng thần”. Thần là vị thần linh thiêng vời vợi, giúp nước cứu dân, đã được các triều đại vua chúa ban cấp sắc phong cho thờ phụng... Đặc chuẩn cho được thờ phụng như cũ, để ghi nhớ ngày lễ quốc khánh và làm rõ khuôn phép thờ tự quốc gia.

Những sắc phong của nhà Nguyễn đối với Nguyễn Cảnh Quế nói riêng, với những công thần dòng họ Nguyễn Cảnh nói chung càng khẳng định thêm vai trò của dòng họ Nguyễn Cảnh đối với đất nước. Khi viết về gia phả 8 đời dòng họ Nguyễn Cảnh, tác giả của “Hoan Châu ký” hoàn toàn có lý khi gọi đó là “tám đời nhân nghĩa”. Những người con tiêu biểu của dòng tộc là Nguyễn Cảnh Hoan, Nguyễn Cảnh Kiên, Nguyễn Cảnh Hà, Nguyễn Cảnh Quế được gọi là “bốn lớp trung cần”. Nội dung của “Hoan Châu ký” đã dành dung lượng lớn viết về những chiến công hiển hách, tinh thần dũng cảm, thao lược, ca ngợi lòng yêu nước thương dân của “8 đời nhân nghĩa” của dòng tộc, trong đó có sự đóng góp quan trọng của Liêu Quận công Nguyễn Cảnh Quế - người đã phát huy được những giá trị quý báu của dòng họ và làm dày thêm thêm truyền thống gia tộc xứng với 4 chữ vua Lê phong tặng “Bảo Quốc Hộ Dân”. Ngay nay, dòng họ Nguyễn Cảnh phát triển, con cháu ở khắp miền đất nước nhưng dù đi đâu, ở đâu vẫn luôn lấy 8 chữ “Nhân Nghĩa, Trung Cần, Bảo Quốc, Hộ Dân” làm phương châm giáo dục truyền thống cho con cháu dòng họ.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.
  2. Gia phả họ Nguyễn Cảnh biên soạn tháng 2 năm Nhâm Tý niên hiệu Dương Đức 1 (1672), xác nhận dịch thuật của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.
  3. Gia phổ họ Nguyễn Cảnh (1406 - 2013): tiểu chi Mỵ Xuân, đại chi Xuân Thành, Yên Thành, Nghệ An.
  4. Trần Nghĩa, Lời giới thiệu Thiên Nam liệt truyện Hoan Châu ký, in trong Nguyễn Cảnh thị, Thiên Nam liệt truyện Hoan Châu ký, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2014.
  5. Nguyễn Cảnh thị, Hoan Châu ký, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2014.
  6. Sắc phong của nhà vua ban cho các vị tổ dòng họ Nguyễn Cảnh. Nhóm biên dịch: ThS. Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo.
  7. Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Nghệ An, Lý lịch di tích đền thờ Nguyễn Cảnh Hoàn (xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An), năm 1991.
  8. Tài liệu gia phả dòng họ Nguyễn Cảnh được biên soạn ngày 8 tháng 4 năm Gia Long 8 (1809).

 

 

 

Chú thích:

(1). Trần Nghĩa, Lời giới thiệu Thiên Nam liệt truyện Hoan Châu ký, in trong Nguyễn Cảnh thị, Thiên Nam liệt truyện Hoan Châu ký, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2014.

(2) Theo Gia phổ họ Nguyễn Cảnh (1406 - 2013): tiểu chi Mỵ Xuân, đại chi Xuân Thành, Yên Thành, Nghệ An.

(3) Nguyễn Cảnh thị, Hoan Châu ký, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2014, tr.67-68.

(4) Nguyễn Cảnh thị, Hoan Châu ký, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2014, tr.71.

(5) Nguyễn Cảnh thị, Hoan Châu ký, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2014, tr.74 - 75.

(6) Văn Tổ Nghị Vương: Thái phó Thanh Quận công Trịnh Tráng.

(7) Gia phả họ Nguyễn Cảnh biên soạn tháng 2 năm Nhâm Tý niên hiệu Dương Đức 1 (1672), xác nhận dịch thuật của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

(8) Gia phổ họ Nguyễn Cảnh (1406 - 2013): tiểu chi Mỵ Xuân, đại chi Xuân Thành, Yên Thành, Nghệ An.

(9) Tài liệu gia phả họ Nguyễn Cảnh biên soạn tháng 2 năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức 1 (1672), xác nhận dịch thuật của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

(10) Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Nghệ An, Lý lịch di tích đền thờ Nguyễn Cảnh Hoàn (xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An), năm 1991.

(11) Thanh Đô Vương: Trịnh Tráng (1623 - 1657).

(12) Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Nghệ An, Lý lịch di tích đền thờ Nguyễn Cảnh Hoàn (xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An), năm 1991 ghi: ông được phong tước “Lộc Nghĩa hầu”.

(13) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.223; Nguyễn Cảnh thị, Hoan Châu ký, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2004, tr.259-260.

(14) Tài liệu gia phả họ Nguyễn Cảnh biên soạn tháng 2 năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức 1 (1672), xác nhận dịch thuật của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

(15) Gia phổ họ Nguyễn Cảnh (1406 - 2013): tiểu chi Mỵ Xuân, đại chi Xuân Thành, Yên Thành, Nghệ An.

(16) Nguyễn Cảnh thị, Hoan Châu ký, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2004, tr.262-263.

(17) Gia phổ họ Nguyễn Cảnh (1406 - 2013): tiểu chi Mỵ Xuân, đại chi Xuân Thành, Yên Thành, Nghệ An chép là “Hiền Thuấn”.

(18) Tài liệu gia phả họ Nguyễn Cảnh biên soạn tháng 2 năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức 1 (1672), xác nhận dịch thuật của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

(19) Gia phổ họ Nguyễn Cảnh (1406 - 2013): tiểu chi Mỵ Xuân, đại chi Xuân Thành, Yên Thành, Nghệ An.

(20) Tài liệu gia phả họ Nguyễn Cảnh biên soạn tháng 2 năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức 1 (1672), xác nhận dịch thuật của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

(21) Tài liệu gia phả của dòng họ Nguyễn Cảnh chép là năm Bính Tuất. Bính Tuất là năm 1646 hoặc năm 1706. Cả hai mốc thời gian trên đều không phù hợp. Ông mất năm Mậu Tuất (1658), trước khi mất, ông có 7 năm chữa bệnh đến khi phục hồi. Do đó, mốc thời gian ông đã khỏi bệnh, có thể tiến về kinh bái tạ thánh chúa không thể là năm Bính Tuất (1646) mà nhiều khả năng là năm Bính Thân (1656). 

(22) Tài liệu gia phả khác của họ Nguyễn Cảnh được biên soạn ngày 8 tháng 4 năm Gia Long 8 (1809) ghi: ông sinh được 4 người con trai, 1 người con gái.

(23) Tài liệu gia phả họ Nguyễn Cảnh chép là “năm Canh Tý, niên hiệu Vĩnh Thọ 3” là không đúng. Năm Canh Tý, niên hiệu Vĩnh Thọ 3 là năm 1660, thời điểm này, Nguyễn Cảnh Quế đã mất 2 năm.

(24) Tài liệu gia phả họ Nguyễn Cảnh biên soạn tháng 2 năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức 1 (1672), xác nhận dịch thuật của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

(25) Gia phổ họ Nguyễn Cảnh (1406 - 2013): tiểu chi Mỵ Xuân, đại chi Xuân Thành, Yên Thành, Nghệ An.

(26) Năm Giáp: năm có can Giáp, là năm có số cuối là 4, ví dụ: năm 2004, 2014,…

(27) Sắc phong của nhà vua ban cho các vị tổ dòng họ Nguyễn Cảnh để tưởng nhớ đến công lao của các vị tổ linh thiêng hiển ứng, che chở, phù trợ cho nhân dân và đất nước. Nhóm biên dịch: ThS. Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo.

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
CEO Nghiêm Tiễn Viễn - chàng trai đam mê công nghệ với Giải Đặc biệt Sáng tạo KH&CN Nghệ An 2020 (27/9/2020)
Đồng chí Trịnh Thuyết - chiến sỹ cộng sản Xô Viết kiên cường, người con ưu tú của quê hương Thanh Chương (11/9/2020)
Lễ hội đón tiếng sấm của dân tộc Ơ Đu (24/8/2020)
Tục làm vía - Tín ngưỡng đặc sắc người Thái (5/8/2020)
Kỷ niệm 90 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh: Đồng chí Trần Thị Liên - Nữ chiến sĩ Xô Viết dũng cảm, kiên cường (31/7/2020)
Cương Quốc công Nguyễn Xí với vùng đất Cửa Lò thời Lê sơ (29/7/2020)
Đồng chí Nguyễn Duy Trinh - Tấm gương người cộng sản kiên trung, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc (29/7/2020)
Đồng chí Trần Thị Liên - Nữ chiến sĩ Xô Viết dũng cảm, kiên cường (22/7/2020)
Làng Phúc Thọ quê hương tôi (8/7/2020)
Đồng chí Lê Mao (1903 - 1931) - Người cộng sản kiên trung, niềm tự hào của nhân dân Nghệ An (8/7/2020)
Nghệ An trấn trong Hoàng Việt địa dư chí (6/7/2020)
Nguyễn Khắc Viện - Một nhà báo lớn của thời đại (6/7/2020)
Văn cúng thiên đài của người xưa (23/6/2020)
Di tích lịch sử quốc gia Đền thờ và Mộ Phùng Phúc Kiều, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò (23/6/2020)
Đồng chí Lưu Quốc Long được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đào tạo tại Quảng Châu - Trung Quốc (18/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 986 | Tất cả: 2,472,048
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp