ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > KHÁM PHÁ XỨ NGHỆ AN
Điệu hát "Tơm đám cưới" của người Khơ Mú
Tin đăng ngày: 6/2/2020 - Xem: 26
 

                                                                             Quán Vi Miên

1. Người Khơ Mú (tên gọi khác: Xá Cẩu, Mứn Xen, Pu Thênh, Tềnh, Tày Hạy), là một trong những nhóm sắc tộc lớn nhất sinh sống tại khu vực bắc tiểu vùng Đông Nam Á. Họ có mặt ở miền bắc Lào, tại Myanmar, tây nam Trung QuốcThái Lan, và Việt Nam. Tiếng Khơ Mú thuộc ngữ tộc Môn-Khmercủa ngữ hệ Nam Á. Hiện tại có khoảng 479.240-540.000 người Khơ Mú ở khắp thế giới; với dân số khoảng 389.694 người (năm 1985) tại Lào; 72.929 người (năm 2009) tại Việt Nam; 31.403 (năm 2000) tại Thái Lan; 1.600 người (năm 1990) tại Trung Quốc; không rõ số liệu tại Myanmar; và cỡ 8.000 tại Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, họ sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ như Nghệ AnSơn LaLai ChâuLào Cai, Yên Bái; trong số 44/63 tỉnhthành phố. Người Khơ Mú sống chủ yếu bằng kinh tế nương rẫy. Cây trồng chính là ngô, khoai, sắn. Trong canh tác, người Khơ Mú dùng dao, rìu, gậy chọc lỗ là chính. Hái lượm săn bắn giữ vị trí quan trọng, nhất là lúc giáp hạt. Người Khơ Mú nuôi gia súc, gia cầm chỉ để phục vụ dịp lễ lạt, tiếp khách. Nghề đan lát phát triển. Họ đan các đồ dùng trong nhà, hoặc để vận chuyển, chứa lương thực... Người Khơ Mú không phát triển nghề dệt vải, nên thường mua quần áo, váy của người Thái để mặc. Dân tộc Khơ Mú có vốn truyền thống văn hóa lâu đời, tuy cuộc sống vật chất còn nghèo, nhưng đời sống tinh thần rất dồi dào.

Upload

2. Hát Tơm - tức hát giao duyên, là làn điệu dân ca đặc sắc của người Khơ Mú. Trong mỗi dịp lễ, tết, cưới hỏi, v.v, làn điệu Tơm lại vang lên dập dìu, say đắm. Mừng năm mới có “Tơm muôn” (Tơm mùa xuân); đi đường có “Tơm kun chơ”; mừng nhà mới có “Tơm ơ grang mỵ”; trong

đám cưới có “Tơm đường kmun”. “Tơm đám cưới” hát có sáo đệm. “Sáo tơm” (pí tơm) là một cây nứa nhỏ có đường kính từ 1-1,5cm. Cây nứa phải đủ tuổi, không quá già. Nghệ nhân cắt 7 lóng nứa, mỗi đoạn dài 8cm, chuốt lại rồi luồn vào nhau xếp theo thứ tự to đến nhỏ. Đoạn thứ 3 tính từ gốc, dài chừng 24 cm được khoét 3 lỗ bấm, cách nhau 6-7 cm. Đoạn ống thứ 7 (phần ngọn) chỉ nhỏ bằng chiếc đũa, có gắn cái “lưỡi gà”. “Lưỡi gà” này được tạo từ chính thân cây nứa. Nghệ nhân dùng dao sắc tuốt sạch cật cây nứa, khoét tạo “lưỡi gà”, độ dài khoảng 1,5 cm, rộng 2mm. Khi thổi, lưỡi gà rung nhẹ để điều tiết khí âm qua các lỗ nhỏ tạo thành những giai điệu mang âm hưởng của núi rừng.

Upload

Trai gái Khơ Mú được tự do yêu đương. Khi người con trai đến tìm hiểu người con gái, sau bữa tối, tay cầm bó đuốc đỏ, bước vào nhà, đặt vào bếp, quỳ xin phép bố mẹ người con gái trước (hát theo điệu Tơm): “Kính thưa bố!/ Kính thưa mẹ!/ Con là con trai của ông (…), bà (…)/ Ở bản (…)/ Trời về chiều/ Cha mẹ bảo con đi săn bắn/ Đêm tối xuống/ Cha mẹ bảo con đi ‘chơi hoa, hái quả’/ Con thấy nhà của bố mẹ có ‘hoa thơm, quả ngọt’/ Con muốn ‘tận hưởng’ để thỏa lòng đời trai/ Xin bố mẹ thương con/ Cho phép con đến với ‘hoa thơm, quả ngọt’ của bố mẹ!» (Xu ma dông!/ Xu ma mạ!/ Ố mư con chưm brọ gôl ghi, gôl nai/ Dắt cung ghi, cung noi/ Buôir bri dông mạ moọc ăn do phinh/ Ly nging bri dông mạ moọc ăn do dun/ Con giul gang dông ma ạl rang tư hệ/ Al plệ hưn đum/ Plệ ha yal/ Phệ hư ưrl/ Con chu bợ, chu ma/ Chu tal chu tưng hoi/ Khro dông ma ri vacl hôm/ Kưl đôm bọ, xu ma, xu mưa dông/ Mạ xên tọ!) (1).

Nghe tiếng «à hèm», chàng trai hiểu là bố mẹ cô gái đã cho phép. Chàng trai nhẹ nhàng bước vào buồng gọi cô gái dậy. Cô gái đến bên bếp lửa, cùng chàng trai chuyện trò. Chàng trai nói chuyện, tâm tình.

Đến Lễ dạm hỏi (Do la con nưm căm ra), bố mẹ chàng trai cùng ông mối đến nhà cô gái, mang theo lễ vật gồm cơi trầu, 4 chai rượu, một ít quà bánh. Đến chân thang nhà cô gái, họ cất tiếng hỏi: «Nhà ông bà có kiêng kỵ gì không?». Trên nhà, bố mẹ cô gái đáp: «Không! Nhà chúng tôi không kiêng kỵ gì cả. Mời ông bà lên chơi thăm». Họ lên nhà. Ông mối đặt bó đuốc vào bếp lửa, rồi quay lại chào hỏi, chuyện trò với chủ nhà. Ông nói rõ việc đến nhà của nhà trai. Sau khi thấy bố mẹ cô gái tỏ ra thuận ý, ông mới dâng cơi trầu và cất lời hát Tơm: «Hôm nay ngày lành tháng tốt/ Ngày sạch nhà/ Ngày đa họ/ Chúng tôi cầm bó đuốc, cơi trầu/ Lên nhà ông bà/ Xin trình ông bà/ Bởi chúng tôi thấy con gái ông bà/ Là ‘thần vàng, thần bạc’/ ‘Thần lúa, thần ngô’/ Đẹp như đóa hoa/ Nết na hơn người/ Chúng tôi rất yêu quý/ Chúng tôi muốn 2 gia đình/ Hai họ chúng ta/ Gắn bó với nhau suốt đời/ Như bầu bí cùng chung một giàn... » (Xi ghi mư lơ/ Mư thro/ Mư clọc/ Mư hol/ Làm xi ạ khăm mạc/ Hưn drich thạc/ Khăm mạc nhẹ/ Ga gang pang lôốc dông mạ/ Lẹ xưng guil con dông/ Con mạ chu đệ/ Guil blệ dông/ Blệ mạ chu tà/ Con dông pư rnet bran ngọ/ Con mạ nơ bro nọ bron cư mun/ Kho dông mạ ri vail hôm cư đôm bọ/ Ăn tắc đốc hưm pir/ Ăn tier đốc chi cộ/ Hơ lọ chương đưng ni lẹ dông mạ...) (2).

Đại diện nhà trai ca ngợi bao nhiêu thì nhà gái lại đáp lại khiêm nhường bấy nhiêu: «Con gái chúng tôi còn nhỏ tuổi/ Như con dê mới đẻ/ Chưa biết làm nương, làm rẫy/ Chưa biết múc nước, giã gạo/ Nó vừa xấu, vừa dốt/ Chưa biết lo nhà/ Chưa biết làm ăn... ». Lễ dạm hỏi chủ yếu chỉ có đại diện 2 gia đình trai và gái. Hai bên vừa uống rượu vừa bàn tiếp về ngày tổ chức ăn hỏi và lễ vật mỗi bên phải chuẩn bị là bao nhiêu.

Đến Lễ ăn hỏi (Rít bạc buyil) nhà trai tổ chức 1 đoàn người mang theo lễ vật: 1 con lợn từ 40-60 kg, 4 vò rượu cần, 4 chai rượu xiêu, 2 cái váy mới, 2 cái khăn mới, 2 túi vải mới, 2 vòng tay, 1 đôi hoa tai, trầu cau... Đoàn nhà trai đến nhà gái vào lúc chập tối. Ông mối lam tai (mối chính) bưng cơi trầu dâng lên nhà gái, hát Tơm: «Kính thưa ông bà, cha mẹ, các cậu và toàn thể họ hàng anh em bên nhà gái!/ Hôm nay ngày lành tháng tốt/ Chúng tôi là ông bà mối, cùng cha mẹ, họ hàng nhà trai/ Chúng tôi cầm cơi trầu, bó đuốc lên nhà ông bà/ Xin dâng cơi trầu lên ông bà, các cậu và anh em họ hàng nhà gái/ Xin được ‘hái hoa thơm, quả ngọt’ của ông bà/ Kính mong ông bà yêu thương, đùm bọc/ Chúng tôi muốn trr thành thông gia suốt đời với ông bà/ Như ông Khun Chương xưa nói:/ ‘Gái chưa lấy chồng chưa hết điềm khó/ Trai chưa lấy vợ chưa hết điềm xui’/ Kính thưa ông bà, các cậu, anh em họ hàng/ Mở lời ‘vàng bạc’ để chúng ta yêu thương nhau như ‘bầu bí cùng giàn’... » (Xơ ghi mơ mư lợ, mư thrọ/ Mư hoang rưm lang xiêng/ Ỷ mơ lam xi vi xoong chắp rang/ Hu ru ty droga/ Gang pang lôộc dông ma hưm/ Dông khăn mạc rot dông, rớt mạ, rót êm tạ, brạ chua/ Do xăng chụ, hlu xăng uột/ Ghi leo con hem đa ghi gọ xa gingl con dông/ Con mạ xa chu đệ/ Gingl plệ dông/ Plệ mạ chụ hoi/ Chụ ma hệ hệ/ Chê đệ nhên nhên/ Lẹ tam chương/ Mlọ roọc tăng chưm/ Kưm ăm đa đệ/ Glệ ăm đa gla khọ/ Chưm brọ ăm đa gla vên/ Khro dông mạ/ Ri vail hôm kưm đôm bọ/ Ăn tắc đốc hưm piêr/ Ăn liêr đốc chi cộ/ Ăn mơ kẹo mơ đoóng/ Làm xi xoóng/ Làm xi vi xo óng khro hloắc/ Hlo pheng khong dông khong ma/ Hlo kư mur hlo xier khong êm ta bra chua/ Hlo chương khong lam/ Duam ni xa leo dông ma ơi!) (3).

Ông cậu bên nhà gái đứng ra chấp nhận 2 nhà «kết nghĩa thông gia». Nhà trai nạp Lễ ăn hỏi (nạp tài). Tiếp theo là lễ Buộc chỉ cổ tay cho cô dâu, chú rể. Rồi Lễ cúng ma nhà (gia tiên) nhà gái. Nhà gái cảm ơn ông mối, nhà trai bằng cách hát Tơm: «Cảm ơn ông, bà mối!/ Người ‘bế nặng, vác nhọc’!/ Nhịn ăn, nhịn ngủ, mồ hôi ướt áo/ Chân mỏi, mắt đỏ, lo việc đám, việc hỏi cho xong!/ Tốt đẹp, theo đúng lễ tục Chương khuyên, Chương dặn/ Nay việc đã mãn/ Hai họ, 2 gia đình chúng tôi có lời biết ơn ông mối, bà mối/ Kính mời ông, bà mối nâng ly, cầm đũa/ Vừa ăn vừa uống, chuyện trò cho vui» (Cha ơn dông lam, mạ lam/ Kưm mụ bu rưm bu kư tăm/ Khăm kư lăm nặc ứt xil/ Ứt nghiên hưm ooil blu/ Hlu ploong lo bang việc ăm khát báng/ Lo bang việc ăn khát xong/ Làm xi chư rít hmươn chương noọc/ Chăm rít hmươn roọc tăng/ Chơ ghi y mơ dông mơ ma/ Mơ êm mơ tal pạ bair luông khro/ Cha ơn dông lam, mạ lam/ Xơn dông lam, mạ lam/ Chắp thu, chắp hưn đul goi ma goi tăng hoi/ Goi ma goi rưng yng) (4).

Lễ rước dâu về nhà chồng (Nutr gia). Lễ này tổ chức làm 2 lần ở 2 nơi: (1) Ở nhà gái (Ma xrờ chưm pro). Trong lễ này, ông mối dâng cơi trầu lên nhà gái, xin phép được tổ chức rước dâu. Ông hát: «Kính thưa lá!/Kính thưa cây!/ Kính thưa mẹ!/Kính thưa cha!/ Kính thưa cậu!/ Kính thưa mợ!/ Cậu là cây ‘rồng hoa’/ Mợ là ‘long hoa’ xứ mường/ Cô là bông hoa trắng/ Cô của cậu từ thuở ấu thơ/ Giờ đây cô yêu con gái cậu/ Cô sẽ lấy con gái cậu về làm dâu/ Con gái cậu là cây măng đắng/ Con gái cậu là cây mây song/ Con gái cậu là thần lúa, thần ngô/ Con gái cậu là thần vàng, thần bạc/ Cô sẽ lấy con gái cậu về dựng nhà, nối nghiệp/ Cô không lấy con gái cậu về làm kiếp ngựa trâu/ Cô không lấy con gái cậu về thả làm ma trong rừng/ Cô không lấy con gái cậu về đứng giữa bản phơi nắng, phơi mưa... » (Xu ma hla/ Xu ma âm tông/ Xu ma dông/ Xu ma âm mạ/ Xu ma dông xim dêm/ Xu ma dông êm pư rơ doong/ Xu ma mai êm pư rơ doong/ Kim mơ phai ràng cloóc/ Kưn mơ móc êm ngươn hxoong nhẹ/ Chơ ghi kưn chi đệ con êm/ Con êm mơ kư đọ bloong grit/ Con êm mơ prơnet bran ngọ/ Con êm mơ prơnet bran kư mul/ Kưn chi khứt đệ con êm vêch xụp ma/ Chi khứt đệ con êm vêch xụp gang/ Kưn ăm ruil xăng blu ly bạ/ Ăn ruil xăng tơ hạ ly bun/ Kưn ăm khút kư mun vêch teng ma/ Ăm khứt kư mum vêch teng khơi/ Kưn ăm đương con êm vêch pơ loi đa brit/ Kưn ăm đương con vêch pơ loi kưn ting...) (5).

Họ tổ chức ăn uống, trò chuyện, hát hò, chờ giờ rước dâu. Nam nữ hát Tơm đối đáp. Nam: «Kính thưa bố mẹ/ Thưa tất cả gia đình/ Xin thưa bố mẹ vợ/ Trước tiên xin bố mẹ vợ thứ lỗi/ Thấy con cậu muốn được/ Con của cậu là ngọc là vàng/ Con của cậu là chủ lúa gạo/ Con lấy vợ về để ‘làm mẹ’/ Lấy con cậu về ‘làm mẹ’, không phải làm đầy tớ!... » (Chừ thăm thíp xa ma dông ma/ Xa ma là xa ma ừm tùng/ Xa ma ừm ma/Thà mùi tả tưm nưi/ Klì muil tả thừ xa/ Còn xim dền ktò ploòng chằng/ Còn êm phrim / Prờnet pranngó/ Hạ rusyit trờ hả lỳ bun/ Hả đường căm mun tày mã/ hả đường cưm prá tàng khoi...) (6). Nữ: «Lời nói có đảm bảo không?/ Có đem về làm dâu, ‘làm mẹ’ thật không?/ Hay là làm nô lệ... » (Htả rúyil trè hả lỳ bun htả đường cừm/ Mun tằng ma/ tđã đường/ Cừm ta rá tàng khòi...). Có người hát về nỗi nhớ bạn: «Nhớ nhau, nỗi nhớ da diết/ Nhớ từ ấu thơ cùng nhau chơi dưới bóng trăng rằm/ Hôm nay thấy mặt nhau đây/ Thỏa lòng mong đợi những năm tháng không nguôi.... » (Xưn tệ hông kưn hông/ Kưn thrưm ngươn ạ nhai/ Xư êng năm ạ từng hoi ngươn hnoong nhẹ/ Kưn drum mông phênh/ Bựp do xơ ghi/ Guil do xơ ghi/ Lợ cloong/ Loong hủ nhươn/ Lợ hư nhươm xưn eeng...) (7). Đến giờ, nhà trai xin rước dâu xuống thang. Nhà gái đưa của hồi môn cho con gái. Ông mối «lam tai» thay mặt nhà trai nhận của hồi môn, dâng cơi trầu cảm ơn bố mẹ cô dâu bằng lời hát Tơm: «Ngày lành, tháng tốt/ Giờ tốt đã đến/ Ông bà mối chúng tôi có cơi trầu dâng lên các cậu và họ hàng nhà gái/ Cho phép chúng tôi rước dâu về giường đẹp, chiếu hoa/ Rước voi ngà, trâu bạc dưới sàn/ Đưa về nhà thông gia, nhà con rể/ Về nối nghiệp gia đình, họ hàng/ Sớm lên rẫy/ Ngày lên nương/ Nuôi gà lợn đầy gầm sàn/ Trâu bò đầy chuồng/ Tay phải cầm chày cối/ Tay trái cầm niễng, cầm chõ hông xôi... » (Mư ngam, nham dni/ Làm xi vi xoong/ Khro đệ kưm mụ đạ gang/ Khro xi chang đạ kưn drum vech/ Đạ gang kẹo, gang đóng, gang con/ Gang pư rhà/ Vech xựp gang, xựp hrệ/ Xựp kưn drệ, xựp gual...) (8). Rước dâu về nhà (Cờ num vech gang). Lễ Buộc chỉ cổ tay cho đôi vợ chồng trẻ. Ngày hôm sau, nhà trai tổ chức mừng cưới con dâu (tức «cưới lần 2»). Đoàn nhà gái sang dự tiệc cưới. Sau đám cưới 3 ngày, cô dâu, chú rể sang nhà gái làm thủ tục Trả lễ cho bố mẹ vợ. Dẫn đầu là ông mối chính (lam tai) hoặc bà mối phụ (lam hem). Họ mang theo 1 con gà mái, 2 vò rượu cần, 2 chai rượu xiêu, 1 cây sáp ong, 1 cơi trầu. Đến nhà, ông/bà mối hát Tơm: «Hôm nay ngày lành tháng tốt/ Con rể con gái sang tạ lễ/ Nộp gà nộp rượu/ Kính cáo với tổ tiên ma nhà/ Biết con gái ta đã lấy chồng/ Đã về nhà chồng/ Đã về thông gia thuộc dòng họ (...)/ Dưới gầm sàn, con voi đã đi khỏi gầm sàn/ Trên nhà, con gái đã đi ra khỏi buồng, khỏi nhà/ Tổ tiên đừng hỏi, đừng tìm nữa/ Xi kính cáo tổ tiên, ma nhà!... » (Xi ghi mơ mơ lọ mư thro/ Con chưm kưn pưrha goi teng rít/ Teng khong, gai nọp hriar/ Nọp buyil khọp hrôi gang/ Hồi chi ốc/ Con chưn kưn đul đạ gang/ Xi chang đul kưn đrum/ Chơ ghi con pư kha/ Con chưn gai rông rít pư gai khong/ Khạp hrôi gang hồi chi ốc/ Con chưn kưn đệ glệ/ Đệ gang môn gai gang glệ gang keo gang đo óng môm/ Bò hrôi gang hrôi chi ốc bày xóc, bày tay nưa!...) (9).  

Một, 2 tháng sau lễ cưới, nhà gái tổ chức Lễ buộc vía cho ông-bà mối, để tỏ lòng cảm ơn ông-bà đã giúp cho đám cưới thành công. Đám cưới vậy là đã hoàn tất.

Ấn tượng về một đám cưới Khơ Mú đậm đà bản sắc cùng với những lời hát Tơm còn lưu lại bền lâu trong lòng mọi người.

   

Tài liệu tham khảo

(1) Nguyễn Doãn Hương (Sưu tầm, biên soạn), Phong tục cưới hỏi và lễ tang truyền thống của các dân tộc ở Nghệ An, Nxb Nghệ An, 2018, tr. 23- 142, 248-255.

(2) La Quán Miên, Phong tục tập quán các dân tộc thiểu số Nghệ An (Khảo cứu), Nxb. Nghệ An, 1997; 103 trang.

(3) Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Trúc Bình, Nguyễn Văn Huy, Thanh Thiên, Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, tr. 35-156.

 Chú thich

(1),(2),(3),(4),(5),(6),(7),(8),(9) Tư liệu NDH gửi cho chúng tôi.

Đất và người xứ Nghệ khác:
Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn (10/2/2020)
Em là người của Việt Minh tổng Vân Tụ đây (7/2/2020)
Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ với sự nghiệp thống nhất đất nước (6/2/2020)
Điệu hát "Tơm đám cưới" của người Khơ Mú (6/2/2020)
Kỳ thú Con Cuông (21/1/2020)
Xứ Nghệ - Miền Cối Kê của đất nước (21/1/2020)
Bảo tồn Võ thuật cổ truyền Xứ Nghệ (21/1/2020)
Câu đối xuân của các trí thức Nghệ An (21/1/2020)
Các vị cử nhân người Nghệ đỗ vào những khoa được mệnh danh là "Năm chuột" (16/1/2020)
Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý - Nốt ân tình xứ Nghệ (27/12/2019)
Tôn sư, trọng đạo và phong trào hiếu học xưa - nay trên vùng đất lúa (6/12/2019)
Bộ toàn thư về Quỳnh Lưu (6/12/2019)
Quá trình hình thành chợ Cầu Giát (5/12/2019)
Bảo vệ, khai thác và phát triển tốt cây dược liệu ở Nghệ An (5/12/2019)
Giáo sư Hà Văn Tấn và những trăn trở còn lại (3/12/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
 Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 826 | Tất cả: 2,080,308
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp