ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
NGUYỄN CẢNH HOAN(1)
Tin đăng ngày: 23/10/2019 - Xem: 37
 

Bùi Văn Chất

Ông họ Nguyễn, húy Hoan, tự Cảnh Mô được phong quốc tính: họ Trịnh. Trịnh Nông Sơn (xưa Nông Bang), người Ngọc Nùng. Mẹ họ Đào, mang ông tới 12 tháng mới sinh. Sinh thời, diện mạo kì tú, lúc nhỏ ham học cả văn lẫn võ. Tuổi tuy còn trẻ nhưng sớm có trí giúp người. Năm Thống Nguyên nguyên niên (1522), Mạc Đăng Dung thoán vị, bốn bề trộm cướp nổi dậy. Bấy giờ có bọn thằng Bật tụ tập người quanh vùng: Đông Liệt, Đồng Luân,tổng Đại Đồng quấy nhiễu dân lành. Ông cùng phụ thân là Huy mời các đầu mục của tổng góp nhân tài, vật lực lập trại Nùng Bang, định kế dẹp loạn. Số người đi theo có đến 100.

Hoàng đế Lê Trang Tông lên ngôi ở Ai Lao, hào kiệt khắp nơi hưởng ứng, ông cùng thân phụ tới Hành tại Sầm Châu, yết kiến, bái Dương Đường hầu, xin theo Minh Khang đại vương (Trịnh Kiểm). Qua nhiều trận lập nhiều công tích. Năm Nguyên Hòa 15 (1547), vua từ Ai Lao về Thanh Hóa, Mạc Kính Điển được bọn phản thân Nguyễn Tử Nha báo tin, dùng 3 trấn binh chống cự với nhà vua ở Vạn Hà. Vua ở sách Long Sùng chuyển quân tới đồn Lôi Dương, lệnh cho Thái sư điều chư tướng tiến đến Thụy Nguyên hợp chiến. Nguyễn Kính Điển thua chạy. Nhà vua ở Hành tại Vạn Lại định công phong thưởng. Ông được phong chức Đề đốc, tước Tấn quốc công. Mùa thu năm Tân Hợi (1551), về Đông Kinh luận thưởng, ông có nhiều chiến công, được thăng Đô đốc. Mùa đông năm ấy tiến đánh núi Thiên Kiện, bắt được Mạc Khánh Quốc. Mùa xuân Nhâm Tý (1552), Đại vương về Tây Đô, luận công hành thưởng, ông được gia phong Thái bảo.

            Từ ngày "nhược quán” (lên tuổi đôi mươi) theo Đại vương chinh chiến, đánh đâu thắng đó, Vương rất kính yêu mới ban cho mang họ Trịnh, họ của nhà chúa, lấy họ tên là: Trịnh Mô, coi như dòng dõi nhà vương, cấp thêm binh dân, quyền trông coi chế ngự việc nước, việc quân hệ trọng trong ngoài.

Năm Ất Mão (1555), phụng mệnh đánh quân Mạc ở huyện Vĩnh Phúc bắt sống được Thọ quốc công và Vạn Đồn hầu. Năm Giáp Tý (1564), Mạc Kính Điển xâm phạm Thanh Hoa, ông được lệnh cùng Vinh quận công Hoàng Đình Ái trấn giữ Điệp Môn, lập phòng tuyến ngăn quân Mạc. Mạc Kiêm vương Kính Điển đánh không nổi, lùi về Hà Trung. Vua Anh Tông bèn tiến đại quân, thu phục bờ cõi, lệnh cho Lai Thế Khanh An quận công dẫn binh theo tả lộ; Đại quân tiến trung lộ; ba đạo quân cùng xuất phát, thanh thế rất lớn, dành nhiều thắng quả. Năm Chính Trị, Tân Mùi (1571), vua phong công thần, ông được thăng chức Thiếu phó. Mùa Thu năm ấy Mạc Kiêm vương Kính Điển trở lại chiếm Nghệ An, nhà vua giao cho Lai quận công Phan Công Tích đưa quân tới cứu. Quân Mạc lui. Nghệ An trở lại ổn định. Ông hồi triều. Thế tôn hoàng đế lên ngôi (1573), xét công văn võ quần thần, Thành Tổ Trịnh Tùng (1570-1623) thấy ông tài biện, đặc cải sang ban văn chức, tiến cử vào hiệp mưu công thần, đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Thái phó, Thượng thư bộ Binh kiêm hành tướng quân sự.

Năm ấy, Mạc tướng Thạch quận công Nguyễn Quyện vượt biển vào đánh chiếm Nghệ An. Tướng trấn thủ Hoành quận công thất thủ, bị Quyện bắt. Tin tức đến Tràng An, ông được triều thần bầu cử cùng Lai quận công đốc quân đánh Quyện. Cầm cự mấy tháng các tướng kéo quân về.

Đầu năm Ất Hợi (1575), Quyện trở lại đánh vào Nghệ An, ông cùng Lai quận công lại được lệnh đưa quân về giữ. Tới nơi, cùng Quyện giao chiếm, không thắng, các ông phải chia quân hạ trại. Một đóng đồn ở Thanh Thủy, Nam Đường; một ở Quang Trung, Đông Thành. Nhận được tin, Quyện bảo với quân sĩ rằng: "Lai quận đóng quân ở Hai Vai này, Hai Vai không có đầu, ta có thể xuất binh bắt được. Tức thì hạ lệnh chia quân ngậm tăm nhanh tiến, vỗ mặt vây hãm. Lai quận bị khốn giữa vòng vây tả xung hữu đột nhưng không thể thoát, tự rạch bụng mà chết .

Ba thuộc tướng là quận Thanh, quận Dĩnh, quận Vĩ kéo vào Nam Đường cấp báo sự tình đau xót, ông mời vào nâng chén chia buồn. Nhân đó bảo cùng ba tướng: "Hôm qua, Lai công hẹn cùng ta giáp kích, ta mới tiến quân tới đây… Bỗng nhận thấy dưới dòng sông Gang xuất hiện 10 chiếc chiến thuyền. Lệnh kéo quân tới bến, nghi Đông Thành đã bị phá, nên không dám khinh xuất. Quả nhiên, trúng ngụy kế. Ta đang viết biểu tâu lên triều đình, xin cùng đưa quân báo thù cho Lai công. Một mặt sai người đưa thư đến Trường An; một mặt sẵn sàng chiến cụ, sai Nghĩa Võ hầu theo thủy quân tới rào Gang.

Quyện đắc thắng, lại mưu chiếm lấy Nam Đường, sai quân lên đầu sông Hiếu, chuyển sang dòng sông Lam mà về xuôi. Ông dò được tin tức bèn đốc quân thủy bộ bày trận bên trái chùa Chung Tháp, đợi. Quân Mạc bất ý tới nơi, thượng hạ giao công, bất phân thắng bại. Sang ngày thứ hai, hai bên bày trận, đánh lớn. Tướng tiên phong Hoàng quận công xông vào trận giặc, chém đến 100 thủ cấp quân Mạc. Quyện thu quân về bãi Liệu, ông đốc quân đuổi theo, thách đánh. Quyện bày trận, hai bên giao phong. Quân Nam bày trận, tiến. Có một thuộc tướng buông ngựa, múa đao, xông vào tận giặc, chém tới hơn 100. Quân Mạc rút lui. Quyện túi bụi kêu to: "Mày, tướng tiên phong là người nào vậy, dám khinh ta". Quân Nam đáp: "Ta là con trai tướng quân, Nham lĩnh hầu. Bắc quân, tướng nào dám đấu cùng ta". Quyện nói với thuộc hạ rằng: "Người này mã đao điều luyện, tướng môn, chúng mày ra trận, xuất tướng, cần đề phòng cẩn thận, nhất thiết không được xem thường!. Tức thì, thu quân lên đường núi chuyển ra Hoa Vi thị đóng doanh. Chi tướng Kỳ quận, Tây quận đem quân tuần phòng vùng Hòa Lương. Ông cũng thu quân về Thanh Thủy, đích thân đốc thúc việc canh gác ở các góc sông, đặt sào, đóng cọc triệt đường về của quân Mạc. Một dải dọc theo Nam Đường khống chế kín mít. Quân Quyện theo hai đường thủy bộ tiến vào ban đêm, nhưng không thể được. Càng quẫn, Quyện cùng thuộc tướng Bảng Trung quận bèn dẫn quân lẻn theo đường núi tập kích Võ Liệt.

Được tin, ông sai con là Nham lĩnh hầu - Kiên, em là Trung quận công - Chiêu, tiến cứu Võ Liệt. Mặt khác, em là Độc quận công - Văn cùng Trinh quận, Thế quận, Hội quận mai phục dọc xã Hoa Lâm. Ông thúc đại quân kế đến, các tướng được lệnh đang đêm tiến phát, bao vây mật phục. Từ quận Bình Ngô chuyển vào đường núi Hoàng Xá, Võ Liệt quanh tới bến Thanh Tào, thanh thế rất lớn. Thạch quận nghe tin dẫn quân theo hướng bờ sông Nam Đường (tức tả ngạn sông Lam) tránh lên đỉnh rú Nguộc hỏi: "Ngọn núi này tên gì. Sao nằm như thây giun đất?". Thuộc hạ thưa: "Đây là đất phát tích Tấn quốc công.

Xưa, ông cụ đang cày dưới chân núi Nguộc, gặp lão ông, khách lỡ đường, cùng tiểu đồng mang giỏ nhỏ, xin nghỉ qua đêm. Cụ liền mời về nhà, mổ gà làm xôi đãi khách. Sáng sớm hôm sau, khách xin đi, cụ tha thiết mời khách lưu lại, rồi vào làng đổi gạo, đồ xôi, đối đãi tử tế. Khách về, mấy ngày sau trở lại mang theo túi gạo, lồng gà, rượu đến cùng đối ẩm. Qua chuyện trò, khách hỏi chủ tính danh thế hệ. Chủ đáp: "Đại phu của tiểu nhân là Lữ, quê Đông Triều. Nhân thời Hồ đại loạn, lưu lạc tới đây, làm nghề đưa đò qua sông rú Nguộc. Thân phụ, một hôm, mang bầu ngải đi làm thuốc, qua núi Đông Liệt bị hổ vồ, táng ở đất này. Đã nhờ người xây thành một nấm, không dám chuyển dời. Gặp lúc nghèo khó, thân mẫu lại qua đời, ta tạm vào làm người giúp việc ở chùa Nồng Sơn. Nhân đó không nỡ rời xa, dựng túp lều tranh coi phần mộ tiền nhân. Lão ông nghe vậy, bảo: "Cám ơn ngươi hậu ý, không có gì báo đáp, hôm qua thấy ở rú Nguộc có một thế đất Tân long chuyển tốn, nhập hữu cước, kim tinh khai thủy huyệt (huyệt kim tinh khai thủy, long mạch từ Tây ghé Tây Bắc chuyển sang bên phải hướng Đông Nam), trước sau phân rồi hợp thật đẹp. Tả hữu quy, long hình thế như cờ dang lọng mở - phía trước có dòng sông uốn khúc trong xanh. Đích thị Tam công võ quí thượng cách", nhà ngươi có phúc lực có thể kham được đấy. Sáng mai theo ta tới huyệt trường nhận điểm và hướng. Lại còn lưu câu sấm ký: "Tụ trướng cao bích, tốn tấn xuất mạch, công hầu thương cách, đại đại bất dịch (Màn trướng cao, hướng Tốn hướng Tân xuất mạch. Đây là huyệt công hầu thượng cách, đời đời không đổi, chỉ hiềm sa vệ khoáng phi di, đời đời công không đều ở nơi quán khách). Lại có câu: "Tiền tam phong, hậu tam phong/ Tử tôn thế thế xuất anh hùng. Đản hiềm thủy phá cấn dần cung/ Nữ tử không phòng độc tróc" (Trước ba ngọn, sau ba ngọn. Cháu con đời đời xuất anh hùng. Chỉ hiềm thủy phá cung cấn dần (Đông Bắc). Cho nên con gái phòng không lạnh lẽo suốt đêm dài) ».

Quyện nghe xong, sang đò lên núi ngắm cảnh khí sắc nơi đây, nói: "Núi này to đẹp có vẻ thanh tú, có đặc cách, được hưởng lộc. Hiềm mạch lai trực hạng (mạch thẳng về cổ), Tấn quận rồi sẽ chết, Vãn không khỏi bị ta bắt. Núi Nguộc Nam Đường cũng như lèn Hai Vai vậy, Tấn cũng như Lai, chỉ một sớm một chiều. Vừa nói xong, bỗng nghe tiểu tốt phi báo quan Nam đã kéo đến địa giới Đông Luận, Quyện tức tốc thu quân kết trận, cưỡi ngựa đến chỗ hiểm yếu, đợi.

Đồn trú nghiêm chỉnh, bèn đề một bài thơ; sai người đưa tới doanh môn:

                                    "Hoan Châu trước cước lộ thôi khôi

                                  Vạn lý hành chinh tửu hạc lôi

                                  Tương chức dĩ hà phong trí Tấn

                                   Nam mô lưỡng tự Tấn như Lai"

Nghĩa là:        "Đường núi Hoan Châu đá lẫn đất

                                 Muôn dặm hành quân rượu đã cạn

                                 Lấy chức gì phong cho Tấn đây

                                 Nam mô hai chữ: Tấn cũng như Lai".

Ông cười bảo, bọn giặc giảo hoạt chửi ta! Tức thì, đốc đại quân tiến đánh đồn Hoa Lâm. Nhân đó, báo cho đạo Thanh Chương đồng thời tập kích. Ở vùng Hoa Lâm, Hoa Ổ, có hai đền thờ thần. Ông mật tấu xin bảo hộ quan quân đánh tan quân giặc. Sau thắng lợi trở về, thỉnh triều thần gia phong hiển hiệu. Đêm ấy, bỗng mộng thấy hai người mở cửa vào, báo: "Quân địch nay đã vào chỗ nguy, ta chia địa phận mai phục, triệt thu nơi hiểm yếu, khiến cho chúng tiến thoái không được, đại quân thừa thế đánh phá, tất thu quân thiết phục nơi hiểm yếu. Sáng mai đại suất binh mã, bắn chết hàng trăm quân Mạc. Quân Mạc chống đỡ không nổi, chúng thua tàn binh chạy về Thái Lão, Hưng Nguyên. Ông chém được Kỳ quận công dưới ngựa, quân Mạc tổn thất nặng nề, Quyện và em là Nghê thu quân xuống thuyền mà chạy. Ông đốc thủy quân đuổi theo. Giặc chạy ra cửa biển Đan Nhai, ông thu quân về trại, sai người tới Tràng An, báo tin thắng trận và xin bao phong cho hai vị thần ở Hoa Lâm, Hoa Ổ.

Năm Gia Thái thứ 4, Bính Tý (1576), Mạc Kinh Điển lại đưa quân vào Chiếm Thanh Hoa. Tin tức đến hành tại. Thành Tổ vời Tấn công vào triều, ông tiếp tuyên chỉ thật vui, chia các tướng cố thủ doanh trại. Rồi cầm đội kỳ binh 200 quân tinh nhuệ cùng thuộc tướng Bắc tiến. Trên đường hành quân, vừa gặp Mạc Thường Quốc trốn vào đồn binh ở Hai Đinh (?). Thuộc tướng Lâm quận công được tin, chạy về báo cho quân Mạc, Quyện cho tiểu soái tiến vào chặn đường quan Ngọc Sơn, từ Cầu Quan đến Hải Lạp bố trí mai phục. Đêm hôm sau, ông cho quân ông đội trăng mà tiến. Bất ngờ, trời tối đen, mưa như trút, quan quân đội mưa mà đi. Tới mời sáng nước dâng đầy, áo mũ ướt sũng, bỗng hai bên la hét vang lên. Quân ta không kịp chuẩn bị, cùng giặc giáp chiến suốt ngày, từ giờ Mão đến giờ Dậu, không phân thắng bại. Trời về chiều, Quyện thúc quân đuổi phía sau. Quân ta toán loạn, chạy. Ông cùng ngựa bị hãm giữa vùng lầy, quân giặc nhân đó bao vây và bị chúng bắt. Phẫn uất, ông làm thơ để lại. Thơ, đến nay chưa rõ(2).

                     

 Chú thích

  1. Nguyên bài thơ tuyệt mệnh ấy, bằng chữ Hán, hiện lưu trữ tại Thư viện Nghệ An

                   “ Nhân trung bẩm cương nghị/ Tâm thượng đốc trung trinh

Thiên địa quang chính khí/ Nhật nguyệt chiếu chân tình

Lăng lăng khí bất khuất/ Lẫm lẫm tử do sinh

Sát tịnh chư man quỷ/ Xúc tận chúng tà tinh

Thục hữu chân tâm tảo/ Lai tâm tự luân linh.

Hoàng triều Gia Thái tứ niên, bát nguyệt, trung thu nhật”.

Dịch thơ:

“Vốn tính người thẳng thắn/ Lòng tỏ rõ trung trinh

Đất trời rạng chính khí/ Nhật nguyệt chứng chân tình

Bừng bừng chí bất khuất/ Lẫm lẫm thác như sinh

Giết sạch loài gian dối/ Tróc hết lũ tà tinh

Ai thật lòng cầu khẩn/ Ta sẽ ứng rất nhanh”.

Trung Thu Bính Tý Gia Thái, 1576.

Bản dịch của BVC        

  1. Bài đã in trên tr 217-222/920 sách Thanh Chương xưa và nay, Nxb. KHXH HN -2010
Đất và người xứ Nghệ khác:
Văn thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (5/11/2019)
Người một đời tâm huyết với xứ Nghệ (5/11/2019)
PGS. Ninh Viết Giao - Người nặng lòng với văn hóa dân gian xứ Nghệ (5/11/2019)
NGUYỄN CẢNH HOAN(1) (23/10/2019)
Về Hưng Tân nghe hát Ví, Giặm (11/10/2019)
Nguyễn Trung Phong - Người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm (11/10/2019)
Khám phá hang động Thằm Viên nơi biên giới miền Tây Nghệ An (25/9/2019)
Khám phá ngôi đình cổ 300 năm tuổi ở xứ Nghệ được dựng chỉ trong 1 đêm (14/9/2019)
Nhà thơ dân gian Trần Hữu Nghiêm (12/9/2019)
Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện - Người được lập đền thờ khi còn sống (9/9/2019)
Những hình ảnh quý hiếm về cảng Bến Thủy sầm uất gần một thế kỷ trước (7/9/2019)
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 210 | Tất cả: 1,917,941
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp