KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Vũ trụ sơ khai quan của người Thái
Tin đăng ngày: 29/11/2019 - Xem: 35
 

  1. Khái niệm/đặt vấn đề

“Vũ trụ quan” là gì? Theo Wikipedia tiếng Việt, thì: «vũ” là “không gian”; “trụ” là “thời gian”; “quan” là “quan niệm”; «vũ trụ quan» là «quan niệm về không gian và thời gian». Người ta thường nói: “Không gian bao giờ cũng có ba chiều: chiều dài, chiều rộng và chiều cao (hay chiều sâu). Và gọi thêm thời gian là chiều thứ tư, vì thời gian có thể làm thay đổi cả ba chiều trên. Trong không gian có gì? Có trời đất, vạn vật. Trong thời gian có gì? Có sự thay đổi, biến chuyển. Vậy, “vũ trụ quan” là sự xem xét, suy nghĩ về trời đất, vạn vật và những sự biến đổi của trời đất, vạn vật đó; hoặc nói cách khác, “vũ trụ quan là quan niệm của chúng ta về những định luật diễn hóa” (1).

Vậy, từ thuở sơ khai của tộc người, người Thái có “xem xét, suy nghĩ về trời đất, vạn vật” hay không? Họ có “xem xét, suy nghĩ về sự biến đổi của trời đất, vạn vật” hay là không? Và nếu có, thì như thế nào? Giải đáp được câu hỏi/vấn đề này, cũng có nghĩa là sẽ hiểu thêm về tộc người này, cùng với những đặc điểm về tư duy, nhận thức của họ, v.v.

Đây là một vấn đề “hóc búa”, chúng tôi chỉ hy vọng “bước đầu thảo luận” trong bài viết này.

2. Vũ trụ quan sơ khai của người Thái

Ngược dòng lịch sử về buổi bình minh của tộc người, về cái thuở hồng hoang ấy, dựa vào “cái gì” để “đọc” được nhận thức, tư duy, suy nghĩ của họ, thế giới quan của họ? Sách vở, văn bản, chữ viết thì chưa có; di chỉ khảo cổ học cũng không. Nếu có di chỉ thì đó lại là những hiện vật/vật thể; còn “thế giới quan” thì lại là “phi vật thể”. Phải là các nhà chuyên môn sâu may ra mới “đọc” được. Ở đây, văn học dân gian lại có “lợi thế” không ngờ! Các nhà nghiên cứu cho rằng, thần thoại “chủ yếu ra đời trong xã hội cộng đồng nguyên thủy […] Thần thoại phản ánh một cách kì diệu nhận thức về vũ trụ […] và tư duy xã hội ở các tộc người anh em từ thời cổ sơ […] Nó góp phần bổ sung những thiếu sót của con người về mặt nhận thức thiên nhiên…” (2). Theo thần thoại Thái thì “ngày xưa” có 7 cặp Scông (thần): Cặp Scông trời, tạo trời; cặp Scông dải ngang trời, tạo ra bầu khí quyển; cặp Scông mây, tạo mây; cặp Scông nắng chuyên “mở 3 đường nắng”; cặp Scông mưa chuyên “mở 8 đường mưa”, tạo sấm chớp, và đêm tối; cặp Scông đất tạo ra núi, vực và thung lũng; cặp Scông cỏ tạo ra cây cỏ. Cũng theo mạch thần thoại ấy, sinh ra cùng thời với 7 cặp Scông trên, còn có một cặp vợ chồng người khổng lồ - đầu đội trời, chân đạp đất, thân hình to cao như trái núi tên là Ải Lậc Cậc, cũng gọi là Tai Ngào, hay Sai Hịa. Ông khai phá các thung lũng, ruộng đồng, biến lòng chảo Mường Thanh thành ruộng gieo mạ, lòng chảo Mường Lò, Mường Tấc, Mường Than thành ruộng để cấy lúa… Ông lấy vợ, người ta gọi ông bà là ông Xúc, bà San: “Ông cao tựa núi, bà lớn bằng non”. Như vậy, Scông và Ải Lậc Cậc là vị thần sáng tạo trong ký ức của người Thái. Từ ý niệm “trời”, “đất” và “nước”, hình thành nên 2 “mường”: trời, ở trên, có thần (then), ma-người lớn đeo dao ở cổ. Mường trời chứa Mường Một- bảo vệ linh hồn người; Mường Phi Cướt- linh hồn ma trẻ; Mường Hả- linh hồn kẻ chết dịch; Mường Hịt mường Hạy- kẻ nghèo khó; Mường Khlốk, mường Khlai- hồn người chế cô đơn; Đẳm đoi, Liên pan nọi- Niết bàn nhỏ; Liên pan luông- Niết bàn lớn; Mường then- các vị thần. Như vậy, trời có “8 tầng”. Dưới là đất, thế giới của ma trẻ con nhỏ xíu, chỉ bằng đầu ngón tay, đeo dao ở cổ chân; gọi là “ma đông kín, ma dóc dách”. Giữa trời-đất là “mường giữa”, con người đeo dao ở ngang thắt lưng (người trần). Chia cách đất-trời là dòng sông Nặm Ta Khái. Thế giới “đất-trời” nói trên, phản ánh phần nào xã hội của con người (trên mặt đất). Với người Thái, sự đối lập giữa yếu tố trời (phạ) và đất (đin) được xem như là “điều gốc” của tất cả các hiện tượng tự nhiên. Theo họ, khi trời và đất sinh ra thì nước cũng sinh ra. “Kể từ khi mới sinh trời sinh đất/ Trời khai sinh chỉ bằng hoa nấm/ Đất khai sinh mới có 7 hòn/ Và tụ lại thành 3 cụm/ Sinh ra 9 con nước/ Tạo ra vùng sông Đà gặp sông Thao…” (3).

Sau thần thoại là sử thi. Buổi “hồng hoang” loài người “xuống mường” (tên một sử thi Thái) như thế nào? “Từ thuở bên trên chưa có bầu trời/ Phía dưới chưa có đất/ Nhão sệt tựa canh môn/ Lắc thì rung…” (4). Đây là bức tranh khi mới “bắt đầu hình thành vũ trụ” hay là “vũ trụ mông lung”; là thời điểm “sau vụ nổ lớn Big bang”, vũ trụ còn “chưa có gì”; cái “cột/cọc” vũ trụ (các hệ thiên hà, hệ mặt trời, v.v., lực hấp dẫn, cân bằng giữa các hệ, các hành tinh, v.v.), chưa có “điểm tựa” chắc chắn; người Thái cũng cho rằng vũ trụ còn/đang hỗn loạn, mịt mùng, “nhão sệt tựa canh môn”! Trong cái cảnh hồng hoang đó, quả đất hình thành/xuất hiện! Theo vũ trụ quan sơ khai của người Thái, một sự vật/sinh vật (dù có to như quả đất) thì cũng phải do một sự vật/sinh vật khác “đẻ” ra. Theo họ thì đó là “trời”, tức là “vũ trụ”. Chính “vũ trụ” (trời) đã “đẻ” ra quả đất; nói cách khác, quả đất “thoát thai” từ “vũ trụ”. Nhưng cái sự “đẻ” đó đâu phải dễ dàng! Nó đã phải trải qua “đấu tranh/vận động” bên trong “vũ trụ”, giữa các “chủ thể” (các “hệ”, các “hành tinh”) của nó. “Đất đẻ cho trời ấp, trời không ấp/ Trời đẻ cho đất ấp, đất ưng thuận(4). Cái “Quả trứng/quả đất” đó là do “trời” (vũ trụ) “đẻ” ra, tức “vũ trụ” có trước, quả đất có sau. Không có chuyện ngược lại “Đất đẻ cho trời ấp”! Có quả đất rồi (“Có vạt đất bằng lá đa(6)), và vũ trụ (trời) ở xung quanh quả đất được gọi là “mảnh trời” (“Mảnh trời bằng nắp ốc(7)). Cái “mảnh trời” này ngày nay ta gọi là “bầu khí quyển” xung quanh quả đất, mà nhờ nó/một thành tố tạo nên sự sống trên hành tinh của chúng ta. Giữa vũ trụ vô biên thì quả đất và bầu khí quyển xung quanh nó (“mảnh trời”) quả thật là “rất nhỏ”, quả đất chỉ “bằng lá đa”, bầu khí quyển chỉ “bằng nắp ốc”! Cái “nắp ốc” (khí quyển) đó cực kỳ quan trọng (điều kiện “cần”) để cho sự sống xuất hiện (cung cấp ôxy = O2). Một điều kiện “cần” (quan trọng bậc nhất) nữa cho sự sống, đó là “nước” (H2O). Thiên sử thi cho biết, lúc đó: “Có nước, chẳng có người uống(8). “Có nước”, một thông báo “sét đánh” như thể khám phá ra sao Hỏa hôm nay (có nước là có sự sống!). “Có nước, chẳng có người uống/ Có đất, không có người chăm” (8), nhưng rồi sẽ có! Vấn đề là “con người” xuất hiện như thế nào mà thôi. Câu hỏi về sự xuất hiện của loài người trên Quả đất là một vấn đề khó, đối với “dân gian”, ngay cả bây giờ. Thường thì người ta chỉ hiểu “đại khái” là do “ông trời” sinh ra! Người Thái cũng vậy, họ nghĩ là “có” ông Then/Bôn ở “trên trời/mường trời” đã “sinh/đúc” ra con người và “thả” họ xuống Quả đất/trần gian! Hai người đầu tiên đó là Pủ Cắp và Nhả Kẻ: “Then mới bảo ông Pủ Cắp và bà Nhả Kẻ/ Nước dưới trần cho họ xuống uống/ Đất, cho họ xuống chăm” (10). Công việc đầu tiên họ làm là trồng cây: “Họ mang giống si xuống trồng che cỏ/ Giống đa trồng che đất” (11). Quả đất khi đó hãy còn trơ trụi, chưa có cây cối. “Nắng” thì hết sức “chói chang”. Thần thoại của nhiều dân tộc nói lúc đó có nhiều mặt trời và mặt trăng, phải bắn cho rụng bớt đi! Đúng là hình ảnh Quả đất mới hình thành sau vụ nổ Big bang, bị “thiêu đốt”, đang nguội dần! Cây si cây đa cũng là do hai người “đầu tiên” ấy mang từ “trời” xuống. Điều đó làm ta hiểu vì sao cây si cây đa về sau trở thành “cây thần” trong thần thoại của nhiều dân tộc. “Từ đó vạt đất mới tốt tươi/ Mảnh trời mới trong sáng(12). Cứ như ta nói về môi trường vậy. Cây trên Quả đất có ảnh hưởng đến bầu khí quyển, đến tầng Ozon, đến “hiệu ứng nhà kính”! Pủ Cắp – Nhả Kẻ sinh con đẻ cái, tạo ra loài người. Nhưng con người lúc đó như thế nào, có giống con người hiện nay không? Trong hình dung của “dân gian” thì con người lúc đó có những nét khác với ta bây giờ.         

Lớp người đó/ Người nhỏ bằng ống đựng vôi/ Kiễng chân, (chỉ) cao ngang cạp nong/ Hái cà phải dùng sào/ Bứt quả Kẹm (chưa rõ) phải chặt cây (xuống, mới hái được)” (13). Kích thước con người lúc đó nhỏ hơn ta bây giờ nhiều, trong tưởng tượng của mọi người. Con người lúc đó chưa biết làm nông nghiệp, tất nhiên! “Thuở ấy không làm rẫy chân núi/ Không cày ruộng chân bản/ Chẳng đắp bờ cho nước về đồng/ Không khơi dòng cho nước vào ruộng” (14). Đương nhiên họ phải đi kiếm ăn giữa thiên nhiên hoang da, mà bây giờ ta gọi là “hái lượm, săn bắn”: “Người dưới trần gian nửa đêm đi tìm kiếm ăn của trời/ Gà gáy đi tìm ăn của đất/ Người khôn ăn lá Cà (chưa rõ, cây hoang dại nào đó)/ Kẻ dại ăn lá Cớ (chưa rõ)” (15). Đang trong thời kỳ nguyên thủy, nhưng dần dần đầu óc của họ cũng phát triển. Họ bắt đầu có nhu cầu nhận thức thế giới xung quanh. Họ nhìn lên bầu trời/mường trời và nhận thấy: “Trời mới ‘hóa’ về dần/ Then (trời) mới hiện về rõ/ Mường Bôn (trời) trải về trước/ Mường trời cuốn lên cao/ Trải về xa 30 tầm mắt/ 50 tầm nhìn/ 22 tầm ngắm” (16). Con người lúc này mới thấy mình quá “nhỏ nhoi” trước đất trời! Thiên nhiên quả là “khổng lồ”, đáng sợ! Đây là nguyên nhân dẫn đến sự “sùng bái” trời đất, cỏ cây, muông thú, sỏi đá, v.v. “Cái chết” là điều mà họ phải suy nghĩ, giải thích. Chết, con người “đi đâu”? “Thuở ấy chết mất không/ Đời kia chết mất dạng/ Ông bà (Pủ Cắp – Nhả Kẻ) chết không về trời với Bố chủ (ông trời)/ Chẳng vào mường trời cùng Then lớn/ Ông (Pủ Cắp) chui xuống lỗ dế dũi/ Luồn xuống lỗ giun đào/ Há miệng chờ ăn mùn đất đen/ Lâu sau ông lên trên trần gian ông ở” (17). Thế là rõ! Chết “trở về cát bụi”, và sau đó lại “tái sinh/hóa kiếp” (!). Cứ như thuyết luân hồi. Thiên nhiên, trong hình tượng “ông trời” lúc này chiếm thế thượng phong, đứng trên muôn loài: “Bố chủ (ông trời) lên trên đỉnh núi cao/ Lên làm Bố cao hơn tất cả/ Làm ông của hoa đất, hoa cỏ/ Bỏ công đắp dòng, giữ nước ông ăn/ Đắp đất, bồi cát cho vững” (18). “Ông trời” (tự nhiên) đang tiếp tục “kiến tạo/san định” mặt đất. Trước thiên nhiên khắc nghiệt, điều kiện sống vô cùng khó khăn, con người “Làm ăn không đầy miệng/ Kiếm ăn không đầy họng(19), chết dần chết mòn, tuyệt chủng: “Từ đó nước dưới trần gian chẳng có ai uống/ Đất mường Piêng (trần gian) chẳng có ai chăm(20). Ông trời (tạo hóa) lại “thả” một lớp người khác xuống Quả đất/trần gian: “Then mới bảo ông Ý Thư cùng bà Ý Thiêng/ Xuống chăm nước trần gian cho tốt/ Xuống mở đất mường Piêng cho rộng/ Ông (Ý Thư) mới bắc thang lên chặt cây đa cho quang đất bằng/ Ông chặt được 3 năm không gẫy/ Ông chặt được 3 năm không xong/ Chặt bên này, bên kia liền lại/ Đẵn bên này, bên ấy lại liền” (21). Con người vẫn bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên. “Thuở ấy chết mất không/ Thời ấy chết mất dạng/ Ông bà chết lên trời với bố Then” (22). Đây là lớp người thứ 2 trên Quả đất. Lần này họ chết (xác), còn “hồn” họ thì lên trời ở với ông trời/mường trời. Nguồn gốc của quan niệm con người có phần xác và phần hồn là đây. Về sau người Thái đã “xây dựng” một lý thuyết hoàn chỉnh về Mường Phạ (mường trời), về Phí Vắn (hồn vía) của con người và mối liên hệ giữa 2 chủ thể/đối tượng đó, trong Mo. “Then lại bảo ông Pủ Dờ cùng bà Nhả May (cũng gọi là Nhả Kẻ)/ Nước dưới trần cho họ xuống uống/ Đất mường Piêng cho họ xuống chăm/ Ông (Pủ Dờ) mới lấy rìu bạc rìu vàng xuống mường đất mường Piêng chặt đa/ Mượn con dao lưỡi sắc với Bố (Then/Bôn) xuống chặt/ Xuống chăm nước trần gian cho tốt/ Xuống chăm đất mường Piêng cho hay/ Ông mới bắc thang lên vòng quanh cây ông chặt/ Ông mới vào đẽo bậc ông lên/ Ông chặt được 3 năm thì gẫy/ Ông đẵn được 3 năm thì đổ/ Cây đa gẫy trùm lên đất đỏ” (23). Lần này (lớp người thứ 3) loài người đã “chinh phục” được tự nhiên (phần nào). Con người bắt đầu biết sản xuất nông nghiệp, biết vệ sinh, nói theo cách bây giờ là bắt đầu biết “sáng tạo văn hóa”: “Từ đó người mường đất mường Piêng đắp bờ, sục bùn/ Lấy nước gạo gội đầu/ Làm mùa có cơm ăn(24).

Thời đại kim khí ra đời cùng với sự chế tác nó (cục bạc bằng máng gạo, cồng đồng). Thiết chế xã hội (bản mường) xuất hiện: “Ông (Pủ Dờ) chặt đổ cây đa bóng lớn che rợp mường Piêng/ “Chủ mường” (Pủ Dờ) được thưởng công, Then bảo: ‘Muốn được trả công cái gì nào?/ Trả công cho chủ mường cục bạc bằng cái máng gạo lấy không?/ Cái cồng nhỏ ‘14 vạn’ lấy không?’" (25). Có chủ mường thì có thần dân (dân bản dân mường). Bắt đầu có tục mai táng/địa táng (quan tài gỗ), có tục thờ cúng tổ tiên, tục ăn trầu: “Chủ mường (Pủ Dờ) nhẹ nhàng nói: ‘Con chặt, cho hoa dưới trần gian nở/ Chặt cho búp lá mường Piêng tươi/ Mọi bông cỏ dưới trần gian đẹp/ Con chết ra ma, xin vào gốc cây gỗ ăn cơm’/ Nhả May chết, vào rừng ma, nên mẹ/ Nhả Kẻ (Nhả May) chết vào rừng rậm nên mẹ rừng dong/ Ăn cơm, cho chúng con ăn trước tất cả/ Ăn cỗ cho chúng con ăn trước cả bản/ Nhai cau, chúng con ăn ‘tai cau’/ Nhai trầu chúng con ăn cuống ăn ngọn(26).

Ngôn ngữ phát triển. Có nhiều tộc người: “Mỗi nơi chúng con cho nói một thứ tiếng/ Mỗi mường chúng con cho nói một khác" (27). Đến lớp người thứ 4: “Then lại bảo ông Ý Thi cùng bà Ý Thón/ Nước dưới trần cho họ xuống uống/ Đất mường Piêng cho họ xuống chăm/ Ông (Ý Thi) mới xuống đắp bờ khơi dòng/ Làm cho nước chảy/ Ông mới mượn bừa, mượn cày với bố Bôn (ông trời)/ Mang xuống bừa, xuống cày cho mảnh đất dưới trần gian/ Dồn lại thành núi, thành đồi trập trùng/ Cho có suối có khe đôi bờ dong, chuối/ Đá chất đống nên dãy núi đá/ Thành bản ‘đi thấp về bằng"/ Ông lập bản, dựng mường nên giàu/ Làm ăn mới sáng/ Làm mặc mới nên/ Đắp bờ nên ruộng sục/ Lấy nước gạo gội đầu/ Làm mùa có nhiều lúa/ Ông già trăm tuổi ông về” (28). Đến lớp người thứ 5: “Then lại bảo ông Căm Ngọc cùng bà Căm Vá/ Xuống chăm nước trần gian cho lắm cá/ Xuống chăm ruộng mường Piêng cho nhiều lúa/ Chủ mường (Căm Ngọc) gật đầu ưng thuận/ Ông nhìn xuống xin vâng/ Ông mới xuống chăm nước trần gian cho đẹp/ Xuống chăm mường Piêng cho tốt/ Xuống chăm cỏ bãi rộng xanh tươi/ Bảo nhau làm mường Piêng cho đều/ Anh cùng em cùng chung một dạ/ Xá (các tộc người Môn – Khmer) và Thái cùng chung một lời” (29). Đang còn chế độ quần hôn: “Mặt giống mặt/ Mắt giống mắt/ Không phải màn, không phải chăn của mình cũng nằm/ Không phải vợ chồng từ nhỏ cũng vào giường ngủ/ Chưa nhớ thương lúc nào cũng nói chuyện yêu đương/ Họ vác dao chạy quanh đồng giành người tình/ Vác dáo quanh bãi giành người yêu/ Chẳng biết ai là vợ của mình/ Họ chém nhau đến lúc chết tiệt/ Họ giết nhau đến khi chết hết/ Thuở ấy chết mất không” (30). Có cả tục mai táng bằng cách để quan tài trong hang động, và “gửi theo” vàng bạc cho người chết (trang sức, hoặc tiêu dùng trong thế giới bên kia): “Thời ấy chết mất dạng/ Chết không lên trời thấy Then Luông (ông trời)/ Căm Ngọc về trên núi/ Căm Vá về trong hang/ Về với suối nước chảy triền miên/ Lâu ngày họ ‘hóa’ thành bạc thành vàng trên núi nhiều thứ” (31). Lớp người thứ 6: “Then lại bảo Tạo Căm Xúng và nàng Căm Láng xuống chăm nước trần gian cho tốt/ Xuống chăm đất mường Piêng cho đẹp/ Xuống khai bản lập mường cho giàu” (32). Trải qua một thời kỳ hạn hán. Con người giải thích hiện tượng đó bằng sự trả thù của Bôn/Then (vì con người không chịu làm ăn): “Bố Bôn (Then) mới làm 9 ‘quả nắng’/ Làm 8 mặt trời/ Nắng mới chiếu thẳng xuống mường Là - trần gian chang chói/ Nắng vàng đốt mường đất, mường Piêng như lửa cháy/ Nắng thiêu ngọn cây, ngọn cối, núi rừng/ Nắng nứt cả núi đá/ Nắng nẻ cả núi đồi/ Nai trong rừng phát cuồng/ Người mường đất, mường Piêng ở chẳng yên/ Khóc kêu trời không lúc nào ngớt/ Họ mới gọi nhau về thành đàn/ Cùng ngồi lại bàn kế/ Bàn cách làm cái nỏ cánh dài để bắn mặt trời/ Bấy giờ 10 ông Thái đẽo thân nỏ/ 5 ông Xá đẽo cánh […]/ Bắn lên trên trúng ‘mắt trời’/ Bắn đằng trước trúng mặt trời […]/ Chỉ còn lại 1 cái - tối tăm/ Mặt trời rụng xuống suối, trôi xuống/ Trôi xuống mắc vào ở vũng, ở nơi suối cạn/ Then đưa mặt trời vào giấu gầm phản/ Dưới mường Là - trần gian tối bưng/ Dưới mường đất mường Piêng tối mịt/ Con dơi bay biến về núi đá/ Ai còn mò mẫm được, về rừng/ Thì tìm hang tìm hốc ở qua đời/ Còn ai ở giữa mường biết tính sao?/ Chỉ biết khóc mong nhớ mặt trời” (33). Hết hạn hán (thừa nắng mặt trời) thì lại đến thời tiết âm u, sương mù, thiếu nắng. Thời tiết nào cũng đáng sợ đối với con người. Họ muốn giải thích hiện tượng mặt trời mọc rồi lặn. “Người ta bảo:/ ‘Ai biết gọi, mặt trời còn ra/ Người biết kêu, mặt trời còn lại/ Muốn trả công cái gì thì nói/ Muốn lấy cái gì thì bảo/ Mặt trời ở tận mường nào?/ Họ ở đâu ngoài mường lớn nhìn không thấu?/ Ta đi tìm phía nào cho được?’" (34). Kẻ biết mặt trời ở đâu, và có thể “gọi” được mặt trời ra (mọc) là con gà. Và con gà phải nhờ vịt chở trên lưng để “Xuôi xuống nơi vũng sâu tìm mặt trời(35). Đó đúng là “vũ trụ quan sơ khai”. Những kẻ (vị thần) lập mường khai bản tiếp theo: “Đất mường Piêng ai làm?/ Ai lập mường, khai bản?/ 3 anh em Ẳm Ết/ 7 anh em Láng Chai/ Nước dưới trần họ xin xuống uống/ Đất mường Piêng họ xin xuống chăm/ Bố (Then) bảo xuống trần gian không chối/ Họ mới xuống lập mường, xây bản” (36). Hết thời hạn hán lại đến thời lụt lội, đại hồng thủy (khắc sâu trong ký ức nhân loại). Con người giải thích hiện tượng tự nhiên đó là do “Họ đặt đó có nắp đan kín/ Cái Lỷ (chặng ngăn nước bắt cá) nắp vàng/ Bấy giờ rồng cổ phồng mường trời đi qua/ Rồng cổ khoang mường Bôn chui vào/ Mác người ta xỉa/ Dáo người ta đâm/ Bôn mới giận đùng đùng/ Then mới tức lộn ruột/ Then làm cho nước chảy quành lên Bôn (trời)/ Chảy xoáy dòng về trời/ Nước tràn ngập cả mường Piêng (trần gian)/ Thấy núi Phá Xạt chỉ bằng cái nồi/ Núi Phá Chò chỉ bằng cái thìa tre/ Núi Phá Tong chỉ bằng máng gạo” (37). Trong trận đại hồng thủy đó thì chỉ có 2 chị em (1 trai 1 gái) sống sót: “Họ bám theo ống mét (tre) nổi trôi/ Chui vào trong ống bương đựng nước (…)/ Trôi dạt họ vào bọt rều trước nhà Then (trời)” (38). Chính họ sẽ là tổ tiên của loài người. Nhưng họ là 2 chị em. Làm sao đây? Một hôm Then bảo họ đi xem ruộng: “Họ đi xem thấy vợ chồng châu chấu đang cặp nhau/ Vợ chồng châu chấu đang cõng nhau/ Họ bảo:/ ‘Tại sao chúng mày làm xấu đú đởn với nhau giữa cánh đồng Then?(39). Nhưng châu chấu đâu có nghe thấy gì! Con cái nói với con đực: “Làm xấu, làm xa người ta chê cười/ Then thấy Then đập/ Bôn thấy Bôn mắng/ Then bắt về mang gông mang xiềng/ Người ta trói quặt dây vặn buộc chằng/ Ta chẳng có bạc vàng mà đền bắt vạ/ Người ta đập đôi gậy chết thối cả da/ Sao mà tôi ghét ‘con chó’ (con đực) chết dịch/ Quá lắm vậy, anh chết vứt đi!’/ Càng nói xấu càng rung tay giần giật/ Càng mắng mỏ càng đạp chân sầm sầm/ Xong xuôi rồi chúng (con đực) mới thở và nói:/ ‘Chẳng phải tôi làm xấu làm xa để người ta khinh nhờn/ Tôi quên sạch bởi đang lở dở/ Em hãy xem cho hết nhẽ chớ bỏ nhau đau/ Điều không hay hai ta chung chịu/ Khi nào ta nên vợ nên chồng ta hãy giấu hãy che/ Ta lấy lá lau lá mạ che mắt che mặt/ Như người trần có đệm có chăn ngủ đôi/ Như người dưới mường đất mường Piêng làm màn làm chăn cho con gái/ Sửa soạn chăn hoa cho con gái về nhà chồng"/ Bấy giờ hai người mới hiểu liền đi qua (…)/ Đi đến nơi chòi ruộng giữa đồng Then/ Họ rủ nhau lên chòi ăn trầu/ Dắt nhau lên chòi ruộng nhai cau/ Họ nói chuyện tỏ ra đằm thắm/ Họ trải chiếu đắp chăn nằm kề/ Cùng nhau nghĩ làm sao cho người nẩy nở/ Rồi họ nằm kèn kẹt dưới chăn dày/ Ọt ẹt dưới chăn rộng/ Thấy lùm lùm bụng trắng nàng có mang/ Để cho nàng bụng to mà đúc nên người/ Từ đó đến tháng cữ ở cữ/ Đủ tháng sinh mới sinh/ Sinh con gái con trai nhiều nhiều/ Sinh đầy đủ chẳng thiếu thứ chi/ Sinh cả Kinh cả Lào và Xá…/ Sinh ra người thì ra đằng trước/ Những thứ “ma” thì ra đằng sau/ Lỗ chân lông ra muỗi ra mòng/ Nơi gốc lưỡi ra con Manh Chính (bọ cây)/ Sên vắt đỉa thì ra hậu môn/ Ra đầy lá và bò lổm ngổm/ Bò đến bú kéo vú mà mút/ Chúng bám vào người mẹ không buông” (40). Hai chị em trở thành thủy tổ của loài người và người vợ/người mẹ ấy cũng là “thủy tổ” của muôn loài! Một nhân sinh quan sơ khai. Người dưới trần gian bị nạn hồng thủy làm chết sạch. Lớp người thứ 7 được cử xuống: “Then mới bảo Tạo Lo Căm (họ Sầm) xuống khai mường lập bản/ Chủ Căm Lạn (thế kỷ XV) xuống ngồi núi Pu Quai (Quế Phong)/ Bên trên Tạo Lo Căm cai quản/ Bên dưới anh em Lê, Nguyễn cầm quyền” (41). Người mang theo xuống mường nào là lúa, trâu, vịt, gà, chó, dê, mèo, voi, ngựa, bò, lợn, … Nước và lửa, hai thứ “tối cần thiết”. Cuối cùng, Tạo chủ xin với Then: “Chúng con xin nước với Bố (Then) xuống cho nước chảy/ Xin cả lửa với Then xuống nướng xuống thui" (42). Then ưng cho. Các con vật khác như hổ, muỗi, sên vắt, đỉa, cũng xin “xuống mường”, nhưng Then không gật. Dọc đường xuống mường, trâu tham ăn cỏ, người đuổi thì chạy vào rừng, khiến làm đổ hết nước và tắt mất lửa. Họ bàn nhau cử người (ai đó) quay lên trời xin nước và lửa với Then. Gà vịt đi, dọc đường ăn no thì quay xuống, không lấy được gì. Cuối cùng ruồi trâu đi. Ruồi trâu thưa với Then là trâu hay chạy vào rừng không về, nên Then đồng ý cho hổ xuống để trâu chạy về nhà với người. Ruồi trâu cũng nói người lười nhác để đường đi rậm cỏ, nên Then phải cho sên vắt xuống để người phải phát quang đường đi, lối lại. Ruồi trâu xin nước và lửa. Then bảo ruồi trâu che mắt lại để Then lấy nứa, giang đánh lửa (cọ xát) cho. Ruồi trâu khôn ranh mở hé mắt nhìn, nắm được cách Then làm ra lửa. Dọc đường xuống, Then bảo Then Lôm (thần gió) thổi tắt lửa của ruồi trâu, nhưng về nhà ruồi trâu vẫn biết cách bảo người cọ xát tre nứa để lấy lửa. Người cảm ơn ruồi trâu bằng cách cho nó được đốt/hút máu người để sống (!). Đó là cách giải thích thế giới sơ khai của con người, chủ nhân của sử thi nói về buổi bình minh của lịch sử loài người. “Xuống mường”, sử thi của người Thái nói về “sáng thế”, về quá trình buổi đầu “lập mường” ở miền Tây Nghệ An, với sự khai phá của dòng họ Hún Vi, Lo Căm… Là sử thi, tác phẩm phản ánh thế giới quan/vũ trụ quan và nhân sinh quan sơ khai của con người từ buổi bình minh của lịch sử - theo sự hình dung, tưởng tượng, và nhận thức “non trẻ” của mình. Nó có thể không “chính xác” theo kiểu khoa học, nhưng lại rất “có lý” trong tư duy cổ xưa. Nó hồn nhiên và thơ ngây theo kiểu “sử thi” – thời thơ ấu của nhân loại. 

 3. Quy chiếu

Dưới ánh sáng khoa học, chúng ta biết: “Lịch sử kiến tạo Trái đất của chúng ta được khắc họa từ thời điểm bắt đầu hình thành trong vũ trụ, cách đây khoảng 4,55 tỷ năm. Cũng như các hành tinh khác thuộc hệ Mặt trời, Trái đất ra đời từ tinh vân Mặt trời (đám mây bụi và khí dạng đĩa còn sót lại từ sự hình thành Mặt trời). Quá trình hình thành Trái đất được hoàn thiện trong vòng 10 đến 20 triệu năm. Trái đất khi mới hình thành trông giống như địa ngục hơn là ngôi nhà cho sự sống. Lúc đó, nhiệt độ trên hành tinh của chúng ta lên tới trên 10930C. Trái đất không có không khí, chỉ có các-bon điôxít, nitơ và hơi nước. Nó nóng bỏng và độc hại tới mức chỉ cần tiến lại gần, tất cả sẽ bị thiêu rụi thành tro chỉ trong vài giây. Trái đất thuở sơ khai là một quả cầu sôi sục dung nham với một đại dương nham thạch bất tận. Khí thải và các hoạt động của núi lửa tạo ra các yếu tố sơ khai của bầu khí quyển. Lớp vỏ ngoài của Trái đất ban đầu ở dạng nóng chảy, sau nguội lạnh dần thành chất rắn, trong khi nước bắt đầu tích tụ trong khí quyển. Quá trình ngưng tụ hơi nước cùng với việc băng và nước ở dạng lỏng được các sao chổi, thiên thạch cũng như các tiền hành tinh lớn hơn vận chuyển tới bề mặt Trái đất đã tạo ra các đại dương. Cách đây khoảng 4,53 tỷ năm, Trái đất đã có cú va chạm sượt qua với Theia - một hành tinh trẻ khác có kích thước bằng sao Hỏa và khối lượng bằng khoảng 10% khối lượng hành tinh của chúng ta. Kết quả là, một phần khối lượng của Theia đã sáp nhập vào Trái đất, phần còn lại bắn vào không gian theo một quỹ đạo phù hợp tạo ra Mặt trăng hàng ngàn năm sau đó (43). Như vậy, vũ trụ quan sơ khai của người Thái phản ánh ở trên cũng “gần” với khoa học rồi đấy chứ!

 4. Kết luận

Từ buổi bình minh của lịch sử, người Thái đã xem xét thế giới xung quanh, nhận thức về vũ trụ, thế giới, mặt trời, quả đất, nắng, mưa, hạn hán, v.v. Từ chỗ mông lung, chưa có gì, mặt trời, quả đất, mặt trăng, khí quyển/không khí, các hiện tượng thiên nhiên, con người, v.v. xuất hiện. Họ đặt ra các giả thiết/tưởng tượng: “trời” sinh ra “đất”, “nước”, v.v. Họ chia “trời” thành các “mường”, họ chia thế giới thành “3 tầng” (trời, người, đất), họ tạo ra các thần (then, ông thần, bà thần ), các người khổng lồ “san lấp” mặt đất, làm ra các cánh đồng, v.v. Tóm lại, vũ trụ/thế giới có sự “tác động” thì biến chuyển… cho đến khi được như ngày nay. Đó là vũ trụ quan rất sơ khai, nhưng cũng chứa “cốt lõi” khoa học sơ đẳng trong đó.

 

Chú thích

(1)https://www.google.com.vn/search?q=v%C5%A9+tr%E1%BB%A5+quan+l%C3%A0+g%C3%AC&oq=v%C5%A9+tr%E1%BB%A5+quan+l%C3%A0+g%C3%AC&aqs=chrome.0.69i59.11934j0j4&sourceid=chrome&ie=UTF-8của vũ trụ, vạn vật.

(2) Đing Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, H., 202, tr. 585.

(3) Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, Văn hóa Thái Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, H., 1995, tr. 443-466.

(4) La Quán Miên (sưu tầm, dịch, giới thiệu), Lai lông mương Lai mổng mương/Xuống mường Trông mường, Nxb. Thời đại, H., 2014, tr. 51.

(5), (6), (7), (8), (9) La Quán Miên, Sách đã dẫn, tr. 51.

(10) La Quán Miên, Sđd, tr. 51-52.

(11), (12), (13), (14) La Quán Miên, Sđd, tr. 52.

(15) La Quán Miên, Sđd, tr. 52-53.

(16), (17) La Quán Miên, Sđd, tr. 53.

(17) La Quán Miên, Sđd, tr. 53.

(18) La Quán Miên, Sđd, tr. 53-54.

(19), (20), (21) La Quán Miên, Sđd, tr. 54.

(22) La Quán Miên, Sđd, tr. 54-55.

(23) La Quán Miên, Sđd, tr. 55-56.

(24) La Quán Miên, Sđd, tr. 56.

(25) La Quán Miên, Sđd, tr. 56-57.

(26) La Quán Miên, Sđd, tr. 57.

(27) La Quán Miên, Sđd, tr. 57-58.

(28) La Quán Miên, Sđd, tr. 58-59.

(29) La Quán Miên, Sđd, tr. 59.

(30) La Quán Miên, Sđd, tr. 59-60.

(31), (33) La Quán Miên, Sđd, tr. 60.

(32) Wikipedia tiếng Việt

(33) La Quán Miên, Sđd, tr. 60.

(34) La Quán Miên, Sđd, tr. 61-63.

(35) La Quán Miên, Sđd, tr. 63-64.

(36) La Quán Miên, Sđd, tr. 68.

(37) La Quán Miên, Sđd, tr. 69.

(38), (39), (40) La Quán Miên, Sđd, tr. 72-75.

(41) La Quán Miên, Sđd, tr. 75.

(42) La Quán Miên, Sđd, tr. 79.

(43) Trái đất bắt đầu hình thành như thế nào?/ http://www.khoahoc.com.vn/ khampha/vu-tru/34329_trai-dat-bat-dau-hinh-thanh-nhu-the-nao.aspx

KHXHNV & Đời sống khác:
Chơi trăng (6/12/2019)
Đề xuất một vài hướng đi dạy học tích hợp Ngữ văn trên cơ sở lấy văn bản văn học làm ngữ liệu khai thác (6/12/2019)
Mưa, bão, lụt ở Nghệ An thời trung đại (5/12/2019)
Tư tưởng đoàn kết - Một trong những nội dung cốt lõi của Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh (3/12/2019)
39 người Việt chết ở Anh: Nỗi đau đa chiều và cách phòng tránh thảm kịch lặp lại (3/12/2019)
Xây dựng nông thôn mới ở thôn, bản - Cái nhìn đa chiều từ thực tiễn (3/12/2019)
Vũ trụ sơ khai quan của người Thái (29/11/2019)
Hỗ trợ Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức chính trị xã hội, vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh giai đoạn 2018-2019 (8/11/2019)
Thư chúc mừng của đồng chí Thái Thanh Quý - Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành KH&CN (25/10/2019)
Khoa học và công nghệ Nghệ An - 60 năm xây dựng và phát triển (25/10/2019)
Khoa học và công nghệ - Động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An (24/10/2019)
Gắn kết di sản dân ca Ví, Giặm với tuor du lịch ven sông Lam (10/10/2019)
Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 5 năm hành trình di sản (10/10/2019)
Phi công Nguyễn Văn Bảy - người anh hùng chân đất (25/9/2019)
Vũ trụ quan sơ khai của người Thái (12/9/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 328 | Tất cả: 1,958,576
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp