ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Các vị cử nhân người Nghệ đỗ vào những khoa được mệnh danh là "Năm chuột"
Tin đăng ngày: 16/1/2020 - Xem: 60
 

 

 Chu Trọng Huyến

“Chuột” là tiếng dân gian dùng để chỉ các năm “Tý”. Như đêm Giao thừa Canh Tý (2020) này, trên VTV.1 Việt Nam sẽ có chiếu trò vui: “Đám cưới Chuột tân thời”.

Nói về các kỳ thi Hán học ngày xưa, từ trước cho đến hết thời Lê, đối với sĩ tử Nghệ An không chỉ thi Hội mà cả thi Hương cũng đều phải ra Thăng Long. Sang thời Nguyễn, năm Gia Long thứ 6 tức Đinh Mão (1807), mới chính thức có khoa thi Hương đầu tiên mở trên đất Nghệ, địa điểm đặt tại thành Vĩnh An, tức Thành phố Vinh ngày nay, chủ yếu dành cho sĩ tử cư ngụ trên hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Năm 1908, người Pháp mở tại Vinh một nhà máy sửa chữa xe lửa, đặt trên nền đất của cái trạm giao thông cũ, nên nhân dân địa phương gọi nó là Nhà máy Trạm.Về sau, cái nhà máy ấy cần được mở rộng nên chủ tư bản là người Pháp đã cho choán sang một phần đất của địa điểm thi Hương kia, nên nó có tên gọi mới là Xưởng thợ Trường Thi hay Nhà máy sửa chữa xe lửa Trường Thi (Atelier corriger du chemin de fer de Trương Thi)(1).

Nói về việc Hương thí trên đất Nghệ thì từ Đinh Mão, niên hiệu Gia Long thứ 18(1819) đến năm cuối cùng là Mậu Ngọ (1918), có cả thảy 42 khoa thi, lấy đỗ 827 Cử nhân. Ngoài ra, cùng thời gian, còn có 29 vị là người Nghệ An thi đỗ Cử nhân ở các nơi khác, chủ yếu là tại trường thi Thừa Thiên(2).

 Số người Nghệ đỗ Hương giải ở từng khoa thi vào các năm Tý ở Trường thi mở tại thành Vinh và các địa điểm thi khác mà bài này điểm qua là gồm các mục chủ yếu: tên người, làng (xã), phủ (huyện), chức quan ( nếu có).

 Khoa Mậu Tý, niên hiệu Minh Mệnh thứ 9(1828), gồm:

  1. Giải nguyên (người đỗ đầu): Tạ Hữu Khuê, làng Bút Điền, huyện Đông Thành (nay là Diễn Châu), được bổ chức Bố chính tỉnh Quảng Bình, sau bị giáng xuống làm Thị độc.
  2. Á nguyên (đỗ thứ hai) Nguyễn Hoằng, làng Hoành Sơn, Thanh Chương (nay thuộc huyện Nam Đàn) làm chức Chủ sự,

3.Nguyễn Huy Tuấn, làng Đông Châu, phủ Hưng Nguyên, chức Hàn lâm thị độc.

4.Nguyễn Hữu Bích, làng Đại Đồng, Thanh Chương, Tri huyện.

  1. Đặng Huy Khuê, làng Hữu Biệt, huyện Nam Đàn, Giáo thụ.
  2. Nguyễn Đăng Thái, người làng Trung Lâm, huyện Thanh Chương
  3. Nguyễn Trọng Hựu, làng Yên Trường, huyện Chân Lộc, được bổ làm quan nhưng sau vì có lỗi với triều đình nên bị cách chức.
  4. Nguyễn Trọng Lượng, làng Trung Cần, huyện Thanh Chương (sau thuộc Nam Đàn), Tri huyện.
  5. Nguyễn Đình Thực, làng Triều Khẩu, Hưng Nguyên, Tri huyện.
  6. Lê Trọng Hàn, làng Nộn Liễu, huyện Nam Đàn, Tri huyện.
  7. Hồ Trọng Toàn, sau đổi là Tuấn, làng Qùynh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, cha của Phó bảng Hồ Bá Ôn, là Án sát ở các tỉnh Quảng Yên, Thái Nguyên rồi bị cách chức, sau làm Thị giảng
  8. Nguyễn Thế Hệ (sau đổi là Thị), Thổ Hào, Thanh Chương, Ngự sử, sau bị cách.
  9. Hoàng Trọng Cảnh (sau đổi là Trọng Ý), Đồng Luân, Nam Đường(sau thuộc Thanh Chương), Tri huyện.

Khoa Canh Tý (1840), niên hiệu Minh Mệnh thứ thứ 21, gồm:

  1. Vũ Nguyên Doanh, làng Thanh Viên, Quỳnh Lưu (đậu làn thứ 2) và năm Tân Sửu (1841) đỗ Phó bảng, Án sát trỉnh Gia Định.
  2. Nguyễn Trọng Tân (sau đổi là Đức Hiệp), làng Do Lễ, Hưng Nguyên, Tri phủ.
  3. Phạm Trùy, làng Yên Dũng Thượng, Chân Lộc (sau thuộc Vinh), Viên ngoại.
  4. Hồ Sĩ Tuần, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu,Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1884), Tuần vũ Quảng Yên, mất tại nhiệm sở.
  5. Nguyễn Đình Phác, làng Xuân Ổ, Nam Đàn, Tri châu.
  6. Uông Nhật Hân, Đức Giang, Chân Lộc (nay là Nghi Lộc), Tri huyện.
  7. Đào Khản, Nộn Liễu, Nam Đàn.
  8. Nguyễn Thành Doãn, Nộn Liễu, Nam Đàn, Tri huyện.
  9. Dương Xuân Lệ, Ngô Xá, Chân Lộc (sau thuộc Hưng Nguyên), Chủ sự.

Khoa Nhâm Tý niên hiệu Tự Đức năm thứ 5(1852),gồm:

  1. Nguyễn Văn Giao, Trung Cần, Nam Đàn, sau đỗ Thám hoa, giỏi thơ văn, và nổi tiếng với bộ sách “Sử Tổng luận tập”. Chức quan là Tham biện nội các, hàm Quang lộc tự khanh.
  2. Tôn Huy Viêm, Võ Liệt ,Thanh Chương, Tri phủ bị cách chức.
  3. Hồ Sĩ Toản, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu.
  4. Ngô Trí Dụng, Lý Trai, Đông Thành.
  5. Mai Văn Khanh, sau đổi là Văn Chất, Đông Tháp, Diễn Châu, Bố chánh bị cách chức, thải hồi.
  6. Hoàng Văn Xán, Yên Lạc, Nam Đàn.
  7. Phan Huy Liên, Thổ Hậu, Đông Thành.
  8. Phan Văn Trang, Đông Liệt, Nam Đàn.
  9. Hồ Danh Lãng, Hoàng Trường, Diễn Châu, Tri huyện.
  10. Phan Huy Quỳnh, Nho Lâm. Diễn Châu.

Khoa Giáp Tý, niên hiệu Tự Đức thứ 17(1864),gồm:

  1. Lê Huy Giám, Gia Hậu, Đông Thành, Tri huyện.
  2. Phan Huy Dao, Phượng Chiêm, Chân Lộc, Ngự sử.
  3. Nguyễn Đức Huy, Hoành Sơn, Nam Đàn, là em và cháu của cấc bậc đại khoa mà bố là Cử nhân Nguyễn Đức Hiển, anh là Thám hoa Nguyễn Đức Đạt...
  4. Vũ Văn Hoán, La Mạc, Thanh Chương.
  5. Hồ Văn Giáo, Ngọc Viên, Quỳnh Lưu, Huấn đạo.
  6. Vũ Huy Dực, An Tập, Đông Thành (Diễn Châu).
  7. Thái Trung Phu, Phúc Kiến, Chân Lộc, Ngự sử, bị cách chức, phải đi hiệu lực.
  8. Vương Danh Thân, Vân Sơn, Nam Đàn, Ngự sử.
  9. Nguyễn Văn Xước, Chi Nê, Thanh Chương.
  10. Nguyễn Văn Tường, Công Trung, Yên Thành, Huấn đạo.
  11. Trần Quang Sủng, NGọc Thành, Đông Thành, Tri phủ.
  12. Phan Huy Thanh, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Lang trung.
  13. Lê Doãn, Thọ Mai, Quỳnh Lưu, Tri huyện.

Khoa Bính Tý, niên hiệu Tự Đức thứ 29 (1876), gồm:

  1. Cao Xuân Dục, Thịnh Khánh, Đông Thành(sau là Diễn Thịnh, Diễn Châu),Thượng thư.
  2. Lê Thứ, Đại Đồng, Nam Đàn.

3.Nguyễn Đức Quý, Hoành Sơn, Nam Đàn rồi đỗ thi Đình (khoa Giáp Thân,1884), Biên tu Quốc sử quán, xim về làng, tham gia Cần vương, bị kẻ địch giết.

  1. Vương Danh Chính, Vân Sơn, Nam Đàn, Tri huyện, cáo quan về làng.
  2. Ngô Trạch, Mỹ Dụ, Hưng Nguyên, Đốc học, cáo quan về.
  3. Trần Đình Phong, Yên Mã, Tên Thành, Tiến sĩ năm Kỷ Mão (1879), Tri phủ, Đốc học.
  4. Nguyễn Liễn, Minh Hồ, Nam Đàn, Đốc học.
  5. Nguyễn Khánh, Võ Liệt, Thanh Chương, Tri huyện.
  6. Nguyễn Năng Kiêm, Minh Hồ, Nam Đàn, Tri phủ, cáo quan về làng.

Khoa Mậu Tý, niên hiệu Đồng Khánh thứ 3(1888), gồm:

  1. Vũ Trí, Hậu Luật, Diễn Châu.
  2. Trần văn Song, Trung Mâu, Hưng Nguyên.
  3. Vũ Xuân Đình, Nho Lâm, Diễn Châu.
  4. Lê Tam Hòe, Văn Trường, Anh Sơn.
  5. Nguyễn Trinh, Cẩm Trường, Nghi Lộc, Huấn Đạo.
  6. Nguyễn Doãn Văn, Anh Sơn.
  7. Nguyễn Đức Huy, Cẩm Trường, Nghi Lộc, Huấn đạo.
  8. Nguyễn Soạn, Ngô Trường, Nghi Lộc, Hậu bổ.
  9. Đặng Thai Nhẫn, Lương Điền Thanh Chương.
  10. Nguyễn Viết Tuyên, làng Khê Trung, Nghi Lộc, Giáo thụ.
  11. Nguyễn Viết Tuyên, Khê Trung, Nghi Lộc, Giáo thụ.
  12. Nguyễn Tính, Ước Lễ, Hưng Nguyên.
  13. Lê Tiến, Xuân Liễu,Nam Đàn, Huấn đạo.
  14. Nguyễn Văn Tề, Quỳ Trạch, Yên Thành, Hậu bổ.
  15. Nguyễn Đào, Vạn Lộc, Nghi Lộc.
  16. Nguyễn Trạc, Văn Trường, Anh Sơn, Giáo thụ.
  17. Đinh Danh Dĩnh (sau đổi là Dũng Tân), Thanh Viên, Quỳnh Lưu, Hành tẩu.
  18. Nguyễn Mỹ, Dương Liễu Nam Đàn. Giáo thụ

Hoàng Phạm Cửu, Đại Đồng, Thanh Chương, Giáo thụ.

  1. Phan Gia Tĩnh (sau đổi là Đức Khanh) Vân Tràng, Anh Sơn.
  2. Nguyễn Xuân Vỹ (sau đổi là Đức Khanh), Yên Trường, Hưng Nguyên,
  3. Nguyễn Bỉnh, Xuân Hồ, Nam Đàn, năm Kỷ sửu đỗ Phó bảng,, Tri huyện.
  4. Phạm Đình Nhiếp, Sơn Linh, Anh Sơn..
  5. Nguyễn Như Hợp, Đại Đồng, Thanh Chương.
  6. Nguyễn Kiều, Đông Chử, Nghi Lộc.
  7. Cao Điển, Thịnh Khánh, Hưng Nguyên. Thương tá huyện.
  8. Đặng Thọ Hóa, Khê Trung, Anh Sơn.
  9. Nguyễn Quang Khai, Vân Sơn, Nam Đàn.
  10. Trần Đức Thành, Đông Lũy, Diễn Châu, Trước tác ở Nội các.
  11. Hồ Quang Vỹ, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu. Huấn đạo.
  12. Hoàng Định, Yên Dũng, Hưng Nguyên, Biên tu.
  13. Nguyễn Duy Tự, Di Luân, Thanh Chương,.
  14. Bùi Danh Hòa, Thanh Thủy, Nam Đàn, Huấn đạo.

Khoa Canh Tý, Niên hiệu Thành Thái thứ 12(1900)

  1. Phan Bội Châu, Đan Nhiễm, Nam Đàn, đỗ Giải nguyên với sự nổi bật đặc biệt, được vinh danh riêng một bảng. Ông không làm quan, là nhà lãnh đạo Phong trào yêu nước Đông du (1905-1909) nổi tiếng. Kết thúc tác phẩm “Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt Nam” Nhà xuất bản Văn hóa Hà Nội 1958, Tr.238, Tôn Quang Phiệt viết: “Chúng ta có thể nói rằng, trong lịch sử giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là một nhân vật vĩ đại”.
  2. Trần Đình Tuấn, Xuân Hồ, Nam Đàn, Viên ngoại bộ Hình,
  3. Vũ Quang Cư, Hậu Luật, Diễn Châu,
  4. Nguyễn Điềm, Xuân Liễu, Nam Đàn.
  5. Nguyễn Đình Điển, Xuân Hồ, Nam Đàn, Lang trung bộ Học.
  6. Hoàng Thúc Lương, Khánh Duệ, Nghi Lộc.
  7. Nguyễn Thúc Hào, Đông Chữ, Nghi Lộc.
  8. Nguyễn Đức Lý, Trung Mỹ, Nghi Lộc, sau đỗ Hoàng giáp.
  9. Trần Doãn Lương, Thiện Kỵ, Qùynh Lưu.
  10. Nguyễn Duy Hòa, Long Môn, Nam Đàn.
  11. Trần Văn Ngoạn, Lộc Châu, Nghi Lộc.

12.Hồ Phi Thống, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu.

  1. Dương Hữu Thanh, Phương Xá, Hưng Nguyên.

14.Trần Lê Vi, Ngọc Đình, Nam Đàn.

  1. Nguyễn Thúc Doanh, Xuân Liễu, Nam Đàn, Án sát.
  2. Nguyễn Văn Quý, Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu.
  3. Phan Quang Huy, Ân Hậu, Nghi Lộc.
  4. Nguyễn Đức Ký, Hoành Sơn, Nam Đàn.
  5. Trần Văn Huân, Diêu Ốc, Yên Thành.
  6. Nguyễn Ngọc Cẩn, Đông Phái, Diễn Châu.
  7. Nguyễn Gia Tích, Mậu Tài, Nam Đàn.
  8. Nguyễn Đức Xán, Cẩm Trường, Nghi Lộc.
  9. Nguyễn Ngọc Trác, Nghiêm Thắng, Anh Sơn, Huấn Đạo.
  10. Phn Thúc Vịnh, Phú Ninh, Yên Thành(đỗ ở Trường thi Thừa Thiên).
  11. Trần Đình Đoàn, Yên Mạ, Yên Thành (đỗ ở Trường Thừa Thiên)

 Khoa Nhâm Tý, niên hiệu Duy Tân thứ 6(1912), là khoa thi Hương mở vào năm Tý cuối cùng.

  1. Nguyễn Văn Chính (Giải nguyên), Liễu Nha, Thanh Chương.
  2. Lê Khôn Trinh, Kim Khê, Nghi Lộc
  3. Hồ Sĩ Lâm, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu.
  4. Nguyễn Tính Hãng. Ước Lễ, Hưng Nguyên.
  5. Phan Thúc Ngô, Vũ Liệt, Thanh Chương.
  6. Phan Duy Huệ, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu.
  7. Vũ Văn Tộ, La Mạc, Thanh Chương.
  8. Phan Sĩ Bằng, Võ Liệt, Thanh Chương.
  9. Lê Huy Tiềm, Kim Khê, Nghi Lộc.
  10. Lương Trọng Hoàn, Gia Hậu, Đông Thành.
  11. Nguyễn Đức Duận, Hoành Sơn, Nam Đàn.
  12. Vũ Trọng Lạc, Phù Xá, Hưng Nguyên.
  13. Đặng Văn Oánh, Nho Lâm, Diễn Châu, đỗ ở trường thi Thừa Thiên.
  14. Đinh Văn Chấp, đỗ ở Trường thi Thừa Thiên.
  15. Cao Xuân Tảo, Thịnh Mỹ, Diễn Châu, đỗ ở trường thi Thừa Thiên...

Nhìn lại bảng kê danh sách và chức vụ về hoạn lộ của các vị khoa bảng tại Nghệ An thuở trước, ta nhận ra đất này, con người “Trọng khoa hơn trọng hoạn”. Sách “Hương khoa lục”, cũng chỉ rõ, số người ở đây đố đạt được bổ làm quan cai trị (là rất ít) thì phần đông, một thời gian rồi bị cách chức vì không làm tròn “phận sự”. Bởi các sĩ tử người Nghệ, họ cố công học và thi đỗ là nhằm đền ơn cơm áo của cha mẹ và công dạy bảo của thầy giáo rồi về sống nơi thôn dã, làm các việc có ích giúp dân, số đông cùng lao động với xóm làng, chứ không hám danh ở chốn quan trường. Đó cũng là một nét của tính cách người Nghệ thuở xưa.

 

 

(1)Gọi tắt là: Nhà máy Trường Thi. Nay, tại Thành phố Vinh có một đơn vị cư dân mang tên là “Phường Trường Thi”.

(2) Như trường hợp mà ta biết cóTrần Đình Thiên, quê ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, đỗ Hương khoa Nhâm Tý(1852) tại Trường thi Thừa Thiên, được Tri phủ rồi bị cách.

Đất và người xứ Nghệ khác:
Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn (10/2/2020)
Em là người của Việt Minh tổng Vân Tụ đây (7/2/2020)
Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ với sự nghiệp thống nhất đất nước (6/2/2020)
Điệu hát "Tơm đám cưới" của người Khơ Mú (6/2/2020)
Kỳ thú Con Cuông (21/1/2020)
Xứ Nghệ - Miền Cối Kê của đất nước (21/1/2020)
Bảo tồn Võ thuật cổ truyền Xứ Nghệ (21/1/2020)
Câu đối xuân của các trí thức Nghệ An (21/1/2020)
Các vị cử nhân người Nghệ đỗ vào những khoa được mệnh danh là "Năm chuột" (16/1/2020)
Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý - Nốt ân tình xứ Nghệ (27/12/2019)
Tôn sư, trọng đạo và phong trào hiếu học xưa - nay trên vùng đất lúa (6/12/2019)
Bộ toàn thư về Quỳnh Lưu (6/12/2019)
Quá trình hình thành chợ Cầu Giát (5/12/2019)
Bảo vệ, khai thác và phát triển tốt cây dược liệu ở Nghệ An (5/12/2019)
Giáo sư Hà Văn Tấn và những trăn trở còn lại (3/12/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
 Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 811 | Tất cả: 2,080,293
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp