KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Chơi trăng
Tin đăng ngày: 6/12/2019 - Xem: 77
 

                                                                                                     Quán Vi Miên

1. Trong ký ức tuổi thơ của tôi, những đêm “chơi trăng” (nhai bươn) hầu như không phai mờ. Tất cả còn đó, mồn một: Ánh trăng vằng vặc, núi rừng mờ ảo, bản mường Thái bình yên… Chỉ có sân bản là ồn ã bọn trẻ chơi đùa. Trăng sáng quá, gần quá, thân thương quá. Đêm nay đêm trăng sáng/ Tối này tối sáng trăng/ Trăng sáng như gà bóc/ Trắng bóc như bột tấm/ Trắng như muối nhúng nước/ Trắng như cá, như mắm đầy ắp đầy tràn”. Trên mặt trăng có cây đa và anh Thói bị ông tiên (xáy thiến) bắt lên vì hay lừa đảo mọi người; có nàng Ò bị ông trời (pỏ phạ) đày lên vì nàng chửa hoang… Bao nhiêu là chuyện tưởng tượng nữa của đầu óc non thơ. Dầu sao, trăng vẫn rất đẹp, gần gũi.

2. Nào, mời trăng (nàng Ò/Quắc/Quảnh) xuống chơi với “chúng tao”:

Quắc/Quảnh áo vải tơ duyên dáng/ Mẹ mày dựng lều rẫy người cuốc/ Mẹ mày dựng lều ruộng người làm”. Chúng tôi “bày” ra bao nhiêu là trò chơi. Chỗ này nhảy dây, chỗ kia nắm tay nhau thành vòng tròn và hát: “… Hai cô gái giã gạo/ Hai ông già nhổ râu cổ kì đà/ Chim cuốc biết ru con ngủ ngày/ Châu chấu biết thổi sáo/‘Ma Phốngở dưới sàn/ Đười ươi luồn dưới thang/ Ong bắp cày gặm mái gianh ‘ỏn ẻn’/ Hai gái đẹp nhổ mạ/ Hai con ngựa lắc mông/ Hai con ốc chết rữa/ Hai con rùa chết thối/ Hai con cáo bắt gà/ Hai bà già xuống sàn cho lợn ăn/ Hai con rắn bện thừng/ Hai con rồng cổ khoang/ Dế mèn biết bừa ruộng/ Cà cuống biết đeo giỏ đi rẫy/ Ống nứa biết tát chuôm, tát ao/ Chấu chấu khóc ‘con ơi’/ Con sên khóc ‘cháu mự’/ Gà cồ biết đi dọc bờ vườn mía/ Hai con sóc đưa nhau về bản/ Anh lười nhác thổi sáo ‘u u’/ Về bảo chủ đánh cồng/ Về bảo thông gia uống rượu/ Về bảo già, bảo lão đánh sắt, đánh đồng/ Dắt trâu về bản dưới/ Dâu mới lên nhà to/ Bọ Nhống đậu trước cửa sổ/ Bọ Giảng đậu đầu cầu thang/ Bò vẽ đậu giọt gianh đung đưa, đung đưa/ Mo Lào có 2 nải chuối/ Cây chuối 2 nải, ngàn nải/ Cho cháu 1 nải thôi!.../ Ma quỷ đậu cành Tán/ Sóc bay đậu đầu cầu thang/ Trăng vào mây trăng ra/ Ra ngoài mây sáng trong, trắng ngần/ Sáng trong quá đem gương về soi!.../ Trăng vào mây 10 sải, 20 sải trăng ra/ Ra uống nước của người ở mường/ Ra xem cổ người Xá/ Ra xem mặt người Lào/ Ra xem gái Nặm Tòn/ Ra gài đó, gài đăng nước bể, nước biển…/ Ngựa anh cả ăn dâu/ Đười ươi biết giã gạo, vào lỗ/ Con cua biết bện thừng/ Con rồng biết thổi khèn/Ai có bông lấy bông xuống se/ Ai có sợi đem sợi xuống kéo/ Quay như người ta quay guồng/ Vòng như người ta vòng (bện) rế…/ Gái dệt vải sợi mảnh/ Mong dày không dày/ Gái dệt màn dệt chăn hằng đêm…”. Bài hát vòng đi vòng lại không bao giờ dứt, như trò chơi của chúng tôi vậy.

Cũng có đêm chúng tôi bày trò chơi “nàng rọ”, chính là hình nộm “nàng trăng/nàng Ò” nói ở trên. Chúng tôi đan 1 cái rọ, đem phết giấy, vẽ hình mặt người con gái, lấy que xuyên qua làm tay chân, cắm que cho nó đứng được. Rồi “hát/gọi” nàng trăng xuống, “hỏi” nàng về “duyên số” của mình… Chúng tôi đứng vây quanh “nàng”, hát bài “tạ nang xòng” (gọi nàng rọ). «Hãy xuống đây nàng Quắc/ Nàng dại điên chớ xuống!/ Mời!/ Mời nàng xuống ngồi nong Mạy Kết (tre) đan chéo/ Mời nàng xuống ngồi nong tre đan lóng đôi/ Mời nàng xuống ngồi nong tre đan lóng đôi/ Ngồi nghìn năm nghìn tháng không hỏng/ Ai vía nặng như ghế đừng xuống/ Ai vía nặng như đá đừng xuống/ Hãy xuống đây đi, hỡi nàng Quắc/ Hãy xuống đây đi, hỡi nàng trăng!/ Muốn chơi, xuống bãi trâu/ Muốn nhởi xuống bãi voi/ Trăng sáng tỏa lắm trai nhiều gái/… Muốn chơi xuống chơi chuồng trâu/ Muốn nhởi xuống nhởi chuồng voi/

Nơi này rộng trai gái son trẻ/ Mời nàng xuống ngồi sàng thóc cho vịt gái đuổi/ Mời nàng xuống ngồi sàng thóc cho gà gái vãi/ Ai là tình nhân ăn trầu trong hộp/ Ai là tình nhân nhai cau trong khăn/ Ai là chồng là vợ tôi/ Cho tôi mơ thấy đêm trước, đêm nay!.../ Gái mơ thấy nàng mỗi đêm/ Đêm trăng sáng gái nhỏ muốn chơi/ Đêm sáng trăng gái trần gian muốn nhởi/ Ai muốn chơi lấy ống thóc vịt xuống vãi/ Ai muốn nhởi lấy ống thóc gà xuống vung/ ‘Ò è’ con vịt cái/ Vịt cái ‘quấn’ lưỡi ngan/ Người bản dưới đừng tính/ Người bản trên chớ đếm/ Hãy đếm chúng tôi đây/ Hãy tính chúng tôi ở đó!/ Cùng với nàng rọ Quắc…/ Xuống với cây nhiều cành/ Xuống với rừng nhiều vũng suối/ Xuống chơi với ống thóc cho vịt gái đuổi/ Xuống với ống gạo cho gà gái vãi/ Xuống với đầu lợn, đầu chó, vào với người tình/ Xuống phía đầu mương vịt bươi trấu/ Xuống phía đầu hái đầu liềm gặt lúa ngoài ruộng/ Xuống sàn (hạn khuống) rộng, sàn to ngoài ruộng với người tình/ Với người tình ở bản giữa/ Với nàng ở bản dưới…”. Cái hình nộm đu đưa, chỉ “tay” vào người này, người kia. Mọi người nghĩ là “nàng trăng” đã “nhập”, và nàng chỉ là  “đúng duyên số” của mình. Những tràng cười “ồ” lên vui vẻ… Cuối cùng, trước khi kết thúc cuộc chơi, chúng tôi hát bài “tiễn trăng về”: “Nàng xuống với sương cho về với sương/ Nàng ra với mưa với gió cho về với mưa với gió/ Về với mưa với gió ‘ù à’/ Về với bạn với bầu về tới trăng sao nhé!/ Này này, ơi nàng rọ!/ Em gái út nàng trăng/ Xuống mường được nhiều ngày thì về/ Đến chơi được nhiều ngày/ Trăng dậy trăng về/ Về khỏe nhé!/ Nhớ mang lấy túi gạo/ Nhớ mang đòn gánh nước/ Về tốt như ốc rỗng/ Về nhẹ như ốc ruộng/ Đừng trêu kẻo không hay/ Chớ chọc kẻo không tốt/ Đừng để cho ai phải đau bụng, muốn mửa, nhức đầu!...”. Có 1 chút “tín ngưỡng” (sợ hãi) trước tự nhiên ở trong đó! Trò chơi này vui đến nỗi các chị, các bà cũng xuống tham gia!

Có đêm chúng tôi bày trò chơi “đếm hoa nong” (ản lai đùng). Chúng tôi lấy cái nong gạo, lật úp xuống, rồi dùng vôi vẽ 3 vòng tròn đồng tâm; sau đó kẻ 15 đường kính, chia nong thành 39 ô; đánh số thứ tự từ vòng trong ra ngoài, lần lượt từ số 1 đến số 39. Nhìn nong được «vẽ» các con số giống như «hoa văn», nên người ta gọi trò chơi này là «đếm hoa nong». Bài hát «ản lai đùng» có 3 bài chính (ngoài ra còn nhiều dị bản); 1 bài 39 câu, ứng với 39 ô trên nong; bài 2 có 35 câu, ứng với 35 ô (thiếu 4 ô cuối cùng); bài 3 có 65 câu (thừa 26 câu; lại đếm quay vòng lại). Bắt đầu chơi, tất cả đứng vòng quanh nong, có 1 người cầm trịch; mỗi người chọn lấy 1 số trên nong. Người cầm trịch đọc từng bài một; đọc xuôi hoặc đọc ngược; tùy theo yêu cầu của người chơi; rồi «luận» về “duyên số”.

Bài 1: “1. Chương  (vị anh hùng) ơi Chương!/ 2. Chạng (cách gọi khác của ‘Chương’ ơi chạng!/ 3. Tháng tốt ‘va’ (gặp) tháng tốt ‘lanh canh’ uống rượu/ 4. Sương tụ bên cửa sổ mịt mùng/ 5. Về bảo em để em đừng than/ 6. Về bảo nàng để nàng đừng khóc/ 7. Khóc nhiều kẻo vía lạc/ 8. Khóc lắm kẻ vía buồn/ 9. Vía lạc vía buồn chuồng bò chuồng trâu đừng tìm/ 10. Vững bền cả ngàn năm/ 11. Bỏ đi thì ‘ngàn’ buồn/ 12. Buồn tôi buồn ‘vạn’ (nhiều) nào ‘chương’ ơi?/ 13. Buồn tôi buồn cả ‘vạn’ về ‘chương’/ 14. Ống vôi bạc vôi vàng ‘chương’ gửi/ 15. Bổ cau cho ‘chương’ ăn (trầu)/ 16. ‘Chương’ ăn ‘chương’ cầu khẩn/ 17. Được lúa ‘vạn’ (nhiều) về chất đống/ 18. Hai mươi gian nhà nàng khang trang / 19. Có nước vàng nước ngọc về thếp/ 20. Cảm ơn nước ngọc-vàng về bọc/ 21. Bố (then/bôn/ông trời) ban cho về tưới ruộng nào?/ 22. Bố ban cho về tưới ruộng dài (to)/ 23. Đi đường gặp đường mòn/ 24. Của bố (nước) thì đắt (quý) lắm/ 25. Của mẹ (bà then/bôn) (ruộng) thì đắt nhiều/ 26. Đắt lắm đắt hơn cả/ 27. Bặn lên sào màn cả ngàn tấm (vải)/ 28. Ngủ ban đêm thổn thức khóc than/ 29. Khóc nức nở nước mắt ướt gối/ 30. Khóc sụt sùi nước mắt ướt đệm/ 31. Ướt gối tơ gối vải gác đầu/ 32. Hông trấu men nhồi chum vác (chum nhỏ)/ 33. Ủ rượu vào chum to/ 34. Được ăn cua ăn cá nhờ đầy tớ (dân)/ 35. Cá chua dựng chân giường/ 36. Cá ao dựng chân buồng/ 37. Ông nội ở chân buồng ru cháu/ 38. Nàng hai ở đầu sàn ru cháu cùng em/ 39. Xá (Khơ Mú) chỉ ước được một vụn vàng”.

Bài 2: “1. Phúc đàn bà thế nào?/ 2. Phúc đàn bà phúc nhiều/ 3. Phúc đàn ông phúc “lên” (vượng)/ 4. Phúc vượng lên đến đâu?/ 5. Phúc lên tận bãi vàng/ 6. Gái ăn diện về màn (cưới)/ 7. Gái ăn diện về chồng/ 8. Về chồng không nối tóc (để búi)/ 9. Ăn diện không hỏi chồng/ 10. Ủ rượu để gian ngoài qua mắt (để dành)/ 11. Dậy đánh cồng đánh chiêng uống rượu/ 12. Nhà 22 gian dựng bãi bằng cuối thung/ 13. Xá giật vú bú sữa/ 14. Xá giật vú bú ‘nước’/ 15. Bụng dạ ‘đắng’ đàn bà không hay/ 16. Bụng dạ đắng đàn ông không tốt/ 17. Nước ở mỏ-nguồn tưới ruộng nào?/ 18. Nước ở mỏ-nguồn tưới ruộng dài (to)/ 19. Đi đường gặp đường mòn/ 20. Của bố nước thì đắt (quý) lắm/ 21. Của mẹ ruộng thì đắt nhiều/ 22. Đắt lắm đắt hơn cả/ 23. Bặn lên sào màn cả ngàn tấm (vải)/ 24. Ngủ ban đêm thổn thức khóc than/ 25. Khóc nức nở nước mắt ướt gối/ 26. Khóc sụt sùi nước mắt ướt đệm/ 27. Ướt gối tơ gối vải gác đầu/ 28. Hông trấu men nhồi chum vác (chum nhỏ)/ 29. Ủ rượu vào chum to/ 30. Được ăn cua ăn cá nhờ đầy tớ (dân)/ 31. Cá chua dựng chân giường/ 32. Cá ao dựng chân buồng/ 33. Ông nội ở chân buồng ru cháu/ 34. Nàng hai ở đầu sàn ru cháu cùng em/ 35. Xá chỉ ước được một vụn vàng”.

Bài 3: “1. Chương ơi Chương!/ 2. Số tốt rơi đúng nhà uống rượu/ 3. Rơi vạn lần/ 4. Nó tự lăn xuống/ 5. Tay thon chạm người tình nắm chặt/ 6. Uống cạn rượu cần nở hoa trắng/ 7. Rượu ở đâu người Thái mở chờ/ 8. Đi đường cưỡi ngựa chân đen ngà trắng/ 9. Cô gái út nhà ai nóng ruột lấy chồng/ 10. Lấy chồng đúng tháng tốt/ 11. Được 7 tấm thổ cẩm/ 12. Đêm ngủ lại khóc thầm/ 13. Khóc thầm lúc nửa đêm ướt gói/ 14. Gối may gối thêu hoa sổ/ 15. Nhưng giống tằm chưa nuôi đầy vò/ 16. Có con gái con trai làm ăn khá lên…/ 17. Phúc con gái phúc gì?/ 18. Phúc con gái phúc nhiều/ 19. Phúc con trai đang lên/ 20. Phúc lên chạm nhẫn vàng/ 21. Gái trang điểm chăn màn về chồng/ 22. Lấy chồng không phải độn thêm tóc/ 23. Tối vào nằm cho các em tỏ mắt/ 24. Đầu xù xì như vỏ cây Xá/ 25. Nửa đêm đánh cồng sắt cồng đồng uống rượu/ 26. Xế trưa có người từ xa đến báo/ 27. Giặc dữ đến đầu mường xấc xược/ 28. Nỏ tiếp dưới nước bắn tên/ 29. Khun Chương chết nửa đêm gươm chém/ 30. Nước trong hang trong vắt chảy ra/ 31. Đã có dân cày cấy sẵn chờ/ 32. Đã cày cấy cánh đồng tổ tiên/ 33. Đi đường gặp nàng Ngọm (vợ Chương)/ 34. Giặc vòng qua đã nhiều/ 35. Giặc vòng lại cũng lắm/ 36. Chúng kéo lên tận đỉnh (trời)/ 37. Lên tận chỗ phơi vải 7 tấm/ 38. Đêm ngủ thức dậy đừng khóc kẻo hồn vía buồn/ 39. Buồn em, buồn phúc lộc/ 40. Hãy trèo lên tận đỉnh/ 41. Bổ cau Khun Chương ăn/ 42. Khun Chương ăn không mời/ 43. Được lúa đem về chất đống/ 44. Lo mà dựng nhà ‘22’ (nhà to đẹp) kẻo sập/ 45. Được tắm nước thần là Khun Chương…/ 46. Chương ơi chương, chạng ơi chạng!/ 47. Trăng sáng gái đánh cồng/ 48. Cào cào ngồi giường uống rượu/ 49. Hoa nở đầy gốc buổi chiều hoa gì?/ 50. Hoa nở đầy gốc buổi chiều hoa sen/ 51. Chồng mày chết mày búi tóc bạc/ 52. Về bảo em nhà dưới đừng rên/ 53. Về bảo nàng nhà trên đừng khóc/ 54. Đừng khóc kẻo mê sảng/ 55. Đừng khóc kẻo mơ xấu/ 56. Mơ buồn về tận nguồn suối/ 57. Voi được ở với bố ngàn năm/ 58. Bỏ bố đi càng tệ/ 59. Rời bố đi càng tàn/ 60. Không còn được ở chuồng/ 61. Nằm chuồng bạc chuồng vàng giữa mường/ 62. Được cho uống cho ăn/ 63. Cái ăn cái để dành/ 64. Con khóc từ nhỏ muốn vào nhà nào?/ 65. Con khóc từ nhỏ muốn vào nhà đó!”.

Người được số «may mắn» thì cười vui; kẻ «bị» số «không hay» thì buồn bã, v.v. Tín ngưỡng về các số như sau: Bài 1 (39 ô): (1) Bình thường, tình cảm; (2) Bình thường, tình cảm; (3) Tốt đẹp, có lộc; (4) Buồn, u ám; (5) Có người giúp đỡ, tư vấn; (6) Có người quan tâm; (7) Có người giúp đỡ vui vẻ; (8) Có bạn bè sẵn sàng giúp đỡ; (9) Cẩn trọng với sức khỏe, tai nạn; (10) Có chuyện buồn; (11) Nhớ nhung trong lòng; (12) Nỗi buồn; (13) Nỗi buồn tiêu tan; (14) Sẽ gặp điều tốt lành; (15) Sẽ được ăn uống; (16) Mất cuộc ăn uống, đã có người khác thay; (17) Sẽ có lộc to; (18) Có người giúp đỡ chân tình; (19) Ít lộc; (20) Có người giúp làm việc to; (21) Chuyện riêng không đâu vào đâu; (22) Sẽ có người mang của đến cho; (23) Sắp phải đi đường (có việc); (24) Được đàn ông thương yêu; (25) Được đàn bà thương yêu; (26) Mọi người thương yêu; (27) Sắp được ăn cỗ, ngồi trên, nằm đệm sung sướng; (28) Sắp có chuyện buồn; (29) Sắp có chuyện phải khóc; (30) Nước mắt, buồn phiền; (31) Chuyện buồn đã qua; (32) Sắp được dự tiệc rượu to; (33) Sắp được dự tiệc rượu to với bạn bè; (34) Bạn bè sắp đưa của đến biếu; (35) Cuộc sống sẽ khá lên; (36) Đời sống sẽ thuận lợi; (37) Anh em tình cảm dạt dào; (38) Tình yếu thương chị em đậm đà; (39) Sự sung túc về vật chất đang đến… Bài 2 (35 ô): (1) Số phận hẩm hiu; (2) Số con gái tốt, có lộc, sung túc; (3) Số con trai tốt, có lộc, có tài; (4) Số phận không ổn định, khi lên khi xuống; (5) Số có của cải, giàu sang; (6) Sẽ có chuyện vui; (7) Tình duyên ưng ý; (8) Bạn bè xa lánh; (9) Có kẻ lợi dụng tình cảm của mình; (10) Sẽ có cuộc vui trong tiệc rượu; (11) Sắp được tham gia tiệc rượu; (12) Có gắng hết sức mới thành công; (13) Nỗ lực cạnh tranh mới có tiền; (14) Cạnh tranh cao mới kiếm được của; (15) Công việc ít thuận lợi; (16) Không thuận lợi trong làm ăn; (17) Sẽ có lộc to; (18) Sẽ có người giúp đỡ chân tình; (19) Trước mắt sẽ ít lộc; (20) Sẽ có người giup làm việc to; (21) Chuyện riêng không đâu vào đâu; (22) Sắp tới có người đến cho của; (23) Sắp được ngồi trên ăn cỗ, nằm đệm sung sướng; (24) Trước mắt sẽ có chuyện buồn; (25) Sẽ có chuyện phải rơi nước mắt; (26) Sẽ rơi nước mắt và buồn phiền; (27) Chuyện buồn đã qua; (28) Sắp được dự tiệc rượu to; (29) Sắp được tiệc rượu với bạn bè; (30) Bạn bè sắp đưa của đến biếu; (31) Cuộc sống sẽ khá lên; (32) Đời sống sẽ thuận lợi; (33) Tình cảm anh em dạt dào; (34) Tình yêu thương chị em đậm đà; (35) Sự sung túc vật chất đang đến.

Đây là trò chơi phản ánh ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp sau này của trẻ em. Trò chơi này nhiều người lớn tham gia. Nó mang màu sắc tín ngưỡng đậm hơn.

3. Chơi trăng, không chỉ ngắm trăng, còn ngắm sao (Sao đêm nay sao gì?/ Sao đêm nay sao ma!); dải ngân hà, vũ trụ xa xăm; cả sự vật/con vật/con người… ở gần xung quanh (Đom đóm hơi!/ Bọ xít ăn canh măng chua/ Trẻ con mặc váy hoa/ Con trai mặc quần xanh/ Kéo đi trước cà cuống…/ Đom đóm hỡi!/ Dây xanh vẫy/ Vẫy con tằm/ Dế mèn/ Châu chấu/ Bọ xít ăn bã rượu/ Ống nước to/ Ống nước lớn…). Chơi trăng, nắm được “vòng phát triển/quy luật vận động” của trăng: “Mồng 1 trăng náu/ Mồng 2 trăng trái me treo/ Mồng 3 trăng nghiêng mình soi bóng/ Mồng 4 Xá reo cười đón trăng/ Mồng 5 Thái gọi nhau xem trăng tháng mới/ Mồng 6 trẻ nô đùa dưới sân/ Mồng 7 trăng sửa mình xoay hướng/ Mồng 8 vành trăng khuyết/ Mồng 9 vành trăng chắp/ Mồng 10 trăng đứng trên đỉnh đầu/ 11, 12 trăng vào khuôn sắp tròn/ 13, 14 xua hết bóng đen trăng tỏ/ 15 trăng tròn miệng cối/ 16 trăng sáng tròn vành vạnh/ (hay một nhận xét/đúc kết khác: “15 trăng lặn/ 16 trăng treo)/ 17 ăn hết con vịt trăng lên/ 18 vào giấc ngủ trăng lên/ 19 người già uống rượu hết chum/ 20 gái dệt vải dưới sân tan về/ Trăng khuyết hẳn mồng 1 đầu tháng“.

Chơi trăng! Kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ tôi. Nó đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, vận động, phát triển ngôn ngữ, khám phá, v.v... của trẻ em. Đã xa rồi những kỷ niệm lung linh đó.

 

 

              

      

KHXHNV & Đời sống khác:
Hải Vân sơn trong thơ vua Minh Mệnh (10/2/2020)
Chăm lo xây dựng văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh Nghệ An (6/2/2020)
Đảng qua một bài thơ (3/2/2020)
Bác Hồ với vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng (3/2/2020)
Tết về thương hương mùi già cuối năm (21/1/2020)
Lễ mừng thọ (21/1/2020)
Xuân về xin có một bài ca gửi chúc đồng bào cả nước (21/1/2020)
Tác phẩm "Đạo đức cách mạng" với hành trình cách mạng của Đảng 60 năm qua (21/1/2020)
Năm Canh Tý (1960) ấy và sức sống của những câu thơ, bài thơ Tết của Bác Hồ (16/1/2020)
Lòng kính yêu Đảng qua một bài thơ (16/1/2020)
Người lính trong văn học những năm đầu cách mạng và kháng chiến chống Pháp (30/12/2019)
Chơi trăng (6/12/2019)
Đề xuất một vài hướng đi dạy học tích hợp Ngữ văn trên cơ sở lấy văn bản văn học làm ngữ liệu khai thác (6/12/2019)
Mưa, bão, lụt ở Nghệ An thời trung đại (5/12/2019)
Tư tưởng đoàn kết - Một trong những nội dung cốt lõi của Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh (3/12/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
 Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,053 | Tất cả: 2,085,536
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp