ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Dòng họ quan trạng trên đất Yên Thành
Tin đăng ngày: 3/12/2019 - Xem: 178
 

                              Lê Xuân Nhương

Có thể nói trong lịch sử các nhà khoa bảng ở Việt Nam, ít có gia đình nào có cả ba ông cháu, cha con đều đỗ Trạng Nguyên. Đó là gia đình Trạng Nguyên Hồ Tông Thốc ở kẻ Cuồi, Tam công xã Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An.

Upload

Đền thờ trạng nguyên Hồ Tông Thốc

Hồ Tông Thốc sinh ra tại kẻ Cuồi năm Giáp Tý (1324) ông là cháu viễn tôn của Trạng Nguyên Hồ Hưng Dật quê ở Triết Giang Trung Quốc được phái sang làm tri châu của Diễn Châu thời Bắc thuộc, lỵ sở lúc bấy giờ đóng tại làng Quỳ Lăng (Xã Lăng Thành), cách kẻ Cuồi một cánh đồng. Tại nhà thờ đại tôn họ Hồ ở kẻ Cuồi hiện còn lưu giữ đôi câu đối:

    “Triết Giang thử địa ngô tiên kế

     Hoan Diễn do tồn ức vạn niên”

Dịch:

“Triết Giang nơi ấy quê tiên tổ

Hoan Diễn quê này tới vạn năm”

Thuở nhỏ, Hồ Tông Thốc nổi tiếng là con nhà nghèo nhưng ham học mà học giỏi, được nhân dân xem là bậc Thần Đồng. Truyền miệng dân làng trong vùng kể rằng, có một lần vào dịp tết Nguyên Tiêu (Rằm tháng giêng) Hồ Tông Thốc được mời dự cuộc xướng họa thơ phú, khác với văn chương. Ông đã ứng tác trước hàng chục bài thơ họa, làm cho mọi người thán phục, từ đó tên tuổi của ông được truyền tụng khắp nơi.

Năm 17 tuổi (1341) Hồ Tông Thốc dự thi Đình và đỗ Trạng Nguyên. Sau khi đỗ đầu khoa thi, tuy còn trẻ tuổi, nhưng Hồ Tông Thốc được vua Trần hiếu Tông cho giữ chức, Trung Thư Lệnh. Năm 1372, Hồ Tông Thốc được giao chức Hàn Lâm Viện, kiêm Thẩm Hình Viện Sứ.

Là người giỏi thơ văn, có tài ứng đối linh hoạt nên ông được vua Trần cử đi sứ ở Trung Quốc nhiều lần và lần nào ông cũng làm tốt trọng trách của mình.

Ông là người đầu tiên ghi tên nước Việt Nam vào bộ lịch sử nước nhà do ông soạn thảo. Trong bài tựa: Đại Việt sử ký toàn thư, nhà sử học Ngô Sỹ Liên viết: “Hồ Tông Thốc đã biên soạn Việt sử cương mục, chép việc thận trọng và có khuôn phép, bàn việc thiết đáng mà không thừa”.

Nhà sử học Bùi Dương Lịch (Thế kỷ XIX) cũng có nhận xét về ông: “Hồ Tông Thốc đỗ sớm mà có tài”. Đối với dòng họ ở Nghệ An. Hồ tông Thốc là người mở đầu cho nền khoa bảng của một thế gia vọng tộc, có truyền thống hiếu học, học giỏi, nhiều người đỗ đạt. Cả chi họ Hồ quê ở kẻ Cuồi, và chi họ Hồ ở Thổ đôi Trang (Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An). Riêng đời Trần, họ Hồ ở kẻ Cuồi có ba Trạng Nguyên, sang đời Lê, các con cháu của Hồ Tông Thành đều đậu Trạng Nguyên. Các con cháu của Hồ Tông Thành là Hồ Đình Trung, Hồ Đình Quế, Hồ Doãn Văn đều đỗ Tiến Sỹ. Ngoài ra còn có 7 người đỗ cử nhân, 23 người đậu Giám sinh và nhiều bậc đậu cử nhân, tú tài triều Nguyễn. Nhắc đến dòng họ Hồ Ở kẻ Cuồi, nhân dân Nghệ Tĩnh có câu ca:

“Một nhà ba trạng nguyên ngồi

Một gương từ mẫu mấy đời soi chung”.

Một câu chuyện cảm động về Hồ Tông Thốc mà nhân dân trong vùng thường cơm ăn không đủ, phải ăn khoai trừ bữa.

Trời Trần, làng Cuồi nằm trên một gò đất cao, giữa bốn bề là đồng chiêm trũng, nhắc đến thuở hàn vi, cũng như lúc ra làm quan, gia cảnh họ Hồ Nghèo lắm, có lúc, cơm không đủ ăn. Ở đây có giống khoai nước, một loài cây có củ ăn được, tựa như khoai sọ, nhân dân trong vùng quen gọi là khoai Cuồi. lá khoai Cuồi to như lá mùng, giữa lá có một chấm nhỏ màu vàng. Củ khoai Cuồi ngoài vỏ có màu tím, mọc thành chùm, mỗi nhóm củ nhỏ thì nặng từ 2-3 lạng, to thì đến 5-7 lạng. Khoai Cuồi tươi có mủ, đụng vào là ngứa lăn tăn (Họ nhà môn, không ngứa cũng tưa tưa...) nhưng khi rửa sạch bỏ vào nồi đổ nước đậy kín vung luộc chín. Khai Cuồi có màu trắng đục, vị ngọt bùi dẻo, thơm ngon, cỏ thể ăn thay cơm. Nhiều năm mất mùa, khoai Cuồi là nguồn lương thực chính của nhà nông, nuôi lớn những Tú tài, Cử Nhân, Tiến sỹ, Trạng Nguyên. Bởi thế, nhân dân trong vùng có câu đố vui:

“Sớm khoai, Trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa

Ông đỗ, cha đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà”

Nhà thờ Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở làng Tam công (Kẻ Cuồi), nay là làng Tam Thọ, xã Thọ Thành, huyện Yên thành, tỉnh Nghệ an, nơi đây ngày xưa là đồng chiêm trũng, được xây dựng sau khi ông qua đời (1404) ngay trên nền nhà ông ở, Nhà thờ là một vị trí dẹp, ở đầu phía Đông – Nam của làng Tam Thọ.

Đến năm 1919 nhà thờ được trùng tu lại khang trang như hiện nay, dấu ấn kiến trúc của di tích  thời Nguyễn, và mang phong cách kiến trúc của miền Trung có quy mô của nhà vừa phải, kết cấu các khối gọn nhẹ, hợp lý. Mộng xàm, thắt vững chắc, tỷ lệ giữa các chi tiết cân đối: nhà dài 11 m và 9 m, rộng 5,7 m, cao 4,5 m tạo thành 1 khối chắc khoẻ, đáp ứng được yêu cầu chống bảo lụt ở miền Trung. Về bố cục hai nhà song song và liền nhau vừa để cho ấm cúng, vừa sử dụng được thuận tiện. Các hoạ tiết trang trí được chạm trổ tinh vi, các đường uốn , đường lượn mềm mại và uyển chuyển với các chủ đề: Tứ linh, được cách điệu tạo nên nét đẹp tự nhiên, thanh thoát, không rườm rà, gò bó, nặng nề. Cách bài trí trong nhà chặt chẻ và tôn nghiêm. Khán đặt bài vị tiên tổ và của Hồ Tông Thốc được dặt ở gian giữa của điện thờ. Tiếp đó là kiệu rồng sơn son thiếp vàng, hai bên là các biểu trạng nguyên lọng tán, bát bửu. Năm gian còn lại đều có bàn thờ, với những hương án được chạm trổ tinh xảo và sơn son thiếp vàng cùng các đồ tế khí quý như tam sư, ngũ sự, mâm bồng, nậm rựơu, ấm chén, hoành phi, câu đối…Trong đó có bức cửa vọng vàng vải nỉ thêu long phượng treo ở gian giữa bái đường có 4 chữ lớn “Thái sơn bắc đẩu” nghĩa là công ơn của tiên tổ to lớn như núi thái sơn, sáng muôn đời như sao bắc đẩu. Hai giải hai bên  thêu tùng lộc và có sư tử chầu; giải bên phải  có dòng chữ: “Tam công cựu chi kim nhưng tại” nghĩa là: làng Tam công ngày xưa bây giờ vẫn còn đây; giải bên trái có dòng chữ: “Nhất giáp, cao danh cổ vọng truyền” nghĩa là đổ trạng nguyên danh tiếng từ thuở trước còn truyền lại đến ngày nay Và có đôi câu đối khảm xà cừ, vế bên trái là “Thần tâm, tử tâm, nhất ngô ninh háo súng tương vị hà” nghiã là: lòng tôi, lòng con, ta một lòng đền đáp vẫn chưa xứng với công đức của tiền nhân. Vế bên phải là “Quốc khánh, gia khánh, trường tồn đức vinh phong tự kim thuỷ” nghĩa là: “mừng nước, mừng nhà nhớ công đức lâu dài từ trước đến nay đều được phong chức tước”.

Ngoài các đồ tế khí kể trên, di tích còn lưu giữ được 12 đạo sắc của thời Lê và thời Nguyễn phong tặng cho Hồ Tông Thốc và con cháu ông đã có những đóng góp cho đất nước lúc bấy gìơ. Ngoài sân, cạnh cột nanh có 2 tượng rùa đội bia bằng đá. Phía sau điện thờ, cách 5 m về phía bắc cú ngôi mộ của Hồ Doãn Văn, cách sân về phía đông 20 m và về phía tây 30 m cũng có mộ của Hồ Minh Đạt và Hồ Nhược Thuỷ đều là con cháu của Hồ Tông Thốc và là những người đã kế tục được truyền thống khoa bảng của ông cha. Các mộ này được xây dựng bằng gạch sò biển, tạo khối nổi vừa phải trên mặt đất.

Để giáo dục tryền thống hiếu học, ngày nay trên đất kẻ Cuồi có một trường Trung học phổ thông cơ sở mang tên Hồ Tông Thốc. Nhà thờ đại tôn ở kẻ Cuồi đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc Gia. Hàng năm vào dịp đầu năm, ngày 9 tháng giêng Âm Lịch, con cháu cùng du khách thập phương về kẻ Cuồi dự lễ tế tổ, nhằm tôn vinh một gia đình, một dòng họ hiếu học, có nhiều đóng góp cho nền văn hiến Việt nam.

Dòng họ Trạng Nguyên trên đất Yên Thành đã góp phần làm nên giá trị tinh thần văn hóa của dân tộc Việt Nam, tác động thúc đẩy để đất nước ta ngày càng phát triển.

                                                    

Đất và người xứ Nghệ khác:
Hai thập kỷ người Nghệ chinh phục Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật (2000 - 2019) (31/3/2020)
Bà Quận chú - Vị tổ sư của nghề bện võng Hoàng La (26/3/2020)
Lịch sử và kiến trúc đền Chín Gian ở Quế Phong (25/3/2020)
Đền Thần trù Hồng Long và các sắc phong thần (25/3/2020)
Lê Đông - người thổi hồn rượu men lá đồng bào Thái Con Cuông (24/3/2020)
Cuộc đời và sự nghiệp của Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế (19/3/2020)
Kỷ niệm 990 danh xưng Nghệ An: Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - Tri châu Nghệ An (6/3/2020)
Nguyễn Thị Tích - Người được Bác Hồ tin cậy (25/2/2020)
Tiến sĩ Phan Nhân Tường (25/2/2020)
Trang phục truyền thống của phụ nữ Thái (24/2/2020)
Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn (10/2/2020)
Em là người của Việt Minh tổng Vân Tụ đây (7/2/2020)
Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ với sự nghiệp thống nhất đất nước (6/2/2020)
Điệu hát "Tơm đám cưới" của người Khơ Mú (6/2/2020)
Kỳ thú Con Cuông (21/1/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
 Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
Cùng tìm hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 892 | Tất cả: 2,156,040
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp