NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera
Tin đăng ngày: 19/3/2020 - Xem: 50
 

Đặng Lan Quỳnh

                            Trường THPT Nguyễn Cảnh Chân, Thanh Chương

Upload

 

Milan Kundera là một trong những hiện tượng độc đáo đáng được chú ý trong văn học Châu Âu hiện đại

  1. Đặt vấn đề

Milan Kundera là một trong những hiện tượng độc đáo đáng được chú ý trong văn học Châu Âu hiện đại. Nhà văn Tiệp Khắc nổi tiếng Bomihur Herabar ca ngợi người đồng hương của mình -  Milan Kudera - là một thân sĩ giỏi giang, một nhà tiểu thuyết xuất sắc, một nhà nghệ thuật sáng suốt sâu xa, thăm dò tầng sâu của thế giới đạo đức. Kundera còn được đánh giá là một trong những nhà văn hàng đầu của văn học Hậu hiện đại phương Tây, là  “nhà văn uyên bác nhất hành tinh” (Russell Banks) và “hoàn toàn có tố chất và năng lực chen mình vào hàng ngũ nhà văn ưu tú nhất thế giới. . Tác phẩm của Milan được rất nhiều độc giả trên thế giới hâm mộ bởi nó là kết tinh của những vấn đề nóng bỏng của thời đại. Ông được ví như một người cuối thế kỉ  nhìn lại hành trình dài mà loài người đã trải qua. Trong tiểu thuyết của M.Kudera, cảm quan hậu hiện đại khắc dấu rõ nét ở cả nội dung và hình thức.

Chủ nghĩa hậu hiện đại đã trở thành một hiện tượng văn hóa của thế giới trong thế kỉ XX. Nó đã tạo ra một sân chơi mà ở đó các nghệ sĩ  được thỏa sức thể nghiệm những ý tưởng của mình. Đồng thời, chủ nghĩa hậu hiện đại cũng làm cho bức tranh nghệ thuật đa dạng và đầy ắp những thử nghiệm, cách tân táo bạo. Trong đó, văn học là một địa hạt ghi nhận những thử nghiệm và đánh dấu không ít thành công của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Được ươm mầm từ những yếu tố mang tính đặc biệt của hoàn cảnh lịch sử nước Tiệp Khắc và những điểm riêng trong hoàn cảnh cá nhân, thế giới nghệ thuật của M.Kundera có nhiều nét riêng biệt và đặc sắc. Đó là những dự cảm về sự đổ vỡ các bảng giá trị, sự hoài nghi về sự tồn tại của kiếp người, sự xô lệch của hiện thực… Đó là cách nhìn hiện thực đầy u ám, xem hiện thực như một trò chơi, chẳng có gì là chắc chắn. Những quy ước xã hội và văn học chẳng mảy may có lợi ích gì, thậm chí trở nên nguy hiểm. Sự thiếu tin tưởng ấy khiến nhân vật của Kundera là những cá nhân cô đơn, lẻ loi, tách xa với đời sống cộng đồng, thậm chí xa lạ với chính họ. Nhân vật trong tiểu thuyết M.Kundera luôn trong hành trình tìm kiếm cái tôi của mình. Tereza trong Đời nhẹ khôn kham thường soi gương, cố gắng nắm bắt phần tâm hồn, cái bản thể riêng biệt của mình. Agnès  trong Sự bất tử cũng cố gắng phân biệt khuôn mặt mình trong hàng vạn những khuôn mặt người ta. Và khác với nhân vật trong tiểu thuyết hiện thực, nhân vật tiểu thuyết Kundera bị lược bỏ tên tuổi, tiểu sử, hình dáng… Tất cả đều không rõ ràng, kể cả ngoại hình, cử chỉ cũng không được miêu tả kĩ, thậm chí, tính cá thể, tính riêng biệt cũng không tồn tại. Việc tẩy rửa nhân vật đã mang lại tính cô đọng cho tác phẩm, mở ra không gian cho người đọc có cơ hội phát huy khả ăng tưởng tượng của mình. Nhân vật còn bị ám ảnh bởi những giấc mơ, sự chết chóc, mang tâm trạng bất an, lo lắng,… Sự hiện hữu của họ với tư cách là một cá thể trong xã hội trở nên mơ hồ, thiếu xác tín. Đó là những nhân vật “vô tri” muốn quay lại “bản nguyên” để đi tìm câu trả lời thế nào là “sự bất tử” trong nỗi cô đơn lạc loài vì con người chỉ là trò chơi vô tăm tích.

M.kundera có cách nhìn mới mẻ về  thế giới hiện thực. Hiện thực trong tiểu thuyết của ông là một hiện thực bị xô lệch, mất trọng tâm và phi trung tâm. Đó là thế giới được “ngụy tạo” mà ở đó cõi nhân gian bị xóa sổ, con người tồn tại bé nhỏ và vô nghĩa, các bảng giá trị bị hoài nghi. Sự tồn tại của hiện thực cũng chỉ là một thứ trò chơi. Trong thế giới hỗn mang không có thực, tất cả mọi cái sinh mệnh, tồn tại, lịch sử đều biến mất trong “trò đùa”, vĩnh viễn không trở lại. M. Kundera lộ ra thái độ hoài nghi chủ nghĩa và khinh đời ngạo vật sâu xa trong tư tưởng của mình.

Nguyên Ngọc cho rằng: “Trong các tiểu thuyết của Kundera luôn trở đi trở lại, dưới những hình thức, những ám thị khác nhau, nhức nhối và dai dẳng một chủ đề - gần như có thể coi là chủ đề tổng quát của các tiểu thuyết Kundera: sự biến mất của con người trong thế giới hiện đại” [1;758]. Con người biến mất đằng sau hình ảnh của nó. Hình ảnh, không phải để phô bày, xác định con người, mà là để che lấp, xóa bỏ, tha hóa con người. Goethe, Beethoven, Hemingway… được chuẩn bị và tự chuẩn bị để trở thành những âm bản đối với hậu thế. Những con người bị mất tích giữa thế giới hiện đại. Trong giới hạn bài viết này, chúng tôi chủ yếu trình bày nghiên cứu cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của M.Kundera (khảo sát 5 tiểu thuyết: Sự bất tử, Bản nguyên, Chậm rãi, Vô tri, Điệu Valse giã từ).

Upload

  1. Nội dung: Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kudera

2.1. Một hiện thực xô lệch, mất trọng tâm và phi trung tâm

Chủ nghĩa hiện thực cổ điển chủ trương lấy hiên thực xã hội và những vấn đề có thực của con người làm đối tượng sáng tác. Chủ nghĩa hiện thực hướng tới cung cấp cho công chúng nghệ thuật những bức tranh chân thực, sống động, quen thuộc về cuộc sống, về môi trường xung quanh. Phê phán chủ trương này, những nghệ sĩ hiện đại cho rằng chủ nghĩa hiện thực chỉ là sự mô phỏng, bị lệ thuộc vào thực tại . Với họ, nghệ thuật phải mổ xẻ cuộc sống và bay ra khỏi cuộc sống. Với một quan niệm hoàn toàn khác, chủ nghĩa hậu hiện đại lại chối bỏ sự thật khách quan và siêu tự sự. Nó nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ, những quan hệ quyền lực, động cơ thúc đẩy; đặc biệt nó tấn công việc sử dụng những sự phân loại rõ ràng như nam với nữ, trắng với đen, đế quốc với thực dân. Đó là sự giải thoát có chủ ý từ những cách tiếp cận của chủ nghĩa hiện đại đã thống trị trước đó. Thế giới hiện thực trong văn chương hậu hiện đại không còn là thực tại khách quan “tai nghe, mắt thấy”, cũng không còn là thực tại bị “mổ xẻ”, bị “bay” ra khỏi cuộc sống mà là thực tại khó nắm bắt, nhập nhằng, lẫn lộn, không có thực.

Trong văn chương nói chung và văn xuôi truyền thống nói riêng, ý thức hướng về trung tâm là rất quan trọng. Ý thức ấy chi phối mọi hoạt động sáng tạo. Nó thể hiện trên mọi phương diện: chủ đề, đề tài, cảm hứng, nhân vật, hiện thực được tái tạo… Đối với chủ nghĩa hậu hiện đại, ý thức hướng về trung tâm dường như không còn tồn tại, nghĩa là trong sự chiêm nghiệm, sự lí giải thế giới (thậm chí tác giả không còn mặn mà với việc lí giải thế giới). Trong sáng tác của các nhà văn này, hiện thực không còn đứng vững, tập trung, trọn vẹn… bởi tác giả luôn có một cái nhìn về một hiện thực mà tất cả các mảng, miếng, các sự vật, hiện tượng… đều mang tính chất bình đẳng, tương đối. Bằng chứng là các câu chuyện được kể, những sự kiện, các trạng thái hiện thực… không được mô tả trong sự thiên lệch, nhấn mạnh, điểm xuyết hay coi trọng, xem nhẹ… Mọi giá trị đều bình đẳng. Điều này thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết của Milan Kundera. Những tác phẩm văn học truyền thống luôn có một cốt truyện chính, dù có thể có nhiều cốt truyện nhỏ lồng vào. Truyện của Kundera là sự tập hợp của nhiều tuyến truyện nhưng không có tuyến nào là chính. Chúng có giá trị tương đương nhau. Các sự kiện, các yếu tố trong văn học truyền thống được sắp xếp trật tự, logic, rành mạch. Tiểu thuyết của M.Kundera phân rã những yếu tố, sự kiện này thành những mảnh vụn, rời rạc, không theo bất kì trật tự nào. Nó có thể được mở ra bằng một sự kiện bất kì mà không cần phải chú trọng đến trình tự kể chuyện. Chẳng hạn như chuyện của ngài trí thức Becrk (trong Chậm rãi) được bắt đầu bằng câu chuyện tìm kiếm vinh quang của ông khi sang châu Phi chụp ảnh cạnh một bé gái da đen nằm chết, mặt phủ đầy ruồi. Thế nhưng ngay sau đó, câu chuyện này bị lãng quên để chuyển sang các sự kiện khác hoàn toàn không liên quan đến sự kiện trên rồi lại tiếp tục với những rắc rối của ngài Becrk với “mối tình thơ ngây” sau hai mươi năm. Hay như Bản nguyên, câu chuyện về những cơn ác mộng của một đôi tình nhân đi tìm bản thân mình cũng không sắp xếp các sự kiện theo một trật tự nào dù có vẻ như tác phẩm này chỉ xoay quanh một cốt truyện chính. Còn Sự bất tử là sự tập hợp trong mỗi tuyến truyện những sự kiện rời rạc, đan xen, chồng chéo, không liên quan đến nhau. Sự kiện mang tính chất cao trào trong tuyến truyện Goethe và Bettina là sự kiện Bettina bị vợ Goethe đập vỡ kính bất ngờ được đưa vào đầu tuyến truyện rồi dừng lại, lãng quên để chuyển đến việc Goethe gặp gỡ Napoleon, chuyển sang cuộc sống của Bettina, những cuộc viếng thăm Goethe của Bettina, rồi quay trở lại việc Bettina bị vợ Goethe đánh vỡ kính… Việc sắp đặt những mảnh ghép độc lập, khác nhau không theo bất kì một quy luật nào bên cạnh nhau tạo cho tác phẩm một cấu trúc phân mảnh như là ẩn dụ về một hiện thực xô lệch, mất trọng tâm và phi trung tâm.

Bối cảnh hiện thực, thứ tự biên niên, quan hệ nhân quả… cũng là những thứ mà M.Kundera không bao giờ quan tâm trong tiểu thuyết của mình. Sự bất tử là tập hợp tất cả những xáo trộn về thời gian, không gian trần thuật: có thời gian, không gian lịch sử gắn với mối quan hệ Goethe và Bettina; có thời gian, không gian hiện tại gắn với các nhân vật Laura, Agnès, Paul…; có thời gian, không gian quá khứ trong hồi ức nhân vật Agnès; có thời gian không gian tương lai dự báo biến cố xảy ra; thậm chí có cả thời gian, không gian tưởng tượng gắn với cuộc gặp gỡ Goethe và Hemingway ở thế giới bên kia… Sự xáo trộn, đứt nối này góp phần thể hiện một cảm quan về thế giới hiện thực - một hiện thực hỗn độn, xô lệch, phi trung tâm.

Bởi không tin vào cái mô hình thực tại hài hòa, bất biến của các nhà hiện đại chủ nghĩa, nghệ thuật hậu hiện đại xây dựng cho mình một “chiến lược” dựa trên sự chấp nhận thực tại hỗn độn, thậm chí gia tăng sự hỗn độn bằng cách “giải cấu trúc mọi trung tâm văn hóa”. “Nó đập vỡ không thương tiếc mô hình nghệ thuật cao cả của chủ nghĩa hiện đại cùng các mô hình văn hóa nghệ thuật trước đó, và từ những mảnh vỡ lắp ghép một thực tại giống như kính vạn hoa mang đầy trích dẫn, chắp vá” [2]. Bản nguyên kể về một đôi tình nhân lao vào một trò chơi thoạt tiên là để giúp người yêu tự nhận ra mình, đã đi vào một cơn ác mộng. Trong giấc mơ dài đầy “cảm giác ghê tởm” [6;612], Santal thấy hiện tại hoàn toàn biến mất. “Nàng vốn gắn với hiện tại của mình mạnh đến mức có đem cho kho báu nào nàng cũng không bao giờ đánh đổi nó lấy quá khứ hay tương lai. Vì vậy nàng không thể chịu được các giấc mơ” [6;612]. Trong những giấc mơ, Santal nỗ lực tìm kiếm mình với sự giúp đỡ của Jan Mark (tất nhiên là nàng không ngờ tới) nhưng càng cố gắng bao nhiêu cái bản nguyên của nàng càng không thể tìm ra trong cái thế giới hiện đại bức bối này. Jan Mark, trong cơn ác mộng, cũng “lắp bắp nức nở: Santal, Santal bé bỏng của anh!Dường như anh muốn dùng những lời đó trả lại những đường nét cũ, trả lại bản nguyên đã bị mất đi cho bộ mặt đổi khác của nàng” [6;636]. Nỗi ám ảnh bởi cái câu “đàn ông không thèm nhìn em nữa” của Santal cộng với cơn ác mộng về Santal cùng bộ mặt xa lạ và khó chịu, Jan Mark quyết định chơi trò chơi viết thư. Tuy nhiên, trò chơi này cũng là một ác mộng với cả hai. Khi sự thật được phơi bày, Santal càng cảm thấy  bế tắc bởi rốt cuộc, nàng vẫn không tìm được mình... Tất cả chỉ là giấc mơ và  tác giả đặt câu hỏi “ từ lúc nào cuộc sống thực của họ bắt đầu biến thành sự tưởng tượng dối lừa?” [6;748]. Nhiều giấc mơ trong một giấc mơ nhưng không có giấc mơ nào là chính.  Khối hỗn độn, phân mảnh của những cơn ác mộng nói với chúng ta về một hiện thực cuộc sống đầy rối ren, xô lệch, gian dối mà ở đó con người đã đánh mất bản thân; càng quay cuồng tìm kiếm bản nguyên con người càng lún sâu vào mê cung tuyệt vọng, vào những cơn mơ dài…

Như vậy, thật khó mà tìm ra một thế giới hiện thực toàn vẹn, chân thực, khách quan trong tiểu thuyết của M.Kundera bởi ông nhìn hiện thực không phải như nó vốn có mà như nó phải có. Và chính cái nhìn đậm dấu ấn chủ quan của nhà văn chi phối cảm quan về thế giới hiện thực-một hiện thực xô lệch, mất trọng tâm và phi trung tâm.

2.2. Sự phá giải các quan niệm truyền thống về thực tại - cảm hứng giải cấu trúc về thế giới

Nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh cho rằng: “xét theo quan niệm về thực tại và con người, văn học nghệ thuật thế kỉ XX có thể chia làm hai thời kì: chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại. Cái đầu gắn liền với những ảo tưởng về xã hội, con người, là loại hình nghệ thuật thể hiện trạng thái phấn khích, tích cực, cực đoan, tính không tưởng của tinh thần; cái thứ hai gắn với sự khủng hoảng đức tin, sự thất vọng về thực tại và con người tha hóa, dẫn tới sự “giải ảo tưởng”, “phản huyễn tưởng” và tính đa nguyên văn hóa” [2]. Trong văn học truyền thống, thực tại là một thế giới tồn tại như  nó vốn có với đầy đủ các lớp lang, tồn tại, vận động và phát triển trong sự ràng buộc, trong sự liên hệ và chi phối chặt chẽ, và là một hiện thực có thật, được phản ánh bằng hình thức bản thân hiện thực đó (H.Balzac ví văn học như tấm gương đi ngoài đường). Văn học hậu hiện đại lại nhìn thế giới trong sự phân rã. Thay vì sắp xếp, tổ chức một trật tự (cấu trúc), văn học hậu hiện đại lại hóa giải, phá bỏ cấu trúc (giải cấu trúc).  Thay vì tìm kiếm một thực tại hài hòa bên trong con người, các nhà văn hậu hiện đại mất niềm tin về những tính cách nhân vật toàn vẹn nên đã xây dựng nhân vật là những kẻ cô đơn, xa lạ với thế giới và xã hội người xung quanh, đắm chìm triền miên trong “dòng ý thức khốn khổ”, thậm chí là đánh mất chính mình. Trong các tiểu thuyết của Milan Kundera luôn tồn tại một chủ đề: sự biến mất của con người trong thế giới hiện đại. “Con người biến mất, đằng sau hình ảnh của nó. Hình ảnh và sự tha hóa mà nó làm nảy sinh […] Hình ảnh, không phải để phô bày, xác định con người, mà là để che lấp, xóa bỏ, tha hóa con người” [6;759]. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Milan Kundera hoặc mất tích giữa thế giới hiện đại, hoặc cuống quýt đi tìm mình như Laura, Agnès, Santal, Jan Mark…, hoặc được chuẩn bị và tự chuẩn bị để trở thành âm bản đối với hậu thế như Goethe, Hemingway, Beethoven… Tất cả trở nên hỗn loạn giữa một thế giới hiện thực không có thật.

Thực tại vốn không hài hòa, toàn bích như quan niệm truyền thống mà đẫy rẫy những bất trắc, đổ vỡ, trong đó con người có nguy cơ bị triệt diệt tất cả mọi riêng biệt tế vi trước nền công nghiệp hình ảnh khổng lồ của các phương tiện thông tin đại chúng. Với Agnès, Chúa - đức tin - con mắt - chỗ dựa dẫm biến mất, thay vào đó là con mắt của chiếc máy ảnh paparazi tò mò, hung bạo, dối trá và con mắt lạnh lùng, xảo trá của chiếc camera. Những con mắt của thời hiện đại này bóc trần hình ảnh ông già Jimmy Carter gặp rủi ro vì bị cơn đau tim đột ngột thay vì hình ảnh một vận động viên tràn đầy sức lực. Và con mắt của thời hiện đại này đã “tồn tại rất lâu trước khi nó được phát minh ra: nó tồn tại dưới dạng bản chất phi thực thể của riêng mình” [6;72]. Vì thế hình ảnh Tycho Brahé “cựa quậy trên ghế, mặt tái đi, gác chân lên nhau, mắt trợn trừng” [6;71] vẫn hiện rõ trong tiếng cười chế nhạo sự bất tử của ông ta. Còn Goethe vẫn cư xử như đang được chụp ảnh bởi bóng các nhà nhiếp ảnh tương lai dõi nhìn… Rõ ràng, cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Kundera đã phá giải các quan niệm truyền thống về thực tại.

Thực tại trong tiểu thuyết M.Kundera không yên bình, tĩnh tại, mang màu sắc lí tưởng như ảo tưởng của văn chương truyền thống mà bất ổn, gấp gáp xô đẩy, cuốn  con người vào tốc độ chóng mặt, làm con người quên lãng, biến mất, hốt hoảng tìm mình. Dù được Jan Mark bí mật giúp đỡ nhưng Santal (Bản nguyên) vẫn không tìm thấy mình giữa muôn vàn xa lạ. Hồi hộp, khao khát, mải miết đi tìm người đàn ông viết những lá thư “sắc sảo, lịch sự, không hề có ý mỉa mai, chọc ghẹo” [6;668], Santal tưởng thấy mình trong những lá thư thán phục của người đàn ông. Nàng mua cho mình chiếc áo đỏ mặc ban đêm như lời ca ngợi của người đàn ông đó. Nàng sung sướng, hài lòng, phấn khích… và đôi khi tự nhận ra “nàng đã tự đánh lừa mình, nàng đã tự đánh lừa mình một cách ngu ngốc nhất” [6; 674]. Trò chơi viết thư của Jan Mark tỏ ra không có hiệu quả khi Santal nhận ra sự thật: người đàn ông dấu mặt mà nàng tìm kiếm thực chất là người đàn ông luôn có mặt bên nàng. Và, có kiếm tìm mãi, rốt cuộc Santal cũng không gặp “bản nguyên” của mình. Laura (Sự bất tử) cũng đã đánh mất mình khi mang vẻ nũng nịu giả vờ ngồi lên đùi anh rể, khi mang cặp kính đen để che đậy cảm xúc giả dối, khi hét toáng lên muốn làm một “cái gì đó”… Nhân vật “tôi” (Chậm rãi) nuối tiếc vẻ chậm rãi, mơ màng của chàng Hiệp sĩ nhưng vẫn phải “nổ máy đi” trong khi Vincent “thèm khát tốc độ” để “quên nhanh cái đêm này đi, quên toàn bộ cái đêm bôi bác đó, đẩy nó đi, tiêu hủy nó đi” [6;603].  Trong khát vọng “chậm rãi” để tìm lại “bản nguyên”, con người vấp phải một thế giới không toàn vẹn nên  ác mộng sẽ còn đeo bám, ngay cả khi “để đèn sáng suốt đêm” [6;749].

Rõ ràng, Milan Kundera đã phá giải các quan niệm truyền thống về thực tại khi nhìn thực tại trong sự phân rã. mất niềm tin vào sự tồn tại của con người. Điều này, một mặt thể hiện sự độc đáo trong sáng tác của M.Kudera, mặt khác tạo nên sự đa dạng, phức tạp, khó nắm bắt trong thế giới nghệ thuật của ông với tư cách là những ví dụ điển hình của văn chương hậu hiện đại.

2.3. Tính ngụy tạo của thế giới

Chủ nghĩa hiện thực quan niệm thế giới là một kết cấu, cấu trúc trọn vẹn với đầy đủ lớp lang, trong mối liên hệ, chi phối hết sức chặt chẽ bởi nó được hình thành trên cơ sở các quan niệm triết học - mĩ học, khoa học… của Maxr, Đác-uyn… Chủ nghĩa hậu hiện đại lại có quan niệm bất định về thế giới, sự bất tín của con người… Chủ nghĩa hậu hiện đại khởi đầu bằng các mối tuyệt vọng về thực tại, sự bất tín ấy, cho nên nó luôn luôn nghi ngờ về thế giới. Khác với chủ nghĩa hiện đại đối lập hỗn loạn đời sống với vũ trụ sáng tạo nghệ thuật, chủ nghĩa hậu hiện đại khởi đầu bằng quan niệm cho rằng bất cứ một mô hình nào, dù là mô hình cao cả nhất về sự hài hòa thế giới, không thể không mang tính ảo tưởng. Mà đã là ảo tưởng thì luôn tìm cách biến đổi thực tiễn với sự trợ giúp của lí tưởng, hệ tư tưởng, và kết quả sinh ra ngụy tạo hiện thực. “Ngụy tạo hiện thực” là một trong những thuộc tính quan trọng của hậu hiện đại. “Đằng sau “ngụy tạo” không có hiện thực nào, bởi bản thân nó thay thế cho cái thực tiễn không tồn tại đó - một bản sao không có bản gốc. Như vậy, ở chủ nghĩa hiện đại thực tại bị lạ hóa và vô nghĩa hóa, cho tới thời hậu hiện đại nó đã “biến mất”, chỉ còn lại cái “ngụy tạo” - simulacrum” [2]. Tình trạng đó “một mặt báo hiệu sự cáo chung của những mẫu gốc (một dạng trung tâm) một mặt khẳng định tính li tâm, phi trung tâm, phi mã hóa… của các sự vật hiện tượng, lấy cái không có thực biến thành cái có thực, xem tưởng tượng chính là thực tại hoặc xóa bỏ ranh giới giữa thực tại và tưởng tượng” [3]. Thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera là một thế giới như thế, dù thế giới được miêu tả, hiện thực được miêu tả nhiều khi tỏ ra lớp lang, hoàn hảo, chi tiết đến kì cùng. Chậm rãi kể cho chúng ta nghe nhiều câu chuyện về con người phải đối mặt với tốc độ chóng mặt của thời hiện đại, bị cuốn vào vòng xoáy cuộc sống và bị biến mất bởi những vấn đề bên ngoài như lịch sử, chính trị, xã hội. Cái cá nhân, cá thể bị báo chí, truyền hình đè bẹp, hình ảnh được tô vẽ. Và để làm rõ chủ đề này, M.Kundera đã “ngụy tạo” một thế giới hiện thực lạ lẫm thông qua sự tập hợp những câu chuyện lạ lẫm. Đó là câu chuyện của ngài trí thức Berck và ngài nghị sĩ Duberques “bày tỏ tình đoàn kết” với nhóm người nhiễm AIDS. “Bữa ăn diễn ra trong tình thân ái, và không để lỡ cơ hội nêu một tấm gương tốt, nghị sĩ Duberques đã mời camera đến vào đúng lúc ăn” [6;485]. Khi các nhà quay phim  hiện ra, ông ta tiến gần một bệnh nhân và bất ngờ hôn vào miệng anh ta đang ăn đầy kem sôcôla. Cái hôn vĩ đại, bất tử của ngài nghị sĩ khiến Berck sững người, bất ngờ. Những suy tính khiến cho Berck mỉm cười một cách vô hồn và ba giai đoạn trên khuôn mặt ông được cả nước Pháp biết đến ngay tối hôm ấy. Để có hào quang của sự nổi tiếng, ông bay sang châu Phi chụp ảnh cạnh một bé gái nằm chết, mặt phủ đầy ruồi. Bức ảnh lập tức nổi tiếng trên khắp thế giới, hơn cả nụ hôn của nghị sĩ Duberques. Không chịu thua kém, ngày hôm sau nghị sĩ Duberques xuất hiện trên tivi với một cây nến và “với mục đích đầy phản trắc là gieo rắc sự nghi ngờ về mối quan tâm của Berck đến những miền đất xa lạ” [6;486], ông ta mời các công dân xuống đường để tỏ tình đoàn kết với các trẻ em đang đau khổ. Ông ta lại mời đích danh Berck dẫn đầu đoàn tuẫn hành. Berck thoát khỏi cái bẫy này bằng một hành động bất ngờ và táo bạo: bay thẳng sang một nước châu Á đang có nổi loạn để bày tỏ sự ủng hộ của mình với những người bị áp bức. Nhưng “ông vua tuẫn đạo của những người khiêu vũ” này đã phải trở lại Paris trong tình trạng đói khát và bị mắc bệnh cúm trước khi đến được xứ sở kia để tìm kiếm sự vĩ đại. Khi khát vọng vinh quang, khát vọng chiếm lĩnh sân khấu để làm tỏa rạng cái tôi của mình lớn quá mức, những “người khiêu vũ” như nghị sĩ Duberques, như Berck, như nhà côn trùng học… phải đánh mất cái tôi của riêng mình. Tạo ra một thế giới của những “người khiêu vũ” trong cái nhìn đa chiều với nhiều “trung tâm” nhân vật, nhiều mảng hiện thực được được sắp xếp có vẻ hỗn độn ngẫu nhiên… là cách  biến đổi thực tiễn của Milan Kundera.

Bản nguyên lại “ngụy tạo” một thế giới của những giấc mơ. Santal nhận thấy mình trong những giấc mơ, còn Jan Mark tìm thấy mình trong tiểu thuyết của anh. Họ nhận ra điều ấy và sợ hãi khi không nhận ra đâu là bản nguyên của mình. Trong tưởng tượng, trong giấc mơ hay trong sự thật? Câu chuyện thực trở thành giấc mơ hủy diệt - hủy diệt tình yêu, hủy diệt bản ngã con người. Những giấc mơ kì quặc, đứt nối như thế chỉ tồn tại trong văn chương hậu hiện đại - nơi thế giới được tạo lập bởi trí tưởng tượng của nhà văn, không có “nguyên mẫu”.

Sự bất tử lại làm rối loạn tâm trí người đọc vì đan xen của nhiều tuyến truyện, nhiều không gian, thời gian, điểm nhìn trần thuật… Mối quan hệ chồng chéo Bettina - Goethe, Bettina - Beethoven; cuộc gặp gỡ kì lạ giữa Goethe và Hemingway ở bên kia thế giới; cuộc gặp gỡ giữa Paul, Agnès với người đàn ông đến từ hành tinh khác; hành động đỏng đảnh của Laura; hành động kì quặc chọc lốp xe của giáo sư Avenarius; cử chỉ vẫy tay của người đàn bà, của Agnès, của Laura… tạo thành một thế giới hỗn mang đang quay cuồng tìm sự bất tử và vùng vẫy phá vỡ hình ảnh để tìm ra mình trong một thế giới hiện thực hoàn toàn biến mất.

Tính ngụy tạo của thế giới là một đặc điểm dễ nhận thấy trong cảm quan hậu hiện đại trong tiểu thuyết của M.Kundera dù người viết tỏ ra cố gắng xây dựng một hiện thực hoàn hảo, lớp lang… bao nhiêu đi nữa. Do tạo dựng một thế giới không có thực nhưng cực kì phức tạp, chồng chéo như thế nên tiểu thuyết của Milan Kundera không phải là không khó tiếp nhận. Và đây cũng là bản chất hiện thực của kỉ nguyên hậu hiện đại.

  1. Kết luận

M.Kundera là nhà văn chứng kiến hầu hết những biến động phức tạp của thế kỉ và bản thân ông cũng hứng chịu nhiều tai ương mất mát do lịch sử, xã hội, chính trị đưa đến. Những tác động đó để lại dấu ấn khó phai mờ trong sáng tạo nghệ thuật của ông, khiến cho trong quan niệm nghệ thuật của Milan Kundera, hiện thực thế giới đang diễn ra trước mắt đã chứa đựng những đổ vỡ, mất mát, hoài nghi… Thế giới nghệ thuật trong các tiểu thuyết của Milan Kundera mang đến cho người đọc cảm nhận về nỗi cô đơn, xa lạ, mang cảm giác bất an, lạc lõng, luôn ám ảnh bởi cái chết trước cuộc sống, thậm chí trước chính họ. Với mong muốn tái hiện bức tranh hiện thực, thể hiện trạng thái tinh thần ấy, Milan Kundera đã tiếp thu thành tựu của các nhà văn đi trước kết hợp với tư duy triết học mang màu sắc hiện sinh và một trí tưởng tượng cùng với trực giác nhạy bén tạo nên một thế giới nghệ thuật đầy lạ lẫm, mang cảm quan hậu hiện đại như một sự tiếp nối xuất sắc cho văn học hậu hiện đại trong thế kỉ XX. 

                                        

Tài liệu tham khảo

[1] Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh sưu tầm và biên soạn (20030, Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

[2] Đào Tuấn Ảnh (2005), “Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Hà Nội.

[3] Lê Huy Bắc (2013), Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.

[4] Trần Thanh Hà, “Sự bất tử của Milan Kundera – Một sắc diện mới cho tiểu thuyết”, Tạp chí Sông Hương.

[5] Trần Thanh Hà (2011), Quan niệm của Milan Kundera về tiểu thuyết qua lý luận và thực tiễn sáng tác, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, (Thư viện Đại học Sư phạm  Hà Nội).

[6] Kundera.Milan (1999), Sự bất tử, Chậm rãi, Bản nguyên (Ngân Xuyên dịch theo bản tiếng Nga), Nxb Văn học, Hà Nội.

[7] Kundera.Milan (2010), Vô tri (Cao Việt Dũng dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

[8] Kundera .Milan (2010), Điệu Valse giã từ (Cao Việt Dũng dịch), Nxb Văn học, Hà Nội.

 

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa (31/3/2020)
Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera (19/3/2020)
Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới (19/3/2020)
Những vấn đề của xã hội đương đại cần được trả lời (2/3/2020)
Tết cổ truyền người Thái - Nghệ An (25/2/2020)
Những năm Tý vẻ vang trong lịch sử (10/2/2020)
Tuổi Tý với danh nhân Việt Nam (7/2/2020)
Tết Nguyên Đán - Những góc nhìn về văn hóa và con người (21/1/2020)
Trao đổi thêm về một số ký hiệu nghệ thuật trong các tác phẩm viết về Tây Nguyên (6/12/2019)
Điện ảnh tài liệu Việt Nam và những câu chuyện làm phim về Bác Hồ (29/11/2019)
Đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học trong giai đoạn hiện nay (11/10/2019)
Đi tìm không gian mới cho Ví, Giặm (11/10/2019)
Ngọn nguồn thực tiễn của một lời Bác Hồ dặn trong Di chúc (7/10/2019)
Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 tới hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (25/9/2019)
Thử bàn về vai trò của Phật giáo trong thời đại công nghiệp 4.0 (9/9/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
 Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 145 | Tất cả: 2,161,332
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp