ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ với sự nghiệp thống nhất đất nước
Tin đăng ngày: 6/2/2020 - Xem: 147
 

Nguyễn Văn Toàn

Upload

Bảo tàng Hoàng đế Quang Trung

Cách đây 230 năm (1789), sau khi lên ngôi Hoàng đế với niên hiệu Quang Trung, Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ (1753-1792) đã chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn đánh tan hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược. Bên cạnh đó, ông là người thống nhất đất nước sau 300 năm bị chia cắt với cục diện Nam Triều - Bắc Triều, Đàng Trong - Đàng Ngoài với chiến công đánh bại chúa Nguyễn, chúa Trịnh, quét sạch quân xâm lược Xiêm La, Mãn Thanh ra khỏi đất nước, thu giang sơn về một mối.

Nguyễn Huệ với sự nghiệp thống nhất đất nước

Tây Sơn có công lao diệt quân Xiêm, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia dân tộc. Nếu không có ý chí thống nhất quốc gia dân tộc, xem Nam Bộ là một phần máu thịt không thể tách rời thì Nguyễn Huệ đã không làm nên một trận đánh Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 ghi tạc vào sử sách như vậy.

Việc luôn xem dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một được thể hiện trong Chiếu lên ngôi Hoàng đế của Nguyễn Huệ trước khi kéo quân ra Bắc đánh đuổi Mãn Thanh và tên vua bán nước Lê Chiêu Thống.

Chiếu lên ngôi Hoàng đế của Nguyễn Huệ viết rằng: “Nước Việt ta từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần gây dựng ra nước cho đến ngày nay, thánh minh dấy lên không phải là một họ, nhưng thịnh suy, dài ngắn, vận mệnh do trời, không phải sức người tạo ra được. Trước đây nhà Lê mất chính quyền, họ Trịnh và cựu Nguyễn chia bờ cõi. Hơn hai trăm năm nay, kỷ cương rối loạn, vua Lê chỉ là hư vị, cường thần tự ý vun trồng, giềng mối của trời đất một phen rơi xuống không nâng lên được, chưa có lúc nào hư hỏng quá như lúc này vậy. Vả lại mấy năm gần dây, nam bắc gây việc binh đao, nhân dân rơi vào chốn bùn than.

Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc, bỏ nước đi bôn vong, sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào trẫm, về phần đại huynh có ý mỏi mệt, tình nguyện giữ một phủ Quy Nhơn, tự nhún xưng là Tây Vương, mấy nghìn dặm đất về phương nam thuộc hết về trẫm. Trẫm tự nghĩ tài đức không bằng người xưa, mà đất đai thì rộng, nhân dân thì nhiều, ngẫm nghĩ cách thống trị, lo ngay ngáy như dây cương mục chỉ huy sáu ngựa.

Nay xem khí thần rất hệ trọng, ngôi trời thật khó khăn, trẫm chỉ lo không kham nổi, nhưng ức triệu người trong bốn bể đều xúm quanh cả vào thân trẫm, đó là ý trời đã định, không phải do người làm ra. Trẫm nay ứng mệnh trời, thuận lòng người không thể khăng khăng cố giữ sự khiêm nhường. Trẫm chọn ngày 22 tháng 11 năm nay lên ngôi thiên tử, đặt niên hiệu là Quang Trung năm đầu, truyền bảo cho trăm họ muôn dân phải tuân theo giáo lệnh của nhà vua. Nhân nghĩa, trung chính là đạo lớn của người, trẫm nay cùng dân đổi mới, vâng theo mưu mô sáng suốt của vua thánh đời trước, lấy giáo hóa trị thiên hạ”.

Như vậy, bằng Chiếu lên ngôi Hoàng đế của Nguyễn Huệ năm 1789, chúng ta thấy Nguyễn Huệ đã chỉ rõ về khát vọng thống nhất quốc gia dân tộc. Đó là: “Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc… sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào trẫm”, “đại huynh (Nguyễn Nhạc) có ý mỏi mệt, tình nguyện giữ một phủ Quy Nhơn, tự nhún xưng là Tây Vương” và “ức triệu người trong bốn bể đều xúm quanh cả vào thân trẫm, đó là ý trời đã định, không phải do người làm ra. Trẫm nay ứng mệnh trời, thuận lòng người không thể khăng khăng cố giữ sự khiêm nhường”. Và đặc biệt là Nguyễn Huệ đã “truyền bảo cho trăm họ muôn dân phải tuân theo giáo lệnh của nhà vua”.

Và trong bài hịch là “Lời hiếu dụ tướng sỹ” được Nguyễn Huệ đọc tại lễ lên ngôi Hoàng đế cũng có câu: “Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (đánh cho sử biết nước Nam anh hùng có chủ). Việc Nguyễn Huệ khẳng định nước Nam đã có chủ nghĩa là sự khẳng định đất nước đã được thống nhất hoàn toàn.

Do đó, sau khi quét sạch quân Mãn Thanh và tên vua Lê Chiêu Thống ra khỏi bờ cõi, Nguyễn Huệ đã làm chủ trên thực tế được cả đất nước Đại Việt, sáng lập ra một triều đại mới với niên hiệu là Quang Trung.

Giáo sư Văn Tạo (Viện Sử học Việt Nam) đã khẳng định rằng Nguyễn Huệ đã “thống nhất đất nước gắn liền với độc lập của dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ”. Giáo sư Văn Tạo cho biết thêm là ngoài việc thanh toán Trịnh - Nguyễn, hai thế lực chia cắt đất nước, vua Quang Trung còn đập tan âm mưu chia cắt đất nước của nhà Mãn Thanh bằng Chiến thắng năm Kỷ Dậu 1789. Vì trong mật dụ của Càn Long gửi cho Tôn Sĩ Nghị bị quân Tây Sơn bắt được có viết rõ: Đưa tự quân nhà Lê về nước, vừa tiến đánh vừa thăm dò. Kết cục nếu không thắng được Nguyễn Huệ thì “Bấy giờ ta sẽ làm ơn cho cả hai bên. Từ đất Thuận Hóa Quảng Nam trở ra Nam thì cho Nguyễn Huệ, từ Châu Hoan, Châu Ái trở ra Bắc thì phong cho tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau”.

Sau đó, khi tên vua Lê Chiêu Thống xin nhà Mãn Thanh ép vua Quang Trung cắt hai tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên để làm địa bàn như thời nhà Mạc thì nhờ chính sách ngoại giao khôn khéo của mình, nhà Tây Sơn đã đập tan ý định đó bằng cách xin cưới công chúa của Càn Long cho vua Quang Trung và gửi thư đề nghị Càn Long cho Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) để làm đất đóng đô.

Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét rất xác đáng là:

 “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,

Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,

Ông đà chí cả mưu cao,

Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.

 Cho nên Tàu dẫu làm hung,

Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà”.

Upload

Toàn cảnh đền thờ vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết (Ảnh: Sách Nguyễn)

Vương triều Quang Trung đại diện cho ước mơ của dân tộc

Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung đã quản lý đất nước trên một phạm vi rộng lớn dưới một chính quyền trung ương tập trung mạnh. Bộ máy hành chính thời vua Quang Trung đã được nhanh chóng hoàn thiện gồm: Tam công, Tam thiếu, Đại chủng tể, Đại Tư đồ, Đại Tư khấu, Đại Tư mã, Đại Tư không, Đại Tư Lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Đô hộ, Đại đô đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Điểm kiểm, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy, Trung úy, Vệ Úy, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung Thư lệnh, Phụng Chính, Thị Trung đại học sĩ, Hiệp biện đại học sĩ, Lục Bộ Thượng thư, Tả - Hữu đồng nghi, Tả - Hữu phụng nghi, Thị Lang, Tư vụ, Hàn Lâm... Năm 1790, vua Quang Trung còn cho lập sổ theo dõi nhân khẩu (hay hộ khẩu). Và vua Quang Trung cũng đã có ý định chọn Nghệ An làm Phượng Hoàng Trung Đô để nêu bật ý nghĩa của Triều Đại mới.

Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung cũng đã ban “chiếu khuyến nông”. Năm 1789, vua Quang Trung bãi bỏ thuế điền cho nhân dân từ sông Gianh ra Bắc, động viên các tầng lớp nhân dân lao động phấn khởi sản xuất. Do đó, chỉ trong vòng 3 năm sau, nông nghiệp được phục hồi. Năm 1791, sử sách chép: “mùa màng trở lại phong đăng, năm phần mười trong nước khôi phục được cảnh thái bình”.

Trong công cuộc xây dựng chính quyền mới, vua Quang Trung rất chú trọng “Cầu hiền tài”. Đối với những nho sĩ, trí thức, kể cả quan lại trong chính quyền cũ có tài năng, trí tuệ, có nhiệt tình xây dựng đất nước, vua Quang Trung đều cố gắng thuyết phục và sử dụng họ vào bộ máy nhà nước mới, đặt họ ở những chức vụ cao tương xứng với tài năng của họ. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp... là những học giả tiêu biểu trong số nho sĩ này. Để đáp ứng nhu cầu xây dựng chính quyền mới và đào tạo quan lại mới, bên cạnh phương thức “tiến cử”, “cầu hiền tài” vua Quang Trung đã ban hành chính sách “khuyến học”, mở rộng chế độ học tập, thi cử. Trường học được mở rộng đến các làng xã, cho phép các địa phương sử dụng một số đền chùa không cần thiết làm trường học. Về nội dung, bỏ lối học từ chương khuôn sáo, cải tiến dần theo hướng thiết thực, bắt các nho sinh, sinh đồ ở các triều đại trước phải thi lại. Người nào xếp loại ưu thì mới được công nhận cho đỗ, hạng liệt phải về học lại, còn hạng sinh đồ 8 quan do bỏ tiền ra mua trước đó (thời Lê - Trịnh) đều bị đuổi về chịu lao dịch như dân chúng.

Để đề cao quốc gia dân tộc, Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm.

Để thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá thuận lợi, vua Quang Trung cho đúc tiền đồng mới (Quang Trung thông bảo và Quang Trung đại bảo).

Đối với nước ngoài, vua Quang Trung chủ trương mỏ rộng trao đổi buôn bán, đấu tranh buộc nhà Thanh phải mở cửa biên giới để buôn bán với nước ta. Đối với thuyền buôn của các nước tư bản phương Tây, vua Quang Trung tỏ ra rộng rãi, mong muốn họ tăng cường quan hệ ngoại thương với nước ta, nhờ vậy, tình hình thương nghiệp (nội thương và ngoại thương) nước ta thời vua Quang Trung được phục hưng và phát triển.

Nền ngoại thương nước ta thời vua Quang Trung khác hẳn với ngoại thương thời Vua Lê chúa Trịnh, chúa Nguyễn trước đó. Nó xuất phát từ yêu cầu nội tại của nền kinh tế và đời sống của nhân dân, từ yêu cầu đẩy mạnh nền kinh tế hàng hoá. Tư tưởng “thông thương” tiến bộ của vua Quang Trung đã thể hiện nhãn quan kinh tế rộng mở phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và thời đại, đó là mở cửa ải, thông thuơng buôn bán, khiến cho các hàng hoá không ngừng chuyển động để làm lợi cho dân chúng.

Mô tả Thăng Long bấy giờ, nhà nho Nguyễn Huy Lượng sống dưới thời Tây Sơn viết: “Lò Thạch khối khói tuôn nghi ngút, thoi oanh nọ ghẹo hai phường dệt gấm, lửa đom đóm nhen năm xã gây lò”, và “rập rình cuối bãi đuôi nheo, thuyền thương khách hãy nhen buồm bươm bướm” (Phú Tụng Tây Hồ).

 

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Hai thập kỷ người Nghệ chinh phục Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật (2000 - 2019) (31/3/2020)
Bà Quận chú - Vị tổ sư của nghề bện võng Hoàng La (26/3/2020)
Lịch sử và kiến trúc đền Chín Gian ở Quế Phong (25/3/2020)
Đền Thần trù Hồng Long và các sắc phong thần (25/3/2020)
Lê Đông - người thổi hồn rượu men lá đồng bào Thái Con Cuông (24/3/2020)
Cuộc đời và sự nghiệp của Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế (19/3/2020)
Kỷ niệm 990 danh xưng Nghệ An: Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - Tri châu Nghệ An (6/3/2020)
Nguyễn Thị Tích - Người được Bác Hồ tin cậy (25/2/2020)
Tiến sĩ Phan Nhân Tường (25/2/2020)
Trang phục truyền thống của phụ nữ Thái (24/2/2020)
Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn (10/2/2020)
Em là người của Việt Minh tổng Vân Tụ đây (7/2/2020)
Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ với sự nghiệp thống nhất đất nước (6/2/2020)
Điệu hát "Tơm đám cưới" của người Khơ Mú (6/2/2020)
Kỳ thú Con Cuông (21/1/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
 Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 894 | Tất cả: 2,156,042
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp