NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Tết cổ truyền người Thái - Nghệ An
Tin đăng ngày: 25/2/2020 - Xem: 53
 

HUY KHÁNH

Miền núi Nghệ An rộng lớn nằm ở giao điểm của các luồng đường giao thông từ Bắc vào Nam, từ miền ven biển qua đồng bằng lên vùng núi cao để sang Lào. Trong lịch sử hình thành các thành phần cư dân trong vùng núi Nghệ An, địa bàn này có vị trí thuận lợi đối với điều kiện sinh tồn và phát triển của môi trường sống con người.

Bộ phận dân cư lớn nhất, đóng vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi bộ mặt miền núi Nghệ An trong lịch sử cũng như hiện nay là cư dân Thái. Đây là nhóm Thái có số dân sống tập trung lớn vào loại thứ hai của cả nước (sau Sơn La trên 22 vạn dân)(1).

Upload

Thiếu nữ Thái trong ngày Xuân

Sử sách ghi chép lại thì người Thái có mặt ở Nghệ An từ rất sớm, Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn cho rằng các nhóm tộc Thái di cư vào đất Nghệ An sớm hơn thế kỉ XI-XII, còn theo học giả người Pháp Chamrberlain thì cho rằng người Thái có mặt ở Nghệ An sớm hơn thế kỉ XI. Những giả thuyết đó được các giáo sư, học giả đưa ra dựa vào nhiều câu chuyện thiên di, chuyển cư của người Thái gắn với khai phá nên những cánh đồng, những công trình thủy lợi ở Môn Sơn, Lục Dạ (Con Cuông), Xá Lượng (Tương Dương),…; giả thuyết đó cũng được khẳng định dựa vào việc phân tích các hiện vật tìm được trong các di chỉ khảo cổ học ở vùng miền núi Nghệ An như: Hang Thẩm Ổm (Quỳ Châu), làng Vạc (Quỳ Hợp)(2) … Người Thái có mặt ở Nghệ An có thể từ thế kỉ XI, nhưng đợt thiên di lớn nhất và ồ ạt nhất của người Thái phải cho đến thế kỷ XIII, theo đường sông Cả và chia làm nhiều đợt khác nhau. Con đường di cư của người Thái vào Nghệ An chủ yếu là từ Tây Bắc qua Thanh Hóa vào Phủ Quỳ, rồi từ Phủ Quỳ di cư sang Con Cuông, Tương Dương; những đợt di cư khác thì từ Tây Bắc qua Lào vào cư trú dọc sông Nậm Nơn,…

Người Thái ở Nghệ An thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, có ngôn ngữ riêng gần giống với tiếng Phạn (Ấn Độ) với nhiều kí tự khác nhau được gọi là chữ Lai Tay hay Lai Pao. Người Thái ở Nghệ An được chia làm nhiều nhóm, ngành khác nhau, gồm 2 ngành: Thái Đen và Thái Trắng(3) nhưng cũng có sách phân chia làm 3 nhóm: Tày Mường, Tày Thanh và Tày Mười(4). Nguyên nhân của sự phân chia các nhóm, ngành của dân tộc Thái hiện nay vẫn chưa được thống nhất, có sách cho rằng sự phân chia đó dựa vào màu da, có sách lại cho rằng dựa vào đặc điểm quần áo, nhưng cũng có sách lại phân chia dựa vào đặc điểm địa hình cư trú và sinh sống. Ngoài các nhóm được phân chia trên dân tộc Thái còn có các nhóm Tày Khăng, Tày Buộc, Tày Dọ.

Nhóm Tày Mường hay còn gọi là Thái Trắng là nhóm người Thái có mặt sớm nhất ở miền núi Nghệ An, tập trung chủ yếu ở các huyện Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp. Đây là nhóm có số lượng cư dân đông đúc nhất trong cộng đông dân tộc thái.

Nhóm Tày Thanh hay còn gọi là Thái Đen thiên di vào miền núi Nghệ An qua nhiều đường khác nhau, từ Lào qua và từ Thanh Hóa sang, cách đây khoảng 450 năm. Họ di cư và sinh sống dọc tuyến đường 7 và một số huyện khác như Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn,… Nhóm này có nhiều đặc điểm giống với Thái Yên Châu ở Tây Bắc.

Nhóm Tày Mười hay còn gọi là Thái Đỏ là nhóm người Thái có mặt muộn nhất so với các nhóm người Thái khác ở miền núi Nghệ An, có nguồn gốc từ Mường Muổi (Thuận Châu, Sơn La). Nhóm Tày Mười di cư vào Nghệ An và sống tập trung chủ yếu ở huyện Tương Dương.

Các nhóm kể trên không chỉ khác nhau về địa hình cư trú, mật độ dân cư mà còn khác nhau về văn hóa vật thể cũng như phi vật thể, tạo nên sự đa dạng, phong phú và đặc sắc trong bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Nghệ An.

Di cư vào miền núi Nghệ An từ sớm, người Thái tập trung sinh sống và sản xuất chủ yếu thượng nguồn sông Lam, sông Con, sông Hiếu, sông Giăng,.. và các vùng núi thấp, thung lũng, trung du nơi có phù sa các con sông bồi đắp, địa hình bằng phẳng, đồng ruộng rộng lớn,… Nhờ tập quán cư trú đó mà nền sản xuất chủ yếu dân tộc Tháilà trồng lúa nước, một số ít bộ phận ở vùng cao thì làm nương rẫy. Ngoài ra, người Thái còn làm các nghề thủ công trong đó nổi tiếng nhất là dệt thổ cẩm; bên cạnh đó trồng hoa màu, chăn nuôi gia súc gia cầm. So với các dân tộc khác, người Thái được xem là dân tộc có nền kinh tế phát triển vượt bậc, chỉ đứng sau dân tộc Kinh.

Không chỉ có nền kinh tế phát triển, nền văn hóa của người Thái cũng có bề dày truyền thống và phát triển đặc sắc không kém. Ngoài việc có ngôn ngữ, chữ viết riêng, người Thái còn có nền văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú và độc đáo. Ngôi nhà cổ truyền của người Thái là nhà sàn với kiến trúc, kết cấu, cách bài trí nhà ở và khuôn viên độc đáo, mang bản sắc riêng. Trang phục truyền thống của cả nam và nữ của người Thái mặc dù có sự khác nhau giữa các nhóm Tày Mường, Tày Thanh hay Tày Mười, nhưng đều thể hiện sự tinh tế, khéo léo và sự tinh xảo trong từng hoa văn trang trí trên trang phục. Các món truyền thống của người Thái cũng rất phong phú, nhiều món ăn trở thành đặc sản khó quên như: cơm lam, thịt bò giàng, nếp cẩm, ốc khe, canh ột, hò mọc,…

Đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh của người Thái cũng là một kho tàng quý báu mà rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn hóa, nhà sưu tầm,… khai thác và viết không bao giờ cạn. Người Thái có tín ngưỡng đa thần giáo như nhiều dân tộc khác, họ thờ nhiều loại thần như thần rừng, thần sấm, thần lúa,… và nhiều loại ma như: ma nhà, ma rừng.v.v.

Upload

Múa hát trong ngày Tết cổ truyền của người Thái

Kho tàng văn hóa nghệ thuật của người Thái cũng rất đặc sắc và phong phú: bộ sử thi đồ sộ Lái Khủn Chưởng, các truyện thơ dài “Lai Lông mương”, “Lai Nộc Yểng”, “Lai ẹt khay”,… hay các làm điệu dân ca như nhuôn, suối, lăm, khắp,… và các loại dụng cụ nhạc như: khèn, sáo, cồng chiêng, trống,…

Trong vòng đời của người Thái bao gồm rất nhiều lễ tục như: Lễ đặt tên, lễ trưởng thành, lễ cưới,... Trong năm, người Thái cũng có rất nhiều lễ hội đặc sắc như: lễ xuống đồng, lễ mừng tiếng sấm đầu năm, lễ cầu mưa, đặc biệt là Lễ tết nguyên đán cổ truyền của dân tộc.

Xưa kia, các dân tộc thiểu số ở miền Tây Nghệ An không ăn Tết Nguyên đán, mỗi dân tộc đều ăn Tết theo phong tục riêng của mình. Với đồng bào Thái cũng vậy, họ có Tết cơm mới, sau khi lúa ở trên nương đã chín vàng họ thịt trâu, mổ lợn, lấy lúa mới đồ xôi nếp để cúng lễ, tổ chức ăn uống vui vẻ. Sau Tết cơm mới là Tết mừng nhà mới, Tết ông Táo, Tết đón sấm đầu năm, Tết Síp Sí (14-7 Âm lịch), Tết độc lập 2-9. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, một số vùng phải tận sau những năm 1960  mới tổ chức ăn Tết Nguyên đán theo người Kinh. Hiện nay, Tết Nguyên đán đã trở thành tết của các dân tộc thiểu số ở miền Tây Nghệ An, trong đó có đồng bào người Thái.

Đối với người Thái, vào những ngày cận tết, nhà nhà, người người nô nức chuẩn bị quần áo, đồ ăn và các trò chơi dân gian. Thường 25 - 27 tháng Chạp là những phiên chợ cuối cùng lớn nhất trong năm, mọi người đi chợ mua sắm những thứ cần thiết sau đó là nghỉ ngơi chơi Tết. Sáng ngày 27 hoặc 28 tháng Chạp, trưởng bản chủ trì tổng vệ sinh đường làng, ngõ xóm; các gia đình đem mâm bát, đĩa, đũa, cốc chén, chõ đồ, thớt, ra bến nước rửa sạch, phơi khô; chỉnh trang lại hàng rào bao quanh nhà, nắn lại tấm phên vách; quét dọn gầm sàn, cầu thang, giàn phơi... Tối 29, nhà nhà bắt đầu quây quần gói bánh chưng. Người Thái thường gói hai loại bánh chưng màu đen và màu trắng. Để làm bánh màu đen, họ đốt rơm lên, lấy tro giã lẫn gạo nếp rồi sàng sạch mụn tro mà vẫn giữ lại màu đen. Nhiều nơi không cho nhân bánh vì người Thái quan niệm hương vị của Tết ở trong bánh chưng chủ yếu thể hiện ở hương vị của lá dong và đó cũng là cái chủ yếu để dâng lên tổ tiên (ma nhà). Ngày nay, số lượng bánh chưng được gói không nhiều như trước nữa, thêm vào đó các món ăn ngày Tết của đồng bào được bổ sung đa dạng hơn ..

Ngày 30 Tết, theo tục lệ, tất cả các thành viên trong gia đình đều đi gội đầu, tắm rửa vệ sinh sạch sẽ. Tục lệ này mang ý nghĩa tống tiễn những điều không may mắn trong năm cũ, nghênh đón niềm vui, hạnh phúc trong năm mới. Tiếp theo đó là lễ mặc áo váy mới. Đối với phụ nữ, trang phục váy áo sẽ có màu sắc sặc sỡ hơn ngày thường và đeo thêm một số đồ trang sức. Trước đây, đồng bào Thái có tục gọi hồn, làm vía cho các thành viên trong gia đình vào tối 28, 29 hoặc 30. Người Thái  thịt hai con gà, một con gà để cúng tổ tiên, một con gà dùng để làm ví, gọi hồn buộc sợi chỉ đen vào cổ tay mỗi thành viên trong gia đình với ý nghĩa để trừ tà… sợi chỉ đó phải để tự đứt, nếu dứt đứt thì chủ nhân dễ bị ốm hoặc gặp chuyện không hay.

 Trong đêm giao thừa đêm hương nhang không được tàn, cả nhà phải thức ngồi quây quần bên bếp lửa để đón giao thừa để chào đón những giây phút quan trọng, sự chuyển giao của năm cũ sang năm mới. Trong tiếng Thái, giao thừa gọi là pông chay. Đúng 12 giờ đêm Giao thừa cũng chính là lúc mà các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ ở đẳm chào trên mường trời tề tựu đông đủ tại gian hóng trong nhà. Vì thế, chứng tỏ là ngày Tết thực sự, con cháu trong nhà phải túc trực, đánh chiêng trống chào đón; bày các loại áo, váy, quần áo trẻ em, vải vóc, mặt chăn thổ cẩm, bạc nén, vòng cổ, vòng tay  để tổ tiên chứng dám khung cảnh và hương vị của ngày Tết. Người Thái có tục giữ lửa bếp trong suốt đêm Giao thừa. Đồng bào quan niệm rằng, nếu bếp lửa mà tắt thì năm mới sẽ gặp phải nhiều điều không may mắn.

Cũng giống như văn hóa người Kinh, trong đêm Giao thừa là cha mẹ mừng tuổi cho con cái trong nhà.

Sau đó là tục lấy nước cầu may. Đối với người Thái, lấy nước cầu may đầu năm để mang đến sự tốt lành, thịnh vượng, nuôi sống muôn loài. Việc lấy nước phải được thực hiện trước khi gà gáy canh 1. Nếu như lấy nước mà gà đã gáy rồi thì sẽ không còn ý nghĩa. Nước để lấy là nước suối nhưng nếu ai lấy được nước ở đầu nguồn của con suối thì sẽ càng mát trong, thanh khiết hơn. Người Thái quan niệm, lấy nước suối ở đầu nguồn về uống và rửa mặt, trong những giây phút đầu tiên của năm mới sẽ được thanh khiết như nguồn nước suối và cả năm đó họ cùng gia đình sẽ luôn mạnh khỏe, gặp nhiều may mắn. Sau nghi lễ lấy nước cầu may, các thành viên trong gia đình bắt tay vào công đoạn chuẩn bị mâm cỗ ngày Tết. Người Thái lấy thủ và bốn chân lợn làm đồ cúng, cùng với đó là những món ăn và các loại bánh truyền thống như thịt giàng, bánh chưng… Mâm cúng thường có từ 2-3 mâm, mâm đặt trên cao là để cúng tổ tiên nhà chồng, còn mâm thấp hơn cúng tổ tiên nhà vợ, mâm thứ ba là cúng các thần trong nhà như thần bếp, thần thổ dưới chân cầu thang và những vong hồn khác. Bữa cơm Tết của người Thái có một món không thể thiếu, đó là cá, với các món nướng, chua, khô. Con cháu cùng quây quần bên mâm cỗ Tết, người lớn tuổi nhất trong gia đình sẽ nói những lời chúc tốt đẹp, mong con cháu gặp nhiều may mắn. Người Thái kiêng vứt lá dong xuống gậm sàn, kiêng quét nhà vào ngày mùng Một Tết. Nếu như ở người Kinh, sáng Mồng 1 Tết, người ta thường kiêng đến nhà người khác, còn dân tộc Thái thì không kiêng, họ quan niệm rằng, càng có người đến “xông nhà” sớm càng tốt, bất kể nam hay nữ, trẻ hay già. Trái lại, theo quan niệm, đồng bào vẫn không được ưng lắm việc vay mượn, xin xỏ hay chửi bới tại nhà do say rượu. Ngày mồng 1 Tết, bố mẹ, hay chủ nhà không ra khỏi nhà chờ con rể đến chúc phúc. Ban ngày thường tổ chức tung còn (vít con), buổi tối thì đánh trống chiêng hay phục vụ các gia đình có việc quan trọng như làm vía cho ông bà, mời họ hàng, thông gia ăn cơm. Tối ngày mùng 1 hay mồng 2 họ đã làm lễ tạ. Đồng bào dân tộc Thái hết sức giữ gìn lời ăn tiếng nói, không chửi mắng nhau, không nói năng tục tằn thô lỗ, không đòi nợ nhau, không nói xấu nhau...

Hiện nay, từ chiều tối mồng 1 Tết, các hoạt động văn nghệ, thể thao đã trở thành phong trào rộng khắp các bản làng. Mỗi bản thường có một đội văn nghệ, biểu diễn vào buổi tối. Các đội bóng chuyền hay bóng đá tổ chức thi đấu giữa các bản, giữa các xã kề cận. Vui nhất trong dịp Tết là việc tổ chức hoạt động cho nhân dân vui chơi nhảy sạp, tung còn trong tiếng cồng, tiếng chiêng, hát múa lăm vông rộn rã… Một nét văn hóa mới nữa là các hoạt động thăm hỏi, chúc Tết từng gia đình trong bản của đoàn thể, nhất là hội phụ nữ và đoàn thanh niên. Hội vui và các phong trào văn hóa, văn nghệ thường kéo dài cho đến Rằm tháng Giêng.v.v.

 Trên một bức tranh đa sắc về văn hóa từ ăn, ở, mặc, đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội...; có thể thấy người Thái là một trong những tộc người có khả năng thích ứng cao cũng như tiến bộ nhất trong cộng đồng người thiếu số đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Trong bối cảnh giao lưu, hội nhập hiện nay, giữ gìn bản sắc văn hóa chính là cơ sở quan trọng cho việc phát huy nội lực và cân bằng xã hội trong giao lưu và tiếp nhận những ảnh hưởng kinh tế - văn hóa - xã hội trong thời đại mới.

Chú thích

  1. Theo báo cáo của các huyện, thị và tổng hợp của Ban DT& MN tỉnh, tính đến ngày 30/6/2009, người Thái ở Nghệ An có 303.822 người, chiếm 69,39% dân số đồng bào các DTTS toàn tỉnh. Theo sách "Về phát triển kinh tế xã hội Nghệ An" - NXB Nghệ An năm 2006: Người Thái ở Nghệ An đứng thứ 3, sau Sơn La và Thanh Hoá, chiếm 21% người Thái của cả nước.
  2. .Vi Văn Biên, Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội 2006.
  3. .Theo cách phân chia của tác giả Vi Văn Biên trong sđd

4.. Theo cách phân chia của PGS Ninh Viết Giao trong “Địa chí huyện Tương Dương”.

 

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa (31/3/2020)
Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera (19/3/2020)
Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới (19/3/2020)
Những vấn đề của xã hội đương đại cần được trả lời (2/3/2020)
Tết cổ truyền người Thái - Nghệ An (25/2/2020)
Những năm Tý vẻ vang trong lịch sử (10/2/2020)
Tuổi Tý với danh nhân Việt Nam (7/2/2020)
Tết Nguyên Đán - Những góc nhìn về văn hóa và con người (21/1/2020)
Trao đổi thêm về một số ký hiệu nghệ thuật trong các tác phẩm viết về Tây Nguyên (6/12/2019)
Điện ảnh tài liệu Việt Nam và những câu chuyện làm phim về Bác Hồ (29/11/2019)
Đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học trong giai đoạn hiện nay (11/10/2019)
Đi tìm không gian mới cho Ví, Giặm (11/10/2019)
Ngọn nguồn thực tiễn của một lời Bác Hồ dặn trong Di chúc (7/10/2019)
Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 tới hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (25/9/2019)
Thử bàn về vai trò của Phật giáo trong thời đại công nghiệp 4.0 (9/9/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
 Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 117 | Tất cả: 2,161,304
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp