NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Trao đổi thêm về một số ký hiệu nghệ thuật trong các tác phẩm viết về Tây Nguyên
Tin đăng ngày: 6/12/2019 - Xem: 100
 

                                                                                                   Trần Văn Dũng*

Tóm tắt

Tây Nguyên là địa bàn đa sắc tộc, trong đó có 11 tộc người được coi là bản địa, định cư lâu đời trên mảnh đất này, có nền văn hóa phong phú và đặc trưng. Nhiều nhà nghiên cứu và sáng tác đã dành thời gian, công sức, trí tuệ, cho ra đời hàng trăm công trình, phản ánh muôn mặt đời sống xã hội của vùng đất thấm đẫm chất sử thi này, trong đó có nhiều tác phẩm báo chí, các nhạc phẩm và tác phẩm văn chương. Tuy nhiên, nhiều ký hiệu nghệ thuật mang tính địa phương mà các tác giả sử dụng trong tác phẩm vẫn chưa được khán thính giả, độc giả tiếp nhận một cách phù hợp. Bài viết đặt vấn đề trao đổi, hướng tới việc làm sáng tỏ thêm một số ký hiệu nghệ thuật qua tác phẩm viết về Tây Nguyên được nhiều người quan tâm.

Từ khóa:  Tín hiệu nghệ thuật - Tây Nguyên

Abstract

Highland is multi-ethnic province, including 11 ethnic groups regarded as indigenous, settling in this land a long time ago and having rich and unique culture. Many researchers and composer spent time, effort, intellectual, producing hundreds of works, reflecting all aspects of the social life of this epic imbrued land, in which there are many newspaper works, musical and literary works. However, many local artistic symbols that the authors and composers use in their work are not yet comprehended by the audience and readers. This paper aims to provide the translations and explanations of these art symbols that are concerned by many people.

Keywords: art symbols, highland

Upload

 1. Đặt vấn đề 

Một phần của sự hấp dẫn khi tìm hiểu, thưởng thức hay dạy học các tác phẩm viết về Tây Nguyên đến từ những giá trị văn hóa tiềm ẩn và đặc sắc trong các ký hiệu nghệ thuật. Việc thiếu hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về nó đã dẫn tới sự sơ sài trong chú thích, giải thích, bình giá. Điều này đã làm mất đi một phần quan trọng giá trị của tác phẩm. Với mục đích đồng hành với giáo viên, đặc biệt là giáo viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và khoa học nhân văn, các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục và nghệ thuật, giúp người học khai thác những giá trị đích thực mà tác giả gửi gắm qua tác phẩm, tránh suy diễn khiên cưỡng hoặc sơ sài, chúng tôi xin trao đổi một vài vấn đề xung quanh những tác phẩm (văn học, âm nhạc và báo chí) viết về Tây Nguyên đang được nhiều người quan tâm. Đó là những tín hiệu nghệ thuật được ẩn mình trong thế giới tự nhiên, trong địa danh, nhân danh và trong các hoạt động đời sống xã hội của con người Tây Nguyên qua tác phẩm.

  1. Vài nét về các tộc người bản địa Tây Nguyên 

Tây Nguyên là một địa bàn hội tụ nhiều tộc người. Những năm đầu thế kỷ 20, nơi đây chủ yếu là cư dân thuộc các dân tộc bản địa như Ê Đê (Êđê), Gia Rai (J’rai), Mơ Nông (M’nông), Ba Na (Bahnar), Xơ Đăng (Sedang),…và một số ít người Việt (người Kinh). Sau 1975, nhiều cư dân các tỉnh phía bắc và đồng bằng miền Trung đến sinh sống như Tày, Mường, Hmông, Nùng, Vân Kiều, Dao, Mạ, Thái, Hoa,…Từ chỗ chưa đến một triệu người (1975), đến nay dân số Tây Nguyên đã tăng 6 lần, gồm 47 tộc người khác nhau (trong đó có 11 tộc người định cư lâu đời và được coi là bản địa). Người dân tộc thiểu số chiếm trên 30% dân số trên địa bàn được phân bố trên gần 3000 thôn buôn. Đặc điểm về dân cư Tây Nguyên là đa sắc tộc, mật độ thưa và phần lớn là cư dân nông nghiệp.

Về văn hóa, từ trước đến đầu Công nguyên, Tây Nguyên hầu như không chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Hoa. Tuy nhiên, vào những thập niên tiếp đó, đặc biệt vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XVIII, Tây Nguyên chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi Chămpa và các vương triều ở Cămpuchia, Lào.

Trước những năm 20 của thế kỷ XX, toàn bộ xã hội các dân tộc ở đây được tổ chức thành từng buôn (hoặc bon, bu, kon, plei,…), là những đại gia đình mẫu hệ. Các gia đình trong buôn có quan hệ với nhau về thân tộc ở các mức độ khác nhau, làm cho quan hệ cộng đồng được duy trì khá bền vững. Mọi sinh hoạt cộng đồng đều được duy trì bởi luật tục của từng dân tộc (tập quán pháp), một loại luật bất thành văn được truyền miệng dưới hình thức văn vần, vừa mang chức năng của một công cụ quản lý xã hội vừa là tác phẩm văn học dân gian đặc trưng.

Tôn giáo và tín ngưỡng của các dân tộc Tây Nguyên trước khi Pháp xâm lược đang ở thời kỳ phát triển cuối cùng của tín ngưỡng nguyên thủy. Các thần linh đều được coi là giàng (yang) và các ác thần là briêng. Việc thờ thần lúa và các vị thần khác là điểm nổi bật nhất trong tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở đây. Tuy chữ viết của các dân tộc xuất hiện khá muộn nhưng văn hóa dân gian khá phong phú với nhiều thể loại, đậm đà bản sắc, biểu hiện cách nhìn, tâm lý, hoài bão của đồng bào các dân tộc. Đó là tình yêu thiên nhiên, cộng đồng; khát vọng tự do, lòng hiếu thảo và tinh thần dũng cảm chống lại áp bức bóc lột (Trường ca Đăm Săn (Dăm Săn), Đăm Di (Dăm Yi), Xinh Nhã…). Về trang phục, nhạc cụ, nghệ thuật tạo hình của các dân tộc thiểu số ở đây cũng hết sức đặc thù và phát triển đến trình độ cao. Có thể nói, văn hóa Tây Nguyên về bản chất là văn hóa rừng núi; về trình độ phát triển, là văn hóa dân gian truyền miệng thời kỳ tiền nhà nước; về quy mô, là văn hóa buôn làng. Vì vậy, về dạng thức tồn tại, Tây Nguyên ít có các dạng văn hóa vật thể kỳ vĩ mà chủ yếu và đáng kể nhất là văn hóa phi vật thể (kho tàng sử thi đồ sộ; không gian văn hóa cồng chiêng…).

Về ngôn ngữ, địa bàn Tây Nguyên là nơi gặp gỡ của nhiều ngôn ngữ thuộc nhiều dân tộc khác nhau; là nơi cùng tồn tại song song hai dòng ngôn ngữ chính: dòng Môn-khmer (Austronesian) và dòng Mã Lai - Đa Đảo (Malayo-polynesian), trong đó các dân tộc thuộc ngôn ngữ Mã Lai Đa Đảo gồm Êđê, J’rai, Chu Ru (Chru), Răc Lây (Raglai), còn lại hầu hết sử dụng ngôn ngữ dòng Môn-khmer.

Những đặc trưng về tự nhiên và xã hội đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nhận thức, tâm lý của con người nơi đây. Thiên nhiên hùng vĩ làm cho con người trở nên nhỏ bé. Con người cảm thấy choáng ngợp trước sức mạnh của tự nhiên, và quan điểm tôn giáo đa thần, quan niệm vạn vật hữu linh xuất hiện. Những tập quán, thói quen, những nét văn hóa đặc thù của từng dân tộc trong một môi trường khép kín kéo dài hàng trăm, hàng nghìn năm đã tạo nên bản sắc văn hóa đậm nét của khu vực này. Với truyền thống kiên cường và sáng tạo; với tâm hồn trong sáng và hoài bão lớn lao, con người trên mảnh đất này đã làm nên một kho tàng văn hóa đồ sộ mà đã gần thế kỷ qua, chúng ta (và cả một bộ phận người phương tây) vẫn chưa có điều kiện để tìm hiểu một cách đầy đủ, trả lời được một cách thỏa đáng các vấn đề đặt ra về lịch sử xã hội và đặc biệt là về văn hóa trên mảnh đất kỳ diệu này. Không những thế, trong quá trình phát triển, con người ở đây hàng ngày hàng giờ tiếp tục tạo ra những sản phẩm tinh thần mới, làm cho kho tàng văn hóa Tây Nguyên càng thêm giàu có, phong phú và đa sắc. Việc khai thác, khám phá kho tàng đồ sộ ấy không thể làm trong một sớm một chiều. Từ góc độ của những người nghiên cứu và giảng dạy văn học-nghệ thuật, trước hết chúng ta cần phải làm rõ những tín hiệu nghệ thuật đã được các nghệ nhân dân gian cũng như các nhà văn hóa đương đại đề cập đến trong một số tác phẩm tiêu biểu đã có sức lan tỏa trong công chúng hoặc đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. 

Upload

 

3. Một số ký hiệu nghệ thuật viết về Tây Nguyên cần được trao đổi thêm

3.1. Về những ký hiệu nghệ thuật được thể hiện qua thế giới tự nhiên

Với đặc trưng của một vùng đất mang bản chất văn hóa rừng núi, các ký hiệu nghệ thuật được các nghệ sĩ sử dụng thường được thể hiện qua núi sông, cây cỏ, chim muông,... Xin được đề cập một số hình tượng nghệ thuật đã đi vào tác phẩm và thiết nghĩ, đang cần được trao đổi thêm.

- Cây kơ nia, tên dân gian là cây cầy, một loài cây mọc nhiều ở Tây Nguyên, đặc biệt là ở Đắc Lắc (Dak Lăk). Cây thân gỗ, cứng, có sức sống mãnh liệt, xanh tốt quanh năm kể cả sáu tháng mùa khô khốc liệt; có quả ăn được nhưng không mấy ai ăn vì kém hấp dẫn; cây gỗ thớ cát nên rất khó chặt, khó cưa. Gỗ cứng nhưng ít được sử dụng làm đồ gia dụng vì hình thức không đẹp, lại khó chế tác. Bởi vậy, người dân thường để cây này lại trên nương rẫy trong khi chặt, đốt hết các loại cây khác. Mùa phát rẫy làm nương vào cuối mùa khô nắng gay gắt (tháng ba), giữa khu đồi khô khốc, cây kơ nia sừng sững như một chiếc ô (dù) khổng lồ che chở cho mọi người. Từ dáng vóc ấy, nhà thơ Ngọc Anh đã tạo nên một hình tượng đẹp mà mỗi người miền xuôi lần đầu đến Tây Nguyên đều muốn được tận mắt chiêm ngưỡng (Bài thơ Bóng cây kơ nia - Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc).

Upload

Cây Konia bên hồ Lak ở Tây Nguyên

- Cây xà nu, chính là cây thông, loại thông mọc nhiều ở khu vực Bắc Tây Nguyên và hầu như có ở rất nhiều nơi trên đất nước ta. Theo các nhà khoa học, họ thông hiện có khoảng 80 loài. Ở nước ta, có trên 10 loài, trong đó phổ biến nhất là thông hai lá1 (còn gọi là thông nhựa, thông ta - loại thông chủ yếu để khai thác nhựa) và thông ba lá2 (cũng có nhựa nhưng ít hơn mà chủ yếu để khai thác gỗ). Ở Tây Nguyên rất ít thông hai lá. Theo PGS.TS Bảo Huy, một nhà lâm sinh học đã có trên 30 năm nghiên cứu về rừng Tây Nguyên thì loại thông này thường sinh sống và phát triển ở khu vực có độ cao khoảng 300m trở xuống. Hiện chỉ có một ít ở vùng chân dãy }ư Yang Sin (Dak Lăk) và một số vùng thấp của tỉnh Lâm Đồng. Dân địa phương thường gọi là cây ngo. Vùng Đăk Glei nói riêng và Kon Tum nói chung phổ biến là loại thông ba lá. Người Gié -Triêng ở Kon Tum gọi loại cây này là loong nuh. Xà nu là do Nguyên Trung Thành (Nguyên Ngọc) đặt tên, có thể trên cơ sở dựa vào phát âm của cư dân bản địa. Do điều kiện công tác, chúng tôi đã nhiều lần đến tất cả địa bàn tỉnh Kon Tum và có cơ sở để khẳng định điều này. Rất tiếc là cho đến nay, trong cuốn Ngữ văn lớp 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam 2015, cũng chỉ chú thích một cách rất chung chung: xà nu, một loại cây họ thông, nhựa và gỗ đều có giá trị, mọc rất nhiều ở Kon Tum (trang 38). Theo chúng tôi, cần được chú thích một cách cụ thể hơn: xà nu - tức cây thông, tên gọi được mô phỏng theo tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương. Cách giải thích trên của sách giáo khoa đã làm cho học sinh (và cả một số giáo viên nữa) khá mơ hồ về loại cây này.

Upload

Rừng Xà nu đã đi vào tác phẩm văn học viết về tây Nguyên

- Cây hoa pơ lang, là loại cây mà người miền xuôi gọi là cây hoa gạo; nhân dân vùng biên giới phía bắc nước ta và Trung Quốc gọi là mộc miên. Trước đây, trong các buôn làng, đặc biệt là buôn làng Êđê, có nhiều cây này, bởi nó được trồng trong mỗi mùa lễ hội. Trong buôn, mỗi lần mở hội, dân làng trồng một cây pơ lang. Nhiều trường hợp thanh niên buôn làng khi cưới nhau, vợ chồng cũng trồng cây này trên địa bàn cư trú. Họ cho rằng, sắc thắm của pơ lang sẽ mang đến nhiều may mắn cho con người, xua đuổi tà ma và những điều rủi ro. Với người dân tộc thiểu số Tây Nguyên, trong buôn làng có nhiều cây pơ lang chứng tỏ sự phồn thịnh vì đã tổ chức được nhiều lễ hội, phát triển thêm được nhiều gia đình. Pơ lang được xuất hiện trong nhiều nhạc phẩm cũng như các tác phẩm văn học. Nhạc sĩ Đức Minh đã tạo nên một bức tranh hùng vĩ, thơ mộng mà điểm sáng là hình ảnh cô gái của núi rừng Tây Nguyên xinh đẹp, can trường; là hạt nhân của những đại gia đình trong xã hội mẫu hệ qua nhạc phẩm Em là hoa pơ lang. Tác giả Huy Du cũng có nhạc phẩm Hoa mộc miên nói về tình hữu nghị hai dân tộc Việt-Trung.

- Chim kơ tia (tiếng Êđê), người miền xuôi gọi là con chim vẹt hoặc con chim két. Ở Tây Nguyên, loại chim này thường xuất hiện thành từng đàn rất đông vào dịp bắp (ngô) trên nương rẫy bắt đầu có thể thu hoạch được (vào khoảng tháng 9, tháng 10). Chúng sà xuống đâu là phá tan hoang rẫy bắp ở đó. Tuy nhiên, mỗi chiều thu nhìn lên bầu trời, đàn kơ tia như một đám mây đa sắc trông cũng thật hấp dẫn. Nhạc sĩ Tố Hải cũng đã rất thành công khi mô tả về loài chim này qua nhạc phẩm Sông Đăk rông mùa xuân về. Tuy nhiên, mùa xuân không phải là mùa kơ tia xuất hiện nhiều mà nó thực sự bay về đông đúc nhất vào mùa thu, mùa của bắp.

- Chim chơ rao (chrao - tiếng Bahnar), là loài chim người miền xuôi gọi là bồ chao. Loài chim này theo quan niệm của người Bahnar là loại chim báo tin. Theo họ, khi đi đường, nếu chim kêu phía tay phải hoặc phía trước mặt thì đó là tin lành (điềm lành), còn nếu chim kêu phía tay trái hoặc phía sau thì đó là tin xấu (điềm xấu). Chim chơ rao mà tác giả Thu Bồn lấy làm đối tượng phản ánh trong Bài ca chim chơ rao (Trường ca, 1962) là loại chim này3. Còn theo tiếng J’rai và tiếng Êđê, chơ rao là con chim sáo4. Ở miền Trung, có người cho rằng chơ rao là chim chèo bẻo5.

- Chim pratôc, trong bài hát Cánh chim báo tin vui, nhạc sĩ Đàm Thanh muốn nói tới là con kơ tơp (tiếng Bahnar) - tức con chim bồ câu, chim đưa thư. Cũng theo ngôn ngữ dân tộc này, kơ tơp bri là con chim cu gáy.

- Chim phí, người Êđê gọi là chim Bh^, loại chim có lông ở thân màu xanh, ở ngực màu vàng, mào màu đen (thân hình giống con chim chào mào). Người Êđê rất thích loại chim này vì nó rất đẹp, hót hay. Hiện nay ở Tây Nguyên, nhiều người nuôi làm chim cảnh. Trong sáng tác của mình, nhạc sĩ Y Phol Ksơr gọi là chim phí (hoặc pi) là để dễ phát âm, dễ hát (bài hát Chim phí bay về cội nguồn). Gần đây, đạo diễn Đặng Lưu Việt Bảo xây dựng bộ phim về đề tài cô gái Êđê cũng lấy tựa đề trên. Người dân tộc thiểu số Bắc Tây Nguyên (ở vùng Gia Lai giáp Kon Tum, có địa phương gọi phíchim nói chung). Theo chúng tôi, chim phí chính là loại chim người Êđê gọi là Bh^. Người con gái xinh đẹp trong Sử thi Dăm Săn cũng mang tên loài chim này. (Hơ Bhi - H’Bh^).

3.2. Những tín hiệu nghệ thuật ghi dấu ấn qua các địa danh

Một số địa danh xuất hiện trong các tác phẩm viết về Tây Nguyên đã làm cho nhiều người băn khoăn về sự tồn tại của nó cũng như tính chính xác trong cách thể hiện (cách viết, cách đọc). Cùng một tác giả (Nguyễn Cường) nhưng trong ba tác phẩm viết về thành phố cao nguyên Dak Lăk lại có những tên gọi khác nhau (Ban Mê - Ly cà phê Ban Mê; Ban Mê lộng gió - Hơ Jen lên rẫy; Buôn Ma Thuột - Còn thương nhau thì về Buôn Ma Thuột). Trong các trang thông tin về du lịch của thành phố này thì đều viết Thông tin du lịch Buôn Mê Thuột. Trước 1975, người dân ở đây thường gọi là Ban Mê Thuột. Vậy tính xác thực của nó? 

Chúng ta biết rằng, Buôn Ma Thuột là một buôn do tù trưởng Ama Thuột đứng đầu (trưởng buôn). Buôn là đơn vị cư trú của người Êđê, giống như làng của người Việt, bản của các cư dân miền núi phía bắc, sóc của cư dân Stiêng và Khmer, bon của đồng bào M’nông,... Ban Mê Thuôt là cách phiên âm của người Pháp bởi tổ hợp từ Buôn Ma Thuôt của tiếng Êđê. Khi Đại lý hành chính (trung tâm hành chính tỉnh Dak Lăk giai đoạn 1899 -1903) đang đóng tại vị trí của Bản Đôn - một bản của người Lào lập ra để giao thương với người bản địa. Người Pháp gọi là Bandon (bản Đôn, tức làng Đảo - theo tiếng Lào). Sau khi Đại lý hành chính chuyển về buôn của tù trưởng Ama Thuột (1904), người Pháp vẫn quen gọi buônban (bản). Me được lấy từ âm đầu của từ monsieur (ông - tiếng Pháp) khi phiên âm (me-si-eu), còn Thuột là tên riêng, vẫn được giữ nguyên. Như vậy, trong khi người Pháp gọi là Banmethuot (bản ông Thuột) thì người Việt đọc là Ban Mê Thuột. Người Êđê gọi là Buôn Ma Thuôt (buôn ông Ama Thuôt) thì người Việt phát âm thành Buôn Ma Thuột. Tiếng Êđê không có thanh điệu, đúng ra phải đọc là Buôn Ma Thuôt. Buôn Mê Thuột là cách gọi lẫn lộn giữa hai cách gọi trên. Ban Mê, Buôn Mê là cách gọi rút gọn. Thực ra trong cách gọi của người Pháp có chút nhầm lẫn. Đây là bản (buôn) của ông Ama Thuôt - tức bố của ông Y Thuôt (chứ không phải là “bản ông Thuôt”  

Với địa danh Buôn Đôn cũng có tình hình tương tự. Trong các tác phẩm của mình, tác giả Nghiêm Khánh cũng như nhiều nhà văn khác đều víết là Buôn Đôn (Bút ký Buôn Đôn; Chiều thu - ta và Buôn Đôn; Buôn Đôn - gần mà xa). Tác giả Phạm Tuyên thì viết Chú voi con ở Bản Đôn. Các tổ chức thuộc ngành du lịch và Nông Lâm nghiệp thì đều quảng cáo cho Du lịch Vườn quốc gia Yok Đôn,... và hầu như tất cả đều đề cập đến cùng một đối tượng địa danh. Về tên gọi Bản Đôn, chúng tôi đã đề cập ở trên là tên gọi của một bản người Lào lập ra (ban đầu khoảng 20 ngôi nhà sàn). Vì nằm ở giữa khu vực thác Bảy Nhánh nên bản này giống như một ốc đảo (don, đọc là đon - tiếng Lào tức là đảo. Người Pháp phát âm don thành đôn). Thực tế trên toàn khu vực thuộc địa bàn huyện Buôn Đôn bây giờ thì xưa kia chỉ có Bản Đôn là có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng mà những người làm nghề này lại chủ yếu là người M’nông. Vì vậy, nói đến voi ở Dak Lăk là nói đến voi Bản Đôn. Xưa kia ở đây không ai gọi là Buôn Đôn mà thực tế thì gần khu vực này có một buôn của người Êđê gọi là buôn Tr^, sau này nhập chung với Bản Đôn thì gọi chung là buôn (Buôn Tr^ A và Buôn Tr^ B). Ở Dak Lăk, người dân thường không quen với việc gọi đơn vị cư trú làngbản mà gọi là buôn. Bởi vậy, người dân ở đây thường gọi là Buôn Đôn (theo cách gọi của người Êđê (người M’nông gọi là bon). Địa danh Yok Đôn lại từ một nguyên cớ khác. Thực chất địa danh này có tên là Yôk Đôn. Yếu tố yôk có âm đọc gần giống với dốc của tiếng Việt (tiếng M’nông có nghĩa là núi thấp (núi cao gọi là nâm), còn yếu tố don (đọc là đôn) có nghĩa là đảo - tiếng Lào như đã nói ở trên). Như vậy Yôk Đôn là sự kết hợp giữa một yếu tố của ngôn ngữ M’nông và ngôn ngữ Lào trong cách gọi ngọn núi ở khu vực này, một ngọn núi tuy không cao lắm nhưng là điểm cao nhất, nổi lên như một ốc đảo giữa một vùng rừng núi có độ cao trung bình khoảng 400 m. Đây là một khu vực hội tụ các tộc người như Êđê, M’nông, Lào (thậm chí hiện có gia đình mang huyết thống của cả ba dân tộc) nên địa danh ở vùng này khá phong phú và phức tạp. Dòng sông lớn nhất chảy qua được đặt tên bằng ngôn ngữ Lào (Sêrêpôk).

Làng Xô Man trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một làng có thật, tuy nhiên không phải có cái tên như vậy. Cuộc sống du cư nay đây mai đó nên dân làng ở đây rất khó xác định địa điểm chính xác của làng lúc bấy giờ. Theo anh Đinh Như Rươn (con trai cả của cụ Đinh Môn - tức cụ Mết) thì ngôi làng gọi là Xô Man xưa có thể ở cách làng bây giở khoảng 70 km, và hình như nó đã lẫn đâu đó vào rừng già mà ngay cả khi còn sống thì cụ Mết cũng chưa bao giờ trở lại được nơi ấy kể từ sau năm 1975. Làng mới Xô Man bây giờ cách thị trấn Đắc Lây (Đăk Glei) khoảng 30 km, có tên là làng Xốp Nghét, thuộc xã Xốp, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum. Cũng như làng Kông Hoa trong Đất nước đứng lên tên thật là làng S’tơ, thuộc xã Tơ Tung, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai. Tên làng Kông Hoa là Nguyên Ngọc sáng tạo ra. Các dân tộc bản địa ở Kon Tum phần lớn gọi làng kon, dân tộc Gié - Triêng gọi là plei hay plei - tum. Tên gọi Kon Tum xuất phát từ lý do này. Người Kinh trước đây thường có cách phát âm thành Kông, viết là Kông hoặc Công (tỉnh Công Tum hoặc Kông Tum). Nguyên Ngọc đã dùng thành tố Kông (thành tố chung) làm một bộ phận cho thành tố riêng của địa danh mà tác giả thể hiện trong tác phẩm của mình. Như vậy, làng Kông Hoa hay làng Xô Man trong các tác phẩm của Nguyên Ngọc-Nguyễn Trung Thành đều là những đối tượng có thật nhưng tên gọi là do tác giả sáng tạo ra. 

Upload

Nhà rông, nhà truyền thống của đồng bào dân tộc tở Tây Nguyên

3.3. Về nhân danh

Các tộc người Tây Nguyên có cách gọi tên người khá đa dạng. Người Êđê sống chủ yếu ở Dak Lăk theo chế độ mẫu hệ, đặt tên truyền thống theo thứ tự: tên đệm, tên chính (tên cá nhân) đến tên họ, (giống cách gọi tên của người phương tây). Trước tên cá nhân có một yếu tố làm ký hiệu phân biệt giới tính (quan niệm trong nhân danh học gọi là tên đệm), với giới tính nam có Y, giới tính nữ có H’(có âm đọc là hơ). Ở các dòng họ lớn, sau tên họ còn có tên nhánh họ. Ví dụ: Y Ngông Niê Kdam, được hiểu là người đàn ông có tên là Ngông, thuộc dòng họ Niê, nhánh họ Kdam; H’Mai Mlô Duôn Du, được hiểu là người phụ nữ có tên là Mai, thuộc dòng họ Mlô, nhánh họ Duôn Du. Về nguyên tắc gọi tên phải phát âm liền yếu tố chỉ giới tính và yếu tố tên cá nhân. Trong một tác phẩm sử thi của người Êđê - Sử thi Đăm Săn (Dăm Săn) thì Dăm không phải là một thành tố của tên riêng mà mang nghĩa là người đàn ông mạnh mẽ, có sức khỏe phi thường, quả cảm, luôn sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì cộng đồng được mọi người quý mến, vị nể như cách gọi người anh hùng, dũng sĩ của người Việt (Trong tiếng Êđê và Jrai, dăm có nghĩa là cưng, một cách xưng hô thể hiện sự ngưỡng mộ và trìu mến đối với người con trai). Yếu tố Săn mới là thành tố của tên riêng. Đây là một người dũng sĩ được tác giả dân gian xây dựng mang tính biểu tượng nên không mang tên họ (và cũng không có yếu tố đệm chỉ giới tính, bởi dăm chỉ đặt riêng cho nam giới mà thôi) mà chỉ mang tên cá nhân đứng ngay sau yếu tố chỉ phẩm chất (Dăm Săn). Cũng như Anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên là để gọi tên một người con anh hùng dân tộc Bahnar có tên Đinh Nup (và tên khác nữa là Sar) trên cơ sở kết hợp tên cá nhân với thành tố mang ý nghĩa về phẩm chất. Trong thực tế, người Êđê cũng ít đặt tên con trai mình là Săn. Tiếng Êđê không có thanh điệu nên khi đọc, thường dựa trên cơ sở âm cuối để phát âm. Ví dụ, hai chị em trong sử thi Dăm Săn có tên là Hơ Nhi (H’~i\) và Hơ Bhi (H’Bh^), có ký hiệu âm ^ như trong ngôn ngữ Êđê thì đọc cao giọng lên một chút (tương tự thanh 1 trong thanh điệu tiếng Việt) chứ không đọc thành Nhí, Bhí và cũng không đọc thành Nhị, Bhị như phần lớn giáo viên ở miền xuôi dạy tác phẩm này từng phiên âm. Đối với dân tộc J’rai, một tộc người cùng sử dụng ngôn ngữ thuộc dòng Mã Lai-Đa Đảo như Êđê, nhưng trong văn hóa đặt tên người truyền thống của dân tộc này thường theo trình tự tên họ rồi đến tên cá nhân, ở giữa có thể có hoặc không có tên đệm như cách đặt tên riêng của người Việt. Tên đệm của tộc người này chủ yếu dùng gọi tên của phái nữ. Ví dụ Siu Pơi (người đàn ông có tên họ là Siu, tên cá nhân là Pơi); Nay H’Tuyết (người phụ nữ họ Nay, tên là Tuyết); Ksor Jin (người đàn ông có tên họ là Ksor, tên cá nhân là Jin). Tuy nhiên, một số cư dân hai tộc người này cư trú lâu đời gần nhau trên một địa bàn thì có cách gọi tên khá giống nhau. Ví dụ một số người J’rai sống gần khu vực người Êđê cư trú tập trung cũng có thể gọi tên theo truyền thống của J’rai, cũng có thể theo cách gọi tên của người Êđê (và ngược lại). Ở Tây Nguyên, một số tộc người không có thuật ngữ riêng để chỉ dòng họ hoặc có nhưng rất lỏng lẻo, chỉ dựa vào đặc trưng địa hình hoặc sở thích của nhóm dân tộc để đi kèm với tên thật mà rất ít người quan tâm, phần lớn chỉ có yếu tố chỉ giới tính đi kèm tên cá nhân. Chẳng hạn, dân tộc Sedang, nam giới có A đứng trước (A Vương), nữ gới có Y (Y Một). Dân tộc M’nông, các nhóm sống gần hoặc đan xen với một số nhóm người Êđê thì khá giống với dân tộc này, đều mang họ mẹ và cách gọi tên cũng tương tự như người Êđê, trong lúc một số nhóm tộc người khác thì nam giới có Điểu hoặc K’ (Điểu Kâu, K’Bê), nữ giới có Thị (Thị Lan). Họ của người M’nông chủ yếu được xác định qua lời kể của người già về mối quan hệ dòng tộc (kể họ). Một trong những nội dung của Sử thi M’nông Nkoch rnoi deh konsau me Chêp (Kể dòng con cháu mẹ Chếp) đã thể hiện rõ điều này. Chẳng hạn đoạn trích sau đây:

         U Chêp bă d^ng saơ u Chăp                   (Bà Chêp sinh ra bà mẹ Chăp)

         U Chăp bă d^ng saơ u Chau                   (Bà Chăp sinh ra bà mẹ Chau)

         U Chau bă d^ng saơ Grên me Grăn       (Bà Chau sinh ra bà mẹ Grên, Grăn)

         Me Grăn bă saơ Kuah me Bong             (Mẹ Grăn sinh mẹ Kuah mẹ Bong)

         Me Kuah bă saơ Srưt ma Prăk...            (Mẹ Kuah sinh mẹ Srưt mẹ Prăk)...

Có thể hình dung lịch sử dòng họ của người M’nông qua ‘tự truyện” của họ: “Lúc đầu sinh ra trăng sao, cây cỏ, muôn loài. Sau đó mẹ Chêp sinh ra mẹ Chăp, mẹ Chăp sinh ra mẹ Chau, mẹ Chau sinh ra mẹ Grên, Grăn,...Từ các bà tổ đó sinh ra 53 dòng họ M’nông, mỗi dòng họ do một bà mẹ đứng đầu, các con lấy tên của mẹ làm họ”. Mục đích chính là để nhận biết mối quan hệ huyết thống nhằm tránh tình trạng hôn nhân cận huyết. Những thực tế trên đã gây ra rất nhiều khó khăn trong công tác quản lí nhân sự của địa phương. Bản Đôn là nơi hội tụ của cư dân Lào và M’nông. Vì sống cùng địa bàn với người Êđê nên người Mnông ở đây đặt tên và mang họ giống người Êđê. Chẳng hạn: Y Thu Knul (tức tên thật của vua voi Y Thu Khun-Ju-nôp).

Cụ Mết trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, người dân tộc Gié - Triêng là nhân vật có thật, tên thật của cụ là Đinh Môn, cụ có nhiều con cháu, có người được ra miền Bắc học tập, sau giải phóng về công tác tại địa phương. Hầu hết mọi người trong đại gia đình của cụ đều đang sinh sống tại quê hương. Cụ Mết qua đời năm 2000.

Việc không xác định được cụ thể cách thức đặt tên người của các dân tộc thiểu số bản địa ở Tây Nguyên đã dẫn tới việc viết hoặc đọc tên riêng của cư dân các tộc người này trở nên thiếu nhất quán và không phù hợp với văn hóa nhân danh của đối tượng được phản ánh. Chẳng hạn, tên riêng cố Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Nhà giáo nhân dân Y Ngông Niê Kdam, phải được phát âm theo đúng nhóm ký tự như vậy và chữ dam được phát âm thành đăm, trong lúc nhiều người (kể cả trên phương tiện thông tin đại chúng) đọc là Y Ngông Niếk đăm). Một cầu thủ của câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng có tên đầy đủ là Y Chaly Êban (đặt tên theo cách thức của người Êđê), trong đó Y là tên đệm chỉ giới tính nam, Chalytên cá nhân, Êbantên họ. Theo cách gọi thông thường của người Êđê (cũng giống người Việt) là gọi tên cá nhân mà không gọi theo tên họ như nhiều quốc gia phương Tây, mặc dù trình tự trong cấu trúc tên riêng của người Êđê là đọc và viết tên cá nhân trước, tên họ sau. Tuy nhiên, cầu thủ này khi ra sân thường được bình luận viên gọi là Êban - tức gọi theo tên họ mà đúng ra phải gọi là Y Chaly). Nhiều con đường (kể cả ở thành phố cao nguyên Buôn Ma Thuột) mang tên các danh nhân người dân tộc thiểu số địa phương, chỉ được ghi tên cá nhân mà không ghi đầy đủ tổ hợp tên riêng như người Kinh. Ví dụ: đường Y Wang (tên đầy đủ là Y Wang Mlô Duôn Du), đường Y Bi (tên đầy đủ là Y Bi Aliô), đường Y Nuê (tên đầy đủ là Y Nuê Buôn Krông),... trong lúc những con đường mang tên danh nhân người Việt (người Kinh) thì được ghi đầy đủ tổ hợp định danh. Ví dụ đường Nguyễn Chí Thanh, đường Lý Thường Kiệt, đường Nguyễn Du, đường Nguyễn Trãi, đường Lê Duẩn,...

3.4. Về một số vấn đề khác trong hoạt động của đời sống xã hội ở Tây Nguyên

- Cồng chiêng Tây Nguyên. Tiếng Êđê: c^ng hoặc c^ng char; tiếng M’nông: gong hoặc ching; tiếng J’rai: ching; tiếng Bahnar: chênh. Như vậy, người dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên hầu hết gọi là c^ng, chêng, ching (có cách phát âm gần với âm chiêng của người Việt). Người dân tộc Êđê đánh chiêng, gọi là tông c^ng char; người Bahnar gọi loại chiêng bằngchinh, chiêng númchênh, chiêng nhỏ là mông chênh, chiêng cổ là chênh so; người J’rai phân biệt các loại chiêng theo hình thức tấu nhạc: ching arap - chiêng đánh trong hội và lễ vui, ching pơjoar - chiêng đánh cầu nguyện mưa thuận gió hòa, ching tơnah - chiêng phục vụ cho nghi lễ cúng lớn, ching trum - chiêng đánh trong nghi lễ đâm trâu,... Chiêng của các dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên đa dạng về kích cỡ và được sắp xếp thứ tự thành bộ: loại to, đường kính khoảng 60 cm, loại nhỏ khoảng 20 cm. Về hình thức cấu tạo, có 2 loại chính là: chiêng númchiêng bắng. Ngoài ra, một số dân tộc ở đây còn có thêm chiêng xoa. Chiêng núm (chiêng cái - biểu trưng văn hóa mẫu hệ) dùng nắm tay đấm vào núm (hoặc dùng loại dùi mềm có bọc vải để đánh); chiêng bằng dùng bàn tay vỗ vào mặt trong; chiêng xoa kích thước nhỏ, gồm hai cái dùng để xoa vào nhau tạo âm thanh khi tấu nhạc. Thực tế thì cồng chiêng đều có nghĩa chung là chiêng. Người dân tộc thiểu số Tây Nguyên không gọi loại nhạc cụ này là cồng, mà chỉ gọi là c^ng, c^ng char hoặc chinh, chênh. Hiện có người cho rằng cồng là loại chiêng có núm dùng để giữ nhịp trong tấu nhạc. Thực tế thì cồng là do người Việt (người Kinh) thêm vào trên cơ sở dựa vào một nhạc cụ của người Mường có hình thức và chức năng tương ứng mà người Việt đã quen gọi tên. Hiện tượng này là khá phổ biến, chẳng hạn, người Êđê gọi không gian cư trú của mình là buôn, người M’nông gọi là bon, người Lào và nhiều dân tộc thiểu số phía bắc gọi là bản, thì khi nói về nơi cư trú của các tộc người này, người Việt thường có thói quen gọi là buôn làng, bản làng, làng bản (yếu tố làng là của người Việt trên cơ sở lấy tên gọi đơn vị cư trú tương ứng của dân tộc mình kết hợp với nhau). Tương tự như vậy, tên một số nhạc cụ của các dân tộc thiểu số thường được người Việt thêm vào trước một thành tố chỉ loại theo nhận thức chủ quan của mình, chẳng hạn cha pi, là một nhạc cụ làm bằng tre của người Raglai - thân, dây đều bằng tre. Đây là nhạc cụ thuộc bộ dây nên người Việt thường gọi là đàn. Trong lúc người Raglai gọi là cây chapi thì người Việt gọi đối tượng này là cây đàn chapi. Trong nhạc cụ của người Raglai thường có mã la (nhạc cụ thuộc bộ gõ, gồm 3 cái, trước đây nó là nhạc cụ của nhà giàu - nhạc cụ chính), kèm theo có kèn bầu sarakel, sáo talakungchapi. Người nghèo không có điều kiện để sắm mã la thì lấy chapi làm nhạc cụ chính, vì nó bằng tre, loại vật liệu sẵn có và đàn ông người Raglai thì ai cũng làm đươc (Ai nghèo cũng có cây đàn chapi - Trần Tiến). Ta lư của người Vân Kiều, t’rưng của người J’rai, klông put của người Sedang và một số nhạc cụ khác của các dân tộc thiểu số cũng được người Việt gọi tên theo cách như vậy. Hiện nay, một số người (trong đó có cả giáo viên) thường quen nói, và có khi còn ngộ nhận rằng cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ở đây, cần lưu ý 2 vấn đề: Thứ nhất, cồng chiêng là vật thể chứ không phải phi vật thể. Thứ hai, tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa Liên hợp quốc (Unesco) công nhận ”Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại” tức là công nhận hình thức và môi trường diễn xướng cồng chiêng (không gian văn hóa), cụ thể là được xem xét trên các phương diện: a) Các bản nhạc được tấu bằng cồng chiêng, b) Những đối tượng chơi cồng chiêng, c) Các lễ hội có sử dụng cồng chiêng, d) Những địa điểm tổ chức các lễ hội đó. Người Tây Nguyên không làm ra cồng chiêng mà trước đây chủ yếu được mua hoặc trao đổi từ Lào hoặc từ các địa phương miền xuôi. Vì vậy, về phương diện vật thể, cồng chiêng không thể là nét đặc trưng của văn hóa Tây Nguyên.

- Nghi lễ đâm trâu ở Tây Nguyên. Lâu nay, nhiều người (kể cả trên báo chí) cho rằng có một loại lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên. Xin thưa rằng, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên chẳng có một thứ lễ hội nào như thế cả mà họ thường có nghi thức đâm trâu trong những lần mở hội. Đâm trâu là một nghi lễ trong lễ hội, hay có thể nói là một tục lệ không thể thiếu trong lễ hội nhằm thể hiện sức mạnh của con người và sự tôn kính đối với thần linh. Con trâu, tài sản lớn của đồng bào dân tộc thiểu số đã trở thành vật hiến tế trong lễ cúng tế các vị thần, và sau đó cả buôn làng cùng được thưởng thức. Người thực hiện việc đâm trâu được buôn làng chọn lựa. Sau một số nghi thức và màn nhảy múa của cộng đồng buôn làng (có tấu nhạc), người được giao nhiệm vụ đâm trâu phải thể hiện được sức mạnh và kỹ thuật, sao cho chỉ cần một nhát lao là con trâu ngã gục (đâm trâu bằng cây lao, tương tự như ngọn giáo). Như vậy, đâm trâu là một nghi thức trong lễ chứ không phải là một lễ hội.

  1. Kết luận 

Những nội dung đề cập trên đây chỉ là một số tìm hiểu sơ lược bước đầu. Chúng tôi ý thức được rằng, không phải mọi vấn đề về văn hóa Tây Nguyên hiện nay đều đã được lý giải một cách thỏa đáng. Mong được cùng các đồng nghiệp và những ai quan tâm tiếp tục trao đổi, nhằm mục đích đi đến sự thống nhất và hợp lý về cách tiếp cận tác phẩm trong nghiên cứu và giảng dạy.

 Chú thích

      1, 2. Căn cứ số lá ở bẹ lá (thông 2 lá, mỗi bẹ có 2 lá; thông 3 lá, mỗi bẹ có 3 lá)

  1. Để củng cố cho thông tin mà chúng tôi thu thập được qua điền dã, trước khi thực hiện bài viết này, chúng tôi đã trao đổi và được sự đồng tình của anh Lê Hữu Phong, Trưởng phòng Văn hóa huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, tác giả cuốn Từ vựng đối chiếu Việt - Bahnar, Bahnar - Việt, NXB Văn hóa dân tộc, 2008. (nay anh Lê Hữu Phong đã qua đời)
  2. Theo Từ điển Jrai - Việt
  3. Bùi QuangThanh - truyện ký Tiếng chim rừng Bạch Mã.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

     1. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa, tộc người. NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

  1. Trần Văn Dũng (2005), Những đặc điểm chính của địa danh ở Dak Lăk, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn.
  2. Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, Vũ Thị Hồng, Vũ Đình Lợi (1982), Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Dak Lăk, NXB KHXH, Hà Nội.
  3. Lê Trung Hoa (2013) Nhân danh học Việt Nam, NXB Trẻ
  4. Sở Giáo dục & Đào tạo Dak Lăk - Viện Ngôn ngữ học (1993), Từ điển Việt - Êđê, NXB Giáo dục.
  5. Siu Pơi (chủ biên, 1998), Từ điển Jrai - Việt, NXB Giáo dục.
  6. Lê Hữu Phong (2008), Từ vựng đối chiếu Việt - Bahnar, Bahnar - Việt, NXB Văn hóa dân tộc.
  7. Nguyễn Kiên Trường (2009), Từ điển Việt - Mnông, NXB Từ điển Bách khoa.

 


        

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Những năm Tý vẻ vang trong lịch sử (10/2/2020)
Tuổi Tý với danh nhân Việt Nam (7/2/2020)
Tết Nguyên Đán - Những góc nhìn về văn hóa và con người (21/1/2020)
Trao đổi thêm về một số ký hiệu nghệ thuật trong các tác phẩm viết về Tây Nguyên (6/12/2019)
Điện ảnh tài liệu Việt Nam và những câu chuyện làm phim về Bác Hồ (29/11/2019)
Đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học trong giai đoạn hiện nay (11/10/2019)
Đi tìm không gian mới cho Ví, Giặm (11/10/2019)
Ngọn nguồn thực tiễn của một lời Bác Hồ dặn trong Di chúc (7/10/2019)
Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 tới hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (25/9/2019)
Thử bàn về vai trò của Phật giáo trong thời đại công nghiệp 4.0 (9/9/2019)
Để bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa của địa danh Bến Thủy (7/9/2019)
Công tác tập huấn du lịch cộng đồng cho người dân miền Tây Nghệ An (12/8/2019)
“Nghệ An cần thống nhất cách hiểu và xác định sản phẩm đặc sản của mình” (12/8/2019)
Nghệ An cần phải xây dựng và phát triển một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực, hướng tới ba mục tiêu “khối lượng lớn, chất lượng cao và thương hiệu mạnh” (12/8/2019)
Bảo tồn và phát triển sản phẩm đặc sản của Nghệ An (7/8/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
 Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,019 | Tất cả: 2,085,502
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp