KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Mưa, bão, lụt ở Nghệ An thời trung đại
Tin đăng ngày: 5/12/2019 - Xem: 203
 

                                                        ThS. Mai Thị Huyền

                                                                               Viện Sử học

Nghệ An là tỉnh thuộc duyên hải miền Trung, có đường bờ biển dài, khá thuận lợi trong việc khai thác nguồn tài nguyên biển. Tuy nhiên, đây cũng là vùng không tránh khỏi những cơn bão do biển mang lại. Bão, mưa, ngập lụt, là hiện tượng xảy ra khá thường xuyên ở Nghệ An. Tìm hiểu về mưa, bão lụt ở Nghệ An trong lịch sử nhằm góp phần làm rõ hiện trạng, biện pháp phòng chống, khắc phục của nhà nước quân chủ, từ đó có thể cung cấp một góc nhìn tham khảo trong việc phòng chống thiên tai hiện nay.

Upload

 

Nghệ An luôn là tâm điểm của bão, lũ hàng năm

  1. Vài nét về điều kiện tự nhiên của Nghệ An

Điều kiện tự nhiên ở Nghệ An bao gồm yếu tố sông ngòi, đồng bằng và khí hậu. Chúng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiện tượng bão, mưa, lụt ở vùng này.

Về sông ngòi, Nghệ An có sông Lam (còn gọi là sông Cả), là con sông lớn  của miền Trung. Viết về sông Lam, sách ĐNTNC chép: “Tỉnh Nghệ An có sông Lam Giang, tục gọi là sông Cả, [….] nguồn thứ hai của sông La Hà ở ngọn Cốt Đột núi Khai Trương, chảy về phía đông làm sông Ngàn Phố, đến xã Đỗ Xá hợp với sông La, chảy về phía đông đến xã Bùi Xá, chia một nhánh vào sông Minh, chảy về phía đông đến xã Tường Xá hợp với sông Lam” (1).

Sông Lam có mức độ lũ lụt cao. Phía hữu ngạn của sông còn nhận thêm nước từ mái đông Trường Sơn, qua dòng sông La (Hà Tĩnh) đổ vào, vì vậy lưu lượng nước sông càng lớn. Cũng như các sông trong hệ thống sông miền Trung, sông Lam không hề chảy qua các khu vực trung lưu chuyển tiếp mà qua vùng đồi núi và đổ trực tiếp ra biển Đông. Sự phân chia mùa lũ và mùa cạn ở sông Lam khá rõ rệt. Mùa lũ thường xảy ra từ tháng 8, 9 đến tháng 11, 12. Lũ lên nhanh, có thể gây ngập lụt diện rộng. Hằng năm, lũ sông Lam thực sự là mối đe dọa đối với sản xuất nông nghiệp và đời sống của dân Nghệ An.

Đồng bằng sông Cả ở Nghệ An khá phức tạp, bị đồi núi chia cắt, địa hình tạo thành hai vùng trũng và cao rõ rệt. Châu thổ từ Hà Tĩnh trở vào Nam thì địa hình càng hẹp hơn. Đồng bằng sông Cả được hình thành trên nền đá gốc cũ mài mòn, mặt đất dốc, do vậy lũ lụt lên xuống ở vùng này rất nhanh. Đây là điểm khác biệt giữa đồng bằng miền Trung và miền Bắc. Đề cập đến điều này, Đỗ Đức Hùng cho rằng: “Đồng bằng ven biển miền Trung có nét đặc thù của địa hình và khí hậu khắc nghiệt, ít mưa, lại bị ảnh hưởng gió Lào nên nạn thiếu nước là chủ yếu. Vấn đề đặt ra cho đồng bằng Bắc Bộ là đắp đê ngăn lũ, đào sông tiêu úng […] thì ở miền Trung công việc chính lại là đào sông và kênh dẫn nước, đắp đập giữ nước để tưới tiêu vào mùa khô” (2).

Về khí hậu, lãnh thổ Việt Nam từ phía Đông dãy Trường Sơn kéo dài từ phía Nam dãy Hoành Sơn tới mũi Dinh Miền mang đậm tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Phía Bắc đèo Hải Vân có mùa đông ít hơn miền Bắc và mùa hè chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió Lào (gió Tây khô nóng). Mưa lũ thường xảy ra vào mùa hè. Theo ghi chép trong ĐVSKTT, các trận lụt thường xảy ra vào các tháng 5, 6, 7, 8, thậm chí là tháng 9, 10 Âm lịch. Khí hậu ở các vùng khác nhau đã ảnh hưởng tới cường độ của bão và lượng mưa trong năm. So với các vùng trong nước, Nghệ An có khá nhiều bão, thường là hai năm một lần và đổ bộ vào các tháng 6 cho đến tháng 10. Mức độ và sự tàn phá của bão cũng ở đây cũng nặng hơn các vùng khác.

Như vậy, núi, đồng bằng, sông ngòi và khí hậu là những điều kiện tự nhiên quy định tính chất của thời tiết. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với lượng mưa lớn và số giờ nắng cao, tác động đến sự xảy ra thường xuyên của bão và lũ lụt. Cũng gần giống như điều kiện tự nhiên ngày nay, Nghệ An thời trung đại cũng không khỏi ảnh hưởng bởi những yếu tố trên. Đó là lý do lý giải vì sao mưa, bão, lụt lại xảy ra ở vùng này nhiều hơn các vùng khác trong cả nước.

  1. Mưa, bão lụt ở Nghệ An thời trung đại

Chính sử thời Khúc, Ngô, Đinh, Tiền Lê không có nhiều ghi chép về mưa, bão, lụt ở Nghệ An. Đến thời Trần, nạn thủy tai lần đầu tiên được nhắc đến ở Nghệ An là vào năm 1382. Sử chép rằng sau khi xảy ra nạn thủy tai lớn thì triều Trần đã cho đào sông ở Nghệ An. Như vậy, có thể coi năm 1382 là mốc đánh dấu cho sự kiện xảy ra mưa lụt ở vùng này.

Thời Lê Sơ, sách ĐVSKTT chép là năm 1467, bão diễn ra tại các phủ ven biển: “Nam Sách, Giáp Sơn, Thái Bình, Kiến Xương, nước biển lên to, đê ngăn bị vỡ, lúa má bị ngập, dân ven biển chết đói nhiều. Các huyện ở đầu nguồn và ven biển thuộc Nghệ An cũng bị thủy tai” (3). Cương mục ghi rõ hơn: “Các huyện ở đầu nguồn và bãi biển thuộc Nghệ An phần nhiều bị nước phá hoại” (4). Trận mưa to trong hai ngày liền vào tháng 8 năm Tân Hợi (1491), khiến tường điện Kính Thiên bị đổ, nước ngập sâu hai thước hai tấc. Mức độ ngập lụt không chỉ ở khu vực Kinh thành mà cả vùng Thanh Hóa, Nghệ An và Thuận Hóa cũng chịu ảnh hưởng của nước lũ.

Thời Lê Trung hưng, năm 1559, Nghệ An có thủy tai lớn, tới mức độ: “Nước tràn ngập, làm trôi đến vài trăm nhà” (5). Tháng 10 năm 1756, Nghệ An có mưa to, nước ngập khiến lúa bị mất.

Thời Nguyễn, trận bão nặng xảy ra ở Nghệ An vào năm 1842. Thực lục chép: “Nghệ An có bão lớn (bão nổi từ canh 2 đêm, đến sáng rõ mới dứt). Nước biển dâng lên quá mức thường 13-14 thước. Có 40.753 hộ nhà cửa bị đổ nát, 696 chiếc thuyền buôn và thuyền đánh cá bị chìm đắm, 5.240 người dân bị chết bẹp hoặc chết đuối. Đặc biệt là những dân ven biển ở các hạt Đông Thành, An Thành và Chân Lộc càng bị hại nhiều hơn (hạt An Thành có thôn hơn 300 người, chỉ còn sống hơn 10 người)” (6).

Đặc biệt, dưới thời Tự Đức (1848-1883), trận bão to ở Nghệ An đã làm sập tường, đè chết 9 người, trong đó có 1 tú tài đang tham gia kỳ thi Hương (7). Đặc biệt dưới thời Đồng Khánh, năm 1887, không chỉ có Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị mà Nghệ An cũng bị bão lụt, ruộng lúa phần nhiều bị ngập tổn hại, dân bị đói to (8).

Hiện tượng mưa, bão, lụt ở Nghệ An thời trung đại được thể hiện trong thống kê sau:

Thống kê về mưa, bão, lụt ở Nghệ An thời trung đại

TT

Thời gian

Triều vua

Số lượng/

năm

Mức độ

Nguồn tư liệu

1

1382

Trần Phế Đế

(1377-1388)

1

Tháng 7, có nạn thủy tai lớn.

Cương mục, I, Sđd, 2007, tr. 646.

2

1467

Lê Thánh Tông

(1460-1497)

 

1

Các huyện ở đầu nguồn và ven biển thuộc Nghệ An cũng bị thủy tai.

ĐVSKTT, II, Sđd, 1993, tr. 427.

3

1491

 

1

Tháng 8, mưa to suốt ngày đêm không ngớt.

Cương mục, I, Sđd, 1998, tr. 1138.

4

1557

Mạc Phúc Nguyên

(1546-1561)

1

Bấy giờ trời hay mưa dầm, liên miên hàng tuần không tạnh. Lúa miền Thanh, Nghệ phần nhiều bị ngập và hư hại.

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr. 136.

5

1559

 

1

Tháng 8, Nghệ An, nước lũ tràn ngập, đê điều, đường sá bị vỡ lở, trôi mất vài trăm nhà;  Nghệ An có thủy tai lớn, nước tràn ngập, làm trôi đến vài trăm nhà.

ĐVSKTT, III, Sđd, 1993, tr. 132.

 

Cương mục, II, Sđd, 2007, tr. 139.

6

1756

Lê Trung hưng

(1533-1789)

 

1

Tháng 10, Nghệ An mưa to. Nước dẫy lên. Nghệ An nước ngập, lúa bị mất.

Cương mục, II, Sđd, 2007, tr. 632.

7

1820

Minh Mệnh

(1820-1840)

1

Nghệ An có bão

Thực lục, II, Sđd, 2007, tr. 86.

 

8

1842

Thiệu Trị

(1841-1847)

1

Tháng 8, Nghệ An có bão lớn (bão nổi từ canh 2 đêm, đến sáng rõ mới dứt). Nước biển dâng lên quá mức thường 13-14 thước.

Thực lục, VI, Sđd, 2007, tr. 397.

 

9

1861

Tự Đức

(1848-1883)

1

Tháng 7: Nghệ An bị gió bão

Thực lục, VII, Sđd, 2007, tr. 728.

 

10

1867

 

1

Tháng 7, tỉnh Nghệ An bão to.

Thực lục, VII, Sđd, 2007, tr. 1063.

 

11

1887

Đồng Khánh

(1885-1889)

1

Tháng 8, Nghệ An, bị bão lụt (ruộng lúa phần nhiều bị ngập tổn hại), Nghệ An bị đói to.

Thực lục, IX, Sđd, 2007, tr. 358.

 

Tổng

 

11

 

 

Nguồn: ĐVSKTT, II, III, Sđd, 1993; Cương mục, I, II, Sđd, 1998, Cương mục , II, Sđd, 2007; Thực lục, tập II- IX, Sđd, 2007.

Bảng thống kê cho thấy bão, lụt thường xảy ra vào các tháng 7, 8 trong năm. Đây là thời gian mà đất nước có thể đã trải qua một trận hạn hoặc đại hạn kéo dài. Thường thì sau một trận hạn từ một đến hai tháng, sẽ có mưa lớn và lũ lụt. Tương ứng với hiện nay, các tháng xảy ra mưa, bão cũng từ tháng 7, tháng 8 đến tháng 10. Nếu như thời Lê Sơ, thời Mạc, thời Lê Trung hưng xảy ra mưa to, lụt, thì đến thời Nguyễn, bão xuất hiện với tần suất nhiều hơn và trong đó có bão từ biển mang lại.

Mưa, bão lụt đã có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất của nhân dân Nghệ An. Tư liệu trong chính sử cho biết, dưới thời Lê Sơ, do ảnh hưởng của nạn lụt năm 1497 mà năm 1498, ở Nghệ An, Thuận Hóa đã xảy ra nạn trộm cướp: “Trong hạt Nghệ An, Thuận Hóa, bọn trộm cướp đều nổi lên, quân bên cạnh đánh dẹp không yên được. Vua ra sắc lệnh cho quan có trách nhiệm, triệt bỏ hết toán lính đi tiễu bắt, chiêu an phủ dụ cho chúng ra thú tội trở lại nghề nghiệp cũ” (9).  

Vào thời Nguyễn, đặc biệt năm 1824, do ảnh hưởng của nạn lụt, Nghệ An đói và giặc cướp nổi lên. Sử còn chép rằng: “dân đói không tâu lên, để dân đến nỗi mặt xanh mình gầy” (10). Năm 1842, trận bão ở Nghệ An khiến nhà vua “Chưa xem hết tờ tâu bất giác đã sa nước mắt” và sau đó thự Binh khoa Chưởng ấn Cấp sự trung Trần Thiện ở Hà Nội về, tâu rằng: “Đi đường qua đó, chính mắt thấy nhà cửa đổ nát nhiều, ván thuyền trôi giạt vào trong ruộng, xác người chết phơi ở bên đường. Tình hình rất thảm hại!” [...] Chi tiền, gạo ở kho tỉnh ra, phân biệt từng hạng, chẩn cấp ưu hậu. Tựu trung thôn, xã nào ở gần phủ Diễn Châu thì chi ngay tiền, gạo ở kho phủ, tải đến cấp phát, cốt mau chóng làm cho dân bớt đau khổ, không cần ấn định sự cấp phát. Lại, sau cơn bão lụt này, công trình tu bổ ở trong tỉnh chắc cũng không ít, nhưng nên cân nhắc việc nào nên hoãn, việc nào nên gấp, cần làm trước những việc của dân, nếu mọi việc cùng làm một lúc thì không khỏi có hại đến sự làm ăn của dân” (11).

Trước tình hình lũ lụt như vậy, các triều đình quân chủ đã có những biện pháp cụ thể để phòng chống và khắc phục, nhằm giảm bớt thiệt hại của thiên tai ở Nghệ An và ổn định đời sống nhân dân.

  1. Biện pháp phòng chống, khắc phục của Nhà nước quân chủ

Chẩn cấp, giảm tô thuế, ân xá

Chẩn cấp, giảm tô thuế, ân xá là một trong những biện pháp ứng phó kịp thời của triều đình quân chủ trong những năm có thiên tai. Nhờ vậy, đời sống nhân dân được ổn định trở lại, nhân dân yên tâm sản xuất.

Năm 1434, triều Lê Sơ đã đưa ra chính sách ân xá cho tù nhân tội nhẹ và cho họ đi lập nghiệp ở những vùng đất mới. Năm 1438, vua Lê Thái Tông xuống chiếu tự trách mình, đại xá cho thiên hạ và yêu cầu trăm quan bày tỏ thẳng thắn ý kiến thiếu sót trong chính sự. Điều này có thể cảm được lòng trời, nhờ vậy mà ngừng tai biến: “Vậy nay đại xá cho thiên hạ. Trăm quan văn võ các ngươi ai nấy đều nên điều trần bày tỏ những điều thiếu sót lầm lỗi trong mọi chính sự, cứ nói thẳng, đừng giấu diếm…” (12).

Giảm thuế cũng là biện pháp hỗ trợ của Nhà nước Lê Sơ đối với người dân trong những năm có thiên tai. Các năm 1445, 1451, 1452 và 1498, vua Lê đều giảm thuế cho dân. Mặc dù không biết là giảm với số lượng bao nhiêu, nhưng biện pháp này cho thấy triều Lê Sơ đặc biệt quan tâm đến đời sống nhân dân. Năm 1573, dưới thời Lê Trung hưng, vua Lê Thế Tông đã hạ lệnh đối với những người xiêu giạt thì cho trở lại quê hương và giảm thuế dịch.

Việc chẩn cấp và giảm thuế được tiếp tục thực hiện dưới thời Nguyễn. Năm 1823, Trấn thần Nghệ An tâu nói mất mùa, dân đói, thuế ruộng thiếu, xin lượng cứu chữa, vì vậy vua Minh Mệnh đã ra dụ bộ Hộ: “Xứ ấy đất xấu dân nghèo, thường gặp mất mùa. Thóc thuế vụ hạn đã từng lượng cho chiết nạp bằng tiền, lại còn nghĩ đến những nhà cùng khổ, khốn lâu chưa đỡ, trẫm rất thương xót. Vậy giảm cho tiền thuế thân năm nay 5 phần 10; ai thiếu thì hoãn đến sang năm”. Đồng thời vì thấy Nghệ An giá gạo đắt nên đã sai phát thóc kho 40.000 hộc giảm bán ra (13). Tháng 3 năm 1846, vì gạo đắt nên vua sai phát thóc trong kho cho dân Nghệ An vay (14). Đặc biệt, trận bão năm 1842, sau khi xem tờ tâu của quan tỉnh Nghệ An, vua Thiệu Trị đã sai các quan kịp thời chẩn cấp cho dân.

Thời Tự Đức, năm 1864, dân Nghệ An bị đói, triều đình đã chuẩn cho phát ra 20.000 hộc thóc kho và khuyên quyên tiền thuốc; tháng 9 cùng năm, giảm miễn và triển hạn thuế đinh cho Nghệ An: “hạng quẫn bách lắm, tha miễn cho 5 thành, còn 5 thành triển hạn đến vụ hạ năm sau mới nộp, hạng quẫn bách vừa, chia ra từng thành, hoãn đến các năm 18-19 mới chia thu” (15).

Xây dựng, tu bổ đê điều, thủy lợi

Xây dựng, tu bổ đê điều, thủy lợi là biện pháp ứng phó có hiệu quả lâu dài đối với thiên tai của nhà nước quân chủ ở các thời kỳ. Thời Lý, nhà nước đã cho đào khơi sâu kênh ở Diễn Châu. Thời Trần, nhà nước hạ lệnh đào sông ở Nghệ An (1357). Đặc biệt, năm 1374, triều Trần còn cho đào các sông ở Thanh, Nghệ (16). Tháng 10 năm 1382, sau khi có nạn thủy tai, triều Trần cho “đào mấy con sông ở Nghệ An” (17).

Năm 1438, vua Lê Thái Tông cho khai kênh ở Nghệ An. Năm 1467, vua Lê Thánh Tông cho khơi các cảng Xước, Tang (huyện Quỳnh Lưu), My (An Thành), Thiết, Hương Cái, Đích (Hưng Nguyên), Na (Cẩm Xuyên), Lạc (Kỳ Anh) (18). Cũng trong năm này, vì Nghệ An xảy ra nạn gió bão, các huyện đầu nguồn bị ngập, nên vua Lê đã hạ lệnh cho “Ngự sử là bọn Đinh Nhân Phủ và Thiều Duy Tinh chia nhau đến ba đạo mặt đông mặt tây và mặt nam ở ven biển thân hành đi khám xét bờ đê, đốc sức ty Thừa chính sở tại bồi đắp. Một mặt miễn cho quân sĩ ở ven biển đầu xuân sang năm tới không phải về kinh sư tập họp điểm duyệt nữa” (19).

Để phụ trách thiên văn, trị thủy, triều đình Lê Sơ đã lập ra một cơ quan chuyên trách có tên là Thái sử viện. Đến thời Lê Thánh Tông, cơ quan này đổi tên thành Tư thiên giám, có nhiệm vụ đo đạc độ số thiên thể, dự báo thời tiết, soạn lịch và thấy tai dị, điềm lành thì báo lên với nhà vua. Về đê điều, nhà Lê đã quy định cụ thể về việc canh, giữ đê trong điều 85, 86 của Luật Hồng Đức. Những viên quan không làm hết trách nhiệm hoặc canh đê không tốt sẽ bị biếm, bãi chức.

Chỉ đến thời Lê Sơ, hệ thống đê mới được hoàn thiện cả về đê sông lẫn đê biển. Đặc biệt, đê Hồng Đức được xây dựng năm 1472 được coi là đê biển ngăn mặn hiệu quả, có giá trị khá lớn về trị thủy.

Năm 1664, triều Lê Trung hưng đã đặt ra thể lệ kỳ hạn sửa đắp đê điều. Về sự kiện này, sách Cương mục chép: “Cứ tháng 10 hàng năm, ti Thừa Chính các xứ sức cho các huyện thuộc hạt đi khám đê đường, xem chỗ nào cần phải sửa đắp, nếu là công trình nhỏ, thì chiếu theo xã nào mà thế nước có thể đến được sức cho dân các xã ấy tự làm công việc sửa đắp, việc sửa đắp này là do huyện trông coi, thúc giục...” (20). Năm 1724, vua Lê cho mở đường sông ở Nghệ An: “Hạ lệnh cho ty trấn thủ Nghệ An đi khám xét các sông trong hạt, chỗ nào nông cạn, chỗ nào ủng tắc, thì tùy theo trượng thước nông hoặc sâu, trù tính định ra công việc phải làm, rồi lấy dân xã tiếp cận sung vào làm việc, để cho đường thủy được lưu thông, dân những xã này sẽ được trừ tiền thuế điệu” (21).

Thời Nguyễn, trách nhiệm canh đê cũng được ghi chép cụ thể trong bộ Quốc triều hình luật. Đặc biệt, dưới thời Minh Mệnh, ông đã ra quy định phạt đối với những người làm vỡ đê, nhất là quan lại và tổng lý sở tại: “Các đê sông mà bổn phận (làng xã) phải bồi đắp canh giữ, nếu vỡ một lần thì lý trưởng sở tại phải phạt 70 trượng, cai phó tổng kém 1 bậc. Đê vỡ hai năm liền thì không phân biệt chỗ cũ hay mới, lý trưởng bị phạt 100 trượng và bãi dịch, cai phó tổng kém một bậc. Những chỗ vỡ mà nếu trong vòng 10 ngày lấp kín được thì không kể đê công hay tư đều chịu tội đáng phải lưu mà giảm cho 2 bậc” (22).

Tuy nhiên, đối với công  việc xây dựng và quản lý đê điều, đặc biệt ở khu vực Bắc Thành, sự thiếu nhất quán trong việc giữ đê hay bỏ đê, cùng với việc thành lập Nha đê chính sau đó thì bỏ; sự phân chia các công trình trị thủy công và tư, cho phép các làng xã tự đắp đê, xây cống đã thấy tác hại đến sinh thái và bảo vệ đê điều nói chung. Về trị thủy, càng về cuối triều đại Nguyễn, nạn vỡ đê, ngập lụt càng phổ biến hơn. Miền Bắc đã xảy ra 16 lần vỡ đê trên diện rộng, điều này ảnh hưởng phần lớn đến đồng bằng Bắc Bộ. Tuy nhiên, ngoài việc chẩn cấp và giảm thuế cho người dân, chính sử không ghi chép nhiều về biện pháp của triều Nguyễn đối với vùng Nghệ An, do vậy, rất khó để biết hiện trạng đê điều ở Nghệ An như thế nào.

Ngoài các biện pháp trên thì xuống chiếu tự răn và cầu đảo cũng là biện pháp mà các vua thời trung đại thực hiện. Năm 1448, sau khi vua Lê đích thân đến cung Cảnh Linh lễ bái, đã xuống chiếu tự xét mình và cầu lời nói thẳng: “Vài năm nay, tai dị liên tiếp xảy ra; lụt lội, hạn hán, sâu bệnh không năm nào không có. Có phải vì đạo giữ nước trị dân của trẫm trên không thuận lòng trời, dưới chưa thỏa chí dân mà đến nỗi thế không? Hay là các đại thần phò tá không được người xứng đáng, điều hòa trái phép, xếp đặt sai lẽ mà đến nỗi thế chăng? Hỡi các quan trong ngoài cho tới sĩ dân, các ngươi hãy vì trẫm mạnh dạn nói ra, hãy chỉ rõ những việc làm phương hại tới nhân dân và chính sự của trẫm và các tể thần. Nếu có người hiền lương phương chính, cũng cho được tự tiến cử” (23).  

Vua Lê Hiến Tông cho rằng, nơi xảy ra ngập lụt là do quan chức ở châu, huyện không được tốt. Và, để công bằng trong thăng, giáng chức, vua quy định, viên quan nào thừa hành nhiệm vụ hoàn hảo thì được xét thăng chức, ngược lại, viên quan nào dối trá thì sẽ bãi chức: “Trẫm thường cho người đi do thám, thấy nơi thì ruộng nương trũng thấp, nơi thì đường sá rậm rạp, trời nắng chưa mấy ngày mà dân đã kêu ca là khô hạn quá đỗi. Những việc ấy đều bởi viên chức ở châu, ở huyện không được người tốt đấy. Vậy các người nên sức cho trong hạt mình phải cần làm ngay việc sửa đắp. Các người lại phải chính mình tự đi kiểm xét cửa sông, xe nước, khe nhỏ, đường to. Nếu thấy viên quan nào thừa hành hoàn hảo thì khi khảo công liệt vào hạng nhất; viên quan nào thừa hành một cách dối trá để có chỗ thẩm lậu, thì liệt vào hạng không làm đầy đủ chức phận; rồi đem hết sự thực tâu bày lên trẫm biết, để định việc truất bãi hoặc cho thăng chức” (24).

Tháng 10, năm 1756, Nghệ An mưa to, nước ngập khiến lúa mất mùa. Viên quan trong ti Hiến sát không đem sự việc tâu bày đã bị Trịnh Doanh quở trách. Nhân đấy, nhà vua hạ lệnh: “Từ nay phàm trong hạt có tai biến hoặc giặc cướp, đều phải tâu bày để triều đình biết, không được giấu diếm” (25).

Upload

 

Ngày nay, mỗi mùa mưa bão đến, Nghệ An luôn bị chìm trong biển nước

  1. Kết luận

Như vậy, mưa, bão lụt thời Trung đại ở Nghệ An xảy ra nhiều hơn cả ở thời Lê Sơ, Mạc và thời Nguyễn. Tư liệu cho ta khẳng định tháng 7, 8 trong năm là thời điểm mưa, bão thường xuất hiện ở Nghệ An. Bão dẫn đến mưa và ngập lụt, khiến cho mất mùa, dân đói kém.

Để khắc phục thiên tai, các triều đình quân chủ đều giảm thuế, ân xá, chẩn cấp kịp thời và tiến hành xây dựng, tu bổ đê điều. Triều Lê Sơ đã huy động binh lính, nhân dân sửa chữa ngay những đoạn đê hỏng, vì thế đã giảm thiểu được phần nào ảnh hưởng của bão, lụt đối với đất nước nói chung và vùng Nghệ An nói riêng. Chủ trương đào kênh, khơi vét cảng ở Nghệ An của triều Lê đã có tác dụng không nhỏ trong việc thủy lợi, tiêu nước và giao thông.

Thời Lê Trung hưng về sau, đê điều cũng được quan tâm và tiến hành tu bổ thường xuyên. Thời Nguyễn, việc giữ hay bỏ đê đã trở thành nghị sự của triều đình. Sau nhiều nỗ lực, triều Nguyễn cũng có những đóng góp đáng kể trong việc phòng chống, khắc phục bão, lụt. Đối với Nghệ An, việc chẩn cấp, ân xá được coi là biện pháp kịp thời, là ưu điểm của chính sách xã hội thời Nguyễn. Như vậy, triều Nguyễn trong một chừng mực nhất định vẫn thể hiện sự quan tâm đến đời sống của người dân.

Từ thực tế phòng chống, khắc phục mưa, bão, lụt ở Nghệ An, có thể thấy được sự quan tâm của các triều đại quân chủ đến đời sống nhân dân, sản xuất nông nghiệp. Đồng thời thấy được sự đoàn kết, phối hợp giữa nhà nước trung ương, các viên quan sở tại và nhân dân ở địa phương. Đó là yếu tố cần được phát huy trong việc phòng chống, khắc phục thiên tai của nước ta hiện nay.

CHÚ THÍCH                                                                                                        

(1). Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập V, Nxb. Thuận Hóa Huế, 2006, tr. 311.

(2). Đỗ Đức Hùng, Vấn đề trị thủy ở Đồng bằng Bắc bộ dưới thời Nguyễn thế kỷ XIX, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 83.

 (3). Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993,  tr.427.

(4). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, Nxb. Giáo dục, 2007, tr.1018.

(5). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 139.

(6). Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập VI, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 397.

(7). Đại Nam thực lục, Sđd, tập VII, tr. 1063.

(8). Đại Nam thực lục, Sđd, tập IX, tr. 358.

(9). Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, Sđd, tr.9.

(10). Đại Nam thực lục, Sđd, tập II, tr. 332, 339.

(11).  Đại Nam thực lục, Sđd, tập VI, tr. 397.

(12). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 921.

(13). Đại Nam thực lục, Sđd, tập II, tr. 296.

(14). Đại Nam thực lục, Sđd, tập VI, tr. 842.

(15). Đại Nam thực lục, Sđd, tập VII, tr. 846, 870, 874.

  (16). Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Sđd, tr. 347;

    Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, Sđd, tr. 1030- 1031.  

(17).  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 310.

(18). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 632. 

(19). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 646.

(20).  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 1018.

(21). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 414. 

(22). Đại Nam thực lục, Sđd, tập II, tr. 921.

(23). Đại Việt sử ký toàn thư, II, Sđd, tr. 362.

(24). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, 1998, Sđd, tr. 15.

(25). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 632.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
  2. Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
  3. Trần thị Hạnh Hiên, Tai biến tự nhiên và khắc phục của nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009.
  4. Đỗ Đức Hùng, Vấn đề trị thủy ở Đồng bằng Bắc Bộ dưới thời Nguyễn thế kỷ XIX, Khoa học xã hội, Hà Nội.
  5. Phan Khánh (Chủ biên), Sơ thảo lịch sử thủy lợi Việt Nam, tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  6. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998.
  7. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998.
  8. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Bản dịch Viện Sử học, tập V, Nxb. Thuận Hóa Huế, 2006.
  9. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập II- IX, Nxb. Giáo dục, 2007.
  10. Nguyễn Xuân Tửu, Biến động khí hậu ở nước ta trong lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6 (213), 1983.

 

 

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Kỷ niệm 18 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2020) Gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình (23/6/2020)
Phát triển thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ (23/6/2020)
Bác Hồ viết báo Tết Độc lập đầu tiên (12/6/2020)
“Xạc húa” không chỉ là “Gội đầu” (12/6/2020)
Giao thương của người Nhật ở Nghệ An (11/6/2020)
Chính sách của triều Lê - Trịnh đối với người nông dân Nghệ An thế kỷ XVII - XVIII (11/6/2020)
Sở hữu trí tuệ trong Hiệp định EVFTA - Những cam kết quan trọng cần lưu ý (11/6/2020)
Văn học dân gian dân tộc Thái ở Con Cuông - Di sản văn hóa đặc sắc (11/6/2020)
Thực trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết ở vùng dân tộc thiểu số Nghệ An (11/6/2020)
Cầu ngầm Khánh Khê - Địa danh lịch sử không thể nào quên (10/6/2020)
Quan điểm về nhân cách trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng về xây dựng, phát triển con người (8/5/2020)
Kinh kế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2019 và đề xuất định hướng thời gian tới (8/5/2020)
Biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số ở vùng biên giới Việt - Lào tại địa bàn tỉnh Nghệ An và những vấn đề đặt ra hiện nay (8/5/2020)
Ngày 30/4 qua những bức ảnh lịch sử (29/4/2020)
Tăng cường phát triển kinh tế - xã hội thực hiện chính sách dân tộc khu vực miền Tây Nghệ An (28/4/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,036 | Tất cả: 2,318,941
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp