DIỄN ĐÀN > ĐỐI THOẠI
Không thể im lặng trong phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái
Tin đăng ngày: 11/10/2019 - Xem: 38
 

 “Đã hơn một thập kỷ trôi qua từ khi nhà nước thông qua Luật Phòng chống bạo lực đối với phụ nữ nhưng nhìn chung vấn đề này vẫn còn nhiều điều phải suy nghĩ. Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội. Nhận thức của con người về vấn đề cũng thay đổi nhanh chóng. Các hoạt động liên quan đến việc phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái cũng được triển khai thường xuyên và ngày càng tốt hơn. Nhưng hiệu quả của các công tác phòng chống bạo lực đối với phụ nữ hay việc thực thi các quy định của pháp luật về vấn đề này cũng còn nhiều điều bất cập. Để hiểu thêm về những vấn đề này, chúng tôi đã có buổi trao đổi với nhà nghiên cứu Hoàng Tú Anh, Giám đốc Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP), một tổ chức phi chính phủ chuyên nghiên cứu, tư vấn các vấn đề liên quan đến phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống bạo lực đối với phụ nữ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

*  *

*

Upload

PV: Để bắt đầu câu chuyện, có thể chúng ta sẽ đưa ra các cách hiểu về như thế nào là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái? Cách phân chia các hành vi bạo lực đối với trẻ em gái ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Nó có gì khác với các nước khác?

Nhà nghiên cứu Hoàng Tú Anh (HTA): Với một đất nước chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Nho giáo như nước ta thì vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội là vấn đề quan trọng và cần phải được quan tâm đặc biệt. Trong xã hội truyền thống trọng nam khinh nữ nên người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi trên nhiều phương diện. Nhưng càng ngày, xã hội càng phát triển thì nhận thức về bình đẳng giới cũng ngày càng cao hơn. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ ngày càng được nhà nước và xã hội quan tâm hơn. Việt Nam kí công ước về Xóa bỏ mọi hình thức bạo lực và phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) từ năm 1979 và là một trong những nước đầu tiên kí công ước này. Điều tra quốc gia đầu tiên về bạo lực đối với phụ nữ của Việt Nam được thực hiện dựa trên nghiên cứu đa quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Do vậy, về cơ bản khái niệm bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái ở Việt Nam cũng như cách phân loại là khá tương đồng với định nghĩa và phân loại quốc tế. Định nghĩa này qui định bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái là tất cả các hành động xảy ra ở nơi công cộng hay riêng tư, có thể gây tổn hại đến thể chất, tinh thần, kinh tế, xã hội và tình dục bao gồm cả việc đe dọa thực hiện các hành vi này. Các hành vi bạo lực được chia thành bạo lực thể chất, tinh thần và tình dục.

PV: Vấn đề phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái ở Việt Nam đã thay đổi như thế nào trong nhiều năm qua? Phải chăng, càng ngày, cùng với phong trào đấu tranh cho bình đẳng giới, phong trào phòng chống bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái cũng tăng lên?

HTA: Việt Nam thông qua Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình năm 2006. Lúc đó chúng tôi - Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) đang triển khai chương trình phòng chống bạo lực trên cơ sở giới dựa vào y tế và cộng đồng tại Cửa Lò. Tôi vẫn nhớ, ngay hôm Luật được thông qua, ông Phan Công Lưu lúc đó là Phó Chủ tịch thị xã Cửa Lò đã gọi điện cho tôi và chia sẻ rất xúc động “Chị Tú Anh ơi, có Luật rồi. Mừng quá. Chương trình của chúng ta đã có kết quả và chúng ta đã có cơ sở pháp lý chính thức để đưa phòng chống bạo lực giới vào mọi ngành, mọi gia đình rồi”. Cũng xin chia sẻ thêm trong quá trình vận động cho sự ra đời của bộ Luật này, các phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình ở Cửa Lò cũng tham gia tích cực đưa tiếng nói người trong cuộc đến các nhà làm luật. Đúng là có Luật phòng chống bạo lực gia đình, vấn đề bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái được thảo luận nhiều hơn ở các diễn đàn chính thức. Từ năm 2016, Việt Nam chính thức lấy tháng 11 là tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng chống bạo lực với phụ nữ. Đây là những thay đổi tích cực, thể hiện cam kết chính trị đối với vấn đề này.

PV: Nhận thức của con người về phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái là vấn đề quan trọng. Theo chị, chúng ta nhận thức về vấn đề này bắt đầu từ lúc nào? Và nhận thức đó thay đổi như thế nào cho đến hiện nay?

HTA: Đúng là có thay đổi rất nhiều. Khi chúng tôi bắt đầu dự án phòng chống bạo lực trên cơ sở giới ở Cửa Lò năm 2006, khái niệm bạo lực giới, bạo lực gia đình lúc đó với nhiều người còn rất mơ hồ. Khi làm việc ở xã, lãnh đạo xã còn nói ở xã không có vấn đề này, hoặc chỉ có một ít trường hợp và những trường hợp đó là do người chồng có vấn đề về tâm lí, tâm thần hay do di chứng chiến tranh. Chính vì thế sản phẩm truyền thông đầu tiên của chúng tôi là tập sách Những mảnh đời có thật chia sẻ những câu chuyện thật chúng tôi thu được trong nghiên cứu tại địa phương về bạo lực với phụ nữ do chồng gây ra nhằm giúp mọi người nhận thức được vấn đề này. Tập sách có tác động rất mạnh tới lãnh đạo địa phương và cộng đồng. Tiếp đó là rất nhiều hoạt động truyền thông tại cơ sở để giúp mọi người nhận ra không phải là chuyện say rượu mà chính bất bình đẳng giới là nguyên nhân gốc rễ của vấn đề. Trong chương trình chúng tôi có hai tư vấn viên làm việc tại Trung tâm tư vấn Hạnh phúc gia đình đặt tại Trung tâm y tế Cửa Lò. Tôi vẫn nhớ khi tuyển bạn nam giới làm tư vấn viên, chúng tôi có đặt tình huống một người vợ có nói lại chồng khi không đồng ý với chồng và người chồng đánh vợ thì bạn ấy nói “Em vào tình huống đó em cũng đánh. Vợ thế hỗn quá”. Sau khi tham gia vào các đào tạo trong chương trình, bạn ấy trở thành một cán bộ truyền thông và một tư vấn viên tuyệt vời. Tiếc là khi hết dự án, địa phương có những thay đổi về nhân sự và bạn ấy đã bị điều chuyển đi làm công việc khác. Nhìn trên bình diện quốc gia thì thấy rằng sau khi có luật và đặc biệt sau nghiên cứu quốc gia lần đầu về bạo lực gia đình thì bạo lực với phụ nữ đã được biết đến nhiều hơn, được nhìn nhận nhưng việc bào chữa, dung túng cho bạo lực vẫn còn phổ biến. Trên 90% biết bạo lực đối với phụ nữ là vi phạm pháp luật và hầu hết đồng thuận với ý kiến rằng nam giới không nên đánh vợ hay đánh vợ là xấu. Tuy nhiên, trên 60% lại cho rằng đánh vợ là chấp nhận được trong một số tình huống. Đặc biệt đánh vợ khi vợ ngoại tình, khi cãi lại mẹ chồng được rất đông người ủng hộ. Điều đấy cho thấy nhận thức về vấn đề này có thay đổi nhưng chưa sâu và do vậy ít có tác động đến thay đổi hành vi.

PV: Là một người có nhiều năm nghiên cứu và hoạt động xã hội trong việc phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, chị nhận thấy vấn đề này hiện nay đang gặp những khó khăn và thuận lợi nào? Làm sao để hạn chế những khó khăn đó?

HTA: Các thuận lợi tôi đã nói nhiều ở trên, câu này xin tập trung vào khó khăn. Việc đặt bạo lực với phụ nữ trong luật phòng chống bạo lực gia đình giống như bạo lực với tất cả các thành viên khác trong gia đình đã khiến phần nào làm lu mờ yếu tố bất bình đẳng giới như là nguyên nhân gốc rễ của bạo lực đối với phụ nữ. Đây có thể là một trong những yếu tố khiến phong trào phòng chống bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái chưa có nhiều hiệu quả, chưa có chiều sâu. Luật có, nhưng các trường hợp phụ nữ bị bạo lực được đưa ra xử lí với pháp luật còn rất hạn chế. Tư tưởng coi đây là chuyện riêng, chuyện gia đình hay việc đánh vợ là chấp nhận được trong một số trường hợp vẫn còn rất phổ biến.

Quan niệm coi trọng hôn nhân, hay việc con phải có cả bố và mẹ là những rào cản quan trọng trong báo cáo và xử lí bạo lực. Nhiều trường hợp dù bị bạo lực nặng nề trong thời gian dài, chính cán bộ cơ sở hay bố mẹ của người phụ nữ là người khuyên người phụ nữ hãy chịu đựng, hy sinh vì gia đình, cố gắng sống với chồng để con có bố.

Trong các loại bạo lực thì bạo lực thân thể thường dễ được báo cáo và can thiệp hơn. Các cơ quan có thẩm quyền hay các thành viên trong hệ thống hỗ trợ tại cơ sở vẫn lúng túng nhiều với bạo lực tình dục. Trong một cuộc phỏng vấn, một cán bộ cơ sở chia sẻ như thế này “Nếu anh ấy đánh hay đập vỡ cái xe đạp của cô ấy thì tôi có thể can thiệp được ngay, có bằng chứng rõ ràng. Nhưng nếu bảo hôm trước anh chồng cưỡng ép quan hệ thì tôi cũng không biết làm thế nào, không biết lấy bằng chứng như thế nào”.

Bên cạnh đó một số phong trào có thể gây ảnh hưởng không mong muốn cho phòng chống bạo lực ví dụ như phong trào Gia đình văn hóa, Làng văn hóa hay phong trào phụ nữ ba tiêu chuẩn. Chính những phong trào này có thể làm cán bộ địa phương không muốn báo cáo các trường hợp bị bạo lực, không muốn hỗ trợ phụ nữ li hôn.

Một trở ngại quan trọng nữa là cực kì thiếu dịch vụ hỗ trợ. Cả nước đã có số đường dây nóng 111 để báo về bạo lực nhưng số người trực tổng đài còn ít do vậy thời gian chờ còn dài. Tư vấn hỗ trợ về tâm lí và xã hội mới chỉ có ở thành phố lớn và cả nước mới có hai cơ sở tạm lánh chính thức cho phụ nữ bị bạo lực. Đây là những rào cản khiến người phụ nữ khó thoát khỏi bạo lực.

PV: Nói đến phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái thì trước hết ta cần bàn đến hệ thống chính sách liên quan đến vấn đề này. Vừa là một nhà nghiên cứu, vừa tham gia hoạt động thực tiễn xã hội để giải quyết vấn đề này, chị nhận xét thế nào về hệ thống chính sách đối với vấn đề này ở Việt Nam hiện nay? Những điểm được và chưa được trong việc xây dựng chính sách phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái hiện nay là gì? Cần phải làm những gì để có thể hoàn thiện hơn về hệ thống chính sách đó?

HTA: Một số điểm liên quan tới chính sách tôi đã bàn ở trên. Cần phải nói rằng, trong hơn một thập kỷ qua chúng ta không ngừng nỗ lực xây dựng và hoàn thiện dần các quy định về pháp luật có liên quan đến vấn đề phòng chống bạo lực đối với phụ nữ. Điều đó vô cùng quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý để quản lý, giám sát và xử lý các hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. Tuy nhiên, do vấn đề bạo lực và nhận thức về bạo lực đối với phụ nữ cũng thay đổi nhanh chóng nên xuất hiện nhiều lỗ hổng, nhiều hạn chế từ hệ thống chính sách mà các quy định chưa thể bổ sung kịp được. Một số điểm hạn chế quan trọng của hệ thống chính sách là việc chưa có các qui định cụ thể về bạo lực tình dục. Bên cạnh đó cơ chế về xử phạt chưa hợp lí. Nhiều phụ nữ không báo cáo bạo lực do chồng gây ra vì nếu xử phạt thì chính họ lại phải bỏ tiền của họ hay của gia đình ra trả.

PV: Theo tôi nghĩ, để làm tốt hơn việc phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, bên cạnh hệ thống chính sách và hoạt động của các cơ quan chuyên môn của nhà nước thì các tổ chức xã hội (hay xã hội dân sự) giữ một vai trò quan trọng. Dù đó là tổ chức xã hội trong hay ngoài nước cũng đều có vị thế riêng. Có nhiều vấn đề, các cơ quan nhà nước có thể làm chưa hiệu quả nhưng các tổ chức xã hội lại làm tốt hơn. Trong tình hình hiện nay, theo bà, các tổ chức xã hội hiện nay đang đóng vai trò như thế nào trong việc giải quyết vấn đề này? Làm thế nào để tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội hoạt động có hiệu quả hơn?

HTA: Như trên đã chia sẻ, bạo lực với phụ nữ, bạo lực gia đình, bạo lực tình dục dù có luật nhưng vẫn là những vấn đề nhạy cảm, khó nói, và đây chính là lí do vì sao các tổ chức xã hội lại có vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề này. Việc đưa vấn đề bạo lực gia đình thành vấn đề công cộng, vận động đưa vào luật có vai trò quan trọng của xã hội dân sự. Các tổ chức xã hội dân sự như Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe Dân số đã làm về vấn đề này trước khi có luật. Các tổ chức xã hội không thực hiện các nghiên cứu ở mức quốc gia nhưng các nghiên cứu nhỏ, sử dụng phương pháp định tính lại giúp phát hiện vấn đề. Các tổ chức xã hội cũng là đơn vị thử nghiệm các mô hình can thiệp và hỗ trợ đầu tiên rồi từ đó đưa khuyến nghị để các cơ quan chức năng điều chỉnh và áp dụng trên diện rộng. Năm 2016 Việt Nam mới chính thức kỉ niệm ngày 25/11, chúng tôi đã đưa hoạt động này vào và được lãnh đạo địa phương ủng hộ tổ chức ở Cửa Lò từ năm 2007.

Để các tổ chức xã hội hoạt động hiệu quả hơn, đóng góp nhiều hơn, nhà nước cần tạo điều kiện mở cơ hội để các tổ chức xã hội tham gia bình đẳng với các tổ chức nhà nước trong dự phòng và ứng phó với bạo lực bao gồm cả tham gia nghiên cứu, truyền thông giáo dục và dịch vụ hỗ trợ. Hiện tại hầu hết ngân sách hoạt động của các tổ chức xã hội là hỗ trợ quốc tế do vậy không ổn định, khó bền vững. 

PV: Theo quan sát của tôi thì một trong những vấn đề quan trọng trong việc phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái chính là sự im lặng của những người trong cuộc. Họ là những nạn nhân, nhưng có thể do nhận thức, hoặc do rào cản văn hóa và nhiều vấn đề khác mà họ ngại lên tiếng. Một khi những người trong cuộc im lặng thì các biện pháp phòng chống bạo lực mà cơ quan chính quyền đưa ra hay nỗ lực của các tổ chức xã hội cũng gặp rất nhiều khó khăn và khó thu được kết quả như mong muốn. Là một nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm, bà có cảm thấy vậy không? Làm sao để giải quyết được tình trạng đó?

HTA: Tôi tham gia vào nghiên cứu quốc gia lần đầu tiên về bạo lực gia đình với phụ nữ năm 2009-2010, phụ trách cấu phần nghiên cứu định tính. Tiêu đề của báo cáo nghiên cứu lần đó đã lấy trích dẫn câu nói một phụ nữ bị bạo lực “Im lặng là chết đấy”. Đây là câu nói mà người phụ nữ đã tự rút ra cho chính mình sau khi chị ấy đã tự giải thoát được mình khỏi những lần bị hành hạ chết đi sống lại của người chồng. Điều này cho thấy việc lên tiếng của người trong cuộc quan trọng như thế nào. Tuy nhiên, nếu nói rằng hiện nay các nạn nhân đang im lặng, chưa lên tiếng và vì thế các can thiệp không hiệu quả thì tôi lại không đồng ý. Tôi e ngại rằng cách lí giải này có thể lại là một cách nhìn đổ lỗi cho nạn nhân. Đúng là có những trường hợp bạo lực được thể hiện một cách thầm lặng và tinh vi mà chính người trong cuộc không nhận ra và không lên tiếng hoặc trong nhiều trường hợp người bị bạo lực còn e ngại, xấu hổ mà giấu hay che giấu tình trạng của mình, tuy nhiên, cần đặt câu hỏi có đúng là những trường hợp này bạo lực là hoàn toàn im lặng không? Tôi nghĩ là không. Trong nghiên cứu của tôi, rất nhiều trường hợp bạo lực ầm ĩ, dù người trong cuộc không nói, không báo nhưng hàng xóm, thậm chí lãnh đạo cơ sở không thể nói là không biết. Hay rất nhiều khi những phụ nữ bị bạo lực đến cơ sở y tế và nói là mình bị ngã mà cán bộ y tế cũng tin ngay. Hay khi họ đến công an để báo thì lại bị hỏi lại là “Chắc làm sao chồng nó mới đánh chứ”. Vậy chúng ta cũng cần đặt lại câu hỏi là liệu các cơ quan hỗ trợ đã làm hết trách nhiệm chưa. Khi người bị bạo lực không nói có nghĩa là họ im lặng. Nếu chúng ta đủ nhạy cảm, nếu chúng ta nhìn vào mắt, nghe bằng tim chứ không chỉ bằng tai, chúng ta làm đúng các qui định về sàng lọc, báo cáo, xử lí các trường hợp bị bạo lực thì sẽ thấy những người bị bạo lực không im lặng đâu.

PV: Chúng ta đang bàn đến vấn đề phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. Điều này là quan trọng. Nhưng thiết nghĩ, trong bối cảnh xã hội hiện nay, không chỉ phụ nữ và trẻ em gái mới bị bạo hành. Phải chăng chúng ta cần nhìn rộng ra hơn, đó là vấn đề an ninh con người ở Việt Nam đang còn nhiều bất cập. Bà có thể trao đổi thêm về vấn đề này qua góc nhìn của chị. Theo bà, làm thế nào để chúng ta có thể đảm bảo tốt hơn vấn đề an ninh con người trong bối cảnh hiện nay?

HTA: Tôi nghĩ chúng ta cần quay lại cái gốc của xã hội là giáo dục. Qua rất nhiều năm chúng ta chỉ tập trung đào tạo con người giỏi văn, giỏi toán và các bài học đạo đức chủ yếu mang tính giáo điều. Các giá trị nhân văn, các mối quan hệ trên cơ sở bình đẳng, không bạo lực không được bàn, không được thực hành trong nhà trường và gia đình. Ngược lại, chính nhà trường và gia đình dường như lại đang là nơi xảy ra nhiều bạo lực nhất. Từ trẻ con đến người lớn phải chịu quá nhiều áp lực. Các thể loại hình thức kỉ luật được sử dụng ở mọi nơi. Tôi nghĩ việc xây dựng xã hội lấy giáo dục nhân văn, bình đẳng, dân chủ làm gốc sẽ giúp nhiều trong việc giảm bạo lực. Bên cạnh đó là đảm bảo một xã hội công bằng, pháp luật được thực thi, người dân tin vào công lý cũng rất quan trọng trong việc tạo ra một xã hội an ninh và phát triển.

Xin trân trọng cảm ơn bà về cuộc trao đổi này!q

P.V (Thực hiện)

Diễn đàn khác:
Không thể im lặng trong phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (11/10/2019)
Tác động của sự bùng nổ thông tin truyền thông đến nhận thức xã hội của người dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An (11/10/2019)
Phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và các hướng công nghệ ưu tiên ở nước ta trong bối cảnh mới hiện nay (25/9/2019)
Nhìn lại 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở Nghệ An (12/9/2019)
Phải chăng hoạt động của vị trạng nguyên người Nghệ đã để lại dấu ấn trong câu thơ của đức vua Trần Nhân Tông? (12/9/2019)
Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, sự cần thiết thành lập khu dữ trữ tự nhiên Puxailaileng miền Tây Nghệ An (12/9/2019)
Bàn tròn tháng 8: 70% bài thi lịch sử dưới điểm trung bình: Nguyên nhân và Giải pháp (9/9/2019)
Vai trò của Bảo tàng trong giáo dục lịch sử đối với học sinh phổ thông (9/9/2019)
Bác Hồ đã dạy "Dân ta phải biết sử ta" (9/9/2019)
Việt Nam trong cục diện kinh tế thế giới (21/8/2019)
Báo chí và mạng xã hội - Cạnh tranh hay hợp lực? (9/7/2019)
Nho giáo và chữ Lễ có ‘trói buộc con người’ không? (27/6/2019)
Đã đến lúc phải đổi mới trong nghiên cứu KHXH&NV (27/6/2019)
“Vai trò của báo chí trong truyền thông về chuẩn mực văn hoá ứng xử”: Ở góc độ này, báo chí làm còn yếu (18/6/2019)
Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (3/6/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 228 | Tất cả: 1,917,959
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp