DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Tác động của sự bùng nổ thông tin truyền thông đến nhận thức xã hội của người dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An
Tin đăng ngày: 11/10/2019 - Xem: 44
 

 

Th.S Nguyễn Thủy

Tóm tắt

Trong khoảng hai thập kỷ đầu thế kỷ XX đã chứng kiến một sự bùng nổ thông tin truyền thông ở các dân tộc thiểu số vùng miền núi. Càng ngày, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại 4.0 thì sự bùng nổ thông tin truyền thông càng mạnh mẽ hơn và tác động ngày càng sâu sắc hơn. Điều này ảnh hưởng đến sự  nhận thức xã hội của người dân, từ sự nhận thức xã hội khép kín, nhỏ hẹp sang nhận thức về một thế giới rộng lớn hơn, nhận thức xã hội đa chiều hơn. Và nó cũng làm thay đổi hành vi, thói quen của nhiều người dân, qua đó đẩy mạnh quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa các cộng đồng với nhau làm cho quá trình biến đổi văn hóa trở nên phức tạp hơn nhiều. Sự phát triển của truyền thông thông tin ở vùng miền núi cũng tác động cả tích cực lẫn tiêu cực đến đời sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh đó, việc làm thế nào để định hướng thông tin nhằm giúp người dân ổn định tâm lý để phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa truyền thống và góp phần bảo vệ an ninh quốc gia trở thành vấn đề quan trọng. Nghiên cứu vấn đề này ở các dân tộc thiểu số vùng miền núi Nghệ An như là một sự đóng góp về mặt lý luận lẫn thực tiễn đối với vấn đề quan trọng của quá trình phát triển miền núi trong xã hội hiện đại.

  1. Sự bùng nổ thông tin truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số

Thông tin truyền thông là những kênh cơ bản truyền tải các thông tin về cuộc sống hàng ngày đến với nhiều người dân. Và trong vài thập kỷ gần đây, dưới sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, một sự bùng nổ về thông tin truyền thông đã được diễn ra trên diện rộng và được thôi thúc bởi các trang thiết bị truyền thông hiện đại. Đỉnh điểm của sự bùng nổ thông tin là sự xuất hiện và lan rộng của mạng internet, tạo nên sự kết nối liên địa phương, liên quốc gia và tạo mạng lưới thông tin liên lạc toàn cầu khi kết nối với các trang thiết bị thông tin hiện đại như máy tính, điện thoại, tivi,… Những phương tiện truyền thông thông tin mới đã tác động mạnh mẽ đến cuộc sống người dân và làm thay đổi sâu sắc và toàn diện đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người. Càng ngày, không chỉ miền xuôi, mà các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi cũng đang bị ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển về truyền thông thông tin hiện đại, nhất là internet và các ứng dụng của nó qua các trang thiết bị mới. Các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An là một điển hình về vấn đề này. Càng ngày, truyền thông thông tin càng tác động mạnh mẽ đến cuộc sống người dân, làm thay đổi nhận thức xã hội của những người dân vốn trước đây chỉ quen sống biệt lập với núi rừng.

Nghệ An là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung bộ, có diện tích tự nhiên 16.490,25 km2, dân số 3,0 triệu người, gồm 01 thành phố trực thuộc tỉnh, 03 thị xã, 17 huyện. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gồm 252 xã, 1.339 thôn, bản (trong đó có 94 xã thuộc khu vực III, 112 xã khu vực II và 46 xã khu vực I; 1.175 thôn bản thuộc diện đặc biệt khó khăn),  27 xã của 6 huyện biên giới tiếp giáp 468,281 km đường biên giới với nước bạn Lào. Diện tích vùng dân tộc miền núi 13.745 km2, chiếm 83% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; mật độ 40 người/km2, bình quân chung toàn tỉnh là 184 người/km2. Dân số vùng dân tộc và miền núi là 1.197.628 người (chiếm 41% dân số toàn tỉnh) trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 491.295 người, chiếm 14% dân số toàn tỉnh và chiếm 36% dân số trên địa bàn miền núi. Cả tỉnh có 39 dân tộc, trong đó dân tộc thiểu số có số đông chủ yếu là: Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu. Phần lớn các dân tộc thiểu số này sinh sống ở vùng miền núi. Có một số cộng đồng đã đến đây sinh sống vài ba trăm năm, nhưng cũng có những cộng đồng mới di cư đến đây được ba bốn thập kỷ và đang bước đầu hòa nhập vào cuộc sống mới.

 Trong những năm qua, thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộc luôn được các cấp quan tâm thông qua các chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ, đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số kinh tế, văn hóa - xã hội vùng đồng bào dân tộc có bước phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân từ 3 - 4%/năm. Hệ thống chính trị cơ sở không ngừng được củng cố, 100% thôn, bản có đảng viên, có chi bộ. An ninh chính trị tiếp tục được giữ vững. Song song với việc tăng cường quản lý nhà nước, ổn định chính trị là việc nâng cao đời sống cho người dân địa phương. So với trước đây, cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân đã tăng lên nhiều lần. Trong đó, phải kể đến việc càng ngày, người dân bản địa càng được sử dụng nhiều trang thiết bị hiện đại, tiếp cận nhiều nguồn thông tin đa dạng và đa chiều hơn qua các kênh truyền thông thông tin khác nhau. Nó tạo nên một sự bùng nổ về thông tin ở vùng dân tộc thiểu số miền núi Nghệ An.

Một cuộc khảo sát về tình trạng sử dụng điện thoại di động để liên lạc, cập nhật thông tin đối với những người dân tộc thiểu số có độ tuổi từ 16 đến 40 thuộc một số địa phương như Bản Nưa (xã Yên Khê, huyện Con Cuông), Bản Ang (xã Xá Lượng, huyện Tương Dương) và Bản Cắm (xã Tri Lễ, huyện Quế Phong) cho kết quả là có đến 68% số người trong độ tuổi đó sử dụng điện thoại. Trong đó, số người sử dụng điện thoại thông minh có kết nối internet là 31%, còn lại sử dụng các loại điện thoại chỉ để nghe, gọi và nhắn tin (không có chức năng truy cập mạng internet). Ngoài chức năng liên lạc giữa các thành viên trong gia đình, liên lạc với người quen thì nhiều người sử dụng điện thoại thông minh có kết nối internet để truy cập các thông tin về chính sách, theo dõi thông tin thời sự cũng như liên lạc để trao đổi các công việc với người khác khi cần thiết. Bên cạnh điện thoại đang ngày càng phổ biến thì nhiều gia đình sử dụng tivi, đài phát thanh để tiếp cận các nguồn thông tin. Một số gia đình còn trang bị máy vi tính để sử dụng khi cần thiết cho công việc. Qua cuộc khảo sát này cũng nhận thấy một điều rằng, sự xuất hiện và ngày càng phổ biến của các phương tiện thông tin truyền thông, nhất là điện thoại di động và mạng       internet đã tác động lớn đến sự nhận thức xã hội của người dân bản địa. Điều này được thể hiện trên một số phương diện sau.

  1. Những tác động của thông tin truyền thông đến nhận thức xã hội của người dân tộc thiểu số

2.1. Nhận thức xã hội rộng lớn hơn

Nếu như trong xã hội truyền thống, đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức về xã hội chủ yếu là xã hội nội tại của họ. Đó là những vấn đề xã hội diễn ra trong bối cảnh làng bản hạn hẹp và khép kín. Nếu có thể mở rộng ra thêm nữa, thì đó là các vấn đề xã hội của một số cộng đồng xung quanh họ và có mối liên hệ với họ. Vì hầu hết các làng bản của người dân tộc thiểu số ở Nghệ An tương đối khép kín, do bị địa lý chia cắt nên nhiều khi tạo ra các mảng xã hội nhỏ lẻ. Thêm vào đó là giao thông đi lại khó khăn nên mối liên hệ giữa các làng bản có khoảng cách về mặt địa lý cũng bị hạn chế. Nói vậy để nhấn mạnh rằng, trong xã hội truyền thống, nhận thức xã hội của người dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An mang tính nhỏ hẹp cả về không gian và thời gian. Đó là nhận thức xã hội về các vấn đề nội tại, liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ hoặc các cộng đồng bên cạnh có mối quan hệ với họ.

Dưới tác động của sự bùng nổ về truyền thông thông tin, nhất là dưới sự tác động trực tiếp của các kênh thông tin qua các trang bị hiện đại, đặc biệt là điện thoại di động và mạng internet, đã làm thay đổi hoàn toàn nhận thức xã hội của người dân, đưa họ đến những nhận thức xã hội rộng lớn hơn. Dù chỉ sử dụng một điện thoại “đen trắng”, nghĩa là chiếc điện thoại chỉ có nghe, gọi và nhắn tin giữa các thuê bao với nhau, cũng làm thay đổi nhận thức xã hội của người dân. Ngày trước, khi có những người thân trong gia đình đi làm ăn xa, thì sự liên lạc giữa các thành viên vô cùng khó khăn. Nhưng với chiếc điện thoại thì mọi chuyện thay đổi. Người ta vẫn thường xuyên liên lạc và chia sẻ, trao đổi với nhau về cuộc sống hàng ngày. Cha mẹ và anh chị em ở bản Cắm, thuộc vùng núi cao của huyện Quế Phong vẫn nắm bắt được thông tin, tình hình công việc và cuộc sống của một người trong gia đình đi làm công nhân trong Bình Dương, nơi cách xa họ hàng ngàn cây số. Không chỉ tình hình sức khỏe, công việc, bạn bè và những chuyện đời sống thường nhật của người thân, thậm chí họ còn biết việc công nhân biểu tình và họ cũng thể hiện những mối quan tâm của mình. Ở chiều ngược lại, một thanh niên đi làm công nhân ở thành phố Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nắm bắt thông tin về gia đình, bạn bè ở bản Ang là quê nhà của họ. Từ tình hình cuộc sống gia đình hàng ngày đến việc thay đổi trong làng bản như có ai trong bản qua đời, có ai đó cưới hỏi… Bên cạnh đó, qua chiếc điện thoại, người dân cũng có thể nhận biết về những xã hội mà họ chưa từng bước chân đến qua những tương tác thông tin. Một người đi làm công nhân ở Bình Dương cũng biết nhiều câu chuyện, nhiều vấn đề xã hội của công nhân đang làm việc cho nhà máy Sam Sung ở Bắc Ninh hoặc Thái Nguyên qua việc trao đổi thông tin với bạn của họ đang làm việc ở đây. Đặc biệt, qua những chiếc điện thoại thông minh và mạng internet, những người dân tộc thiểu số còn được mở rộng nhận thức xã hội cũng như nhận thức đó được sinh động hóa hơn với hình ảnh, âm thanh qua các chức năng khác nhau. Không chỉ giọng nói mà họ có thể chia sẻ những video liên quan đến cuộc sống. Điều đó làm cho thế giới quan của người dân được mở rộng thêm đối với những thế giới mà với họ chưa từng được biết đến. Không chỉ chia sẻ những thông tin về cuộc sống liên quan đến mình, qua các phương tiện truyền thông hiện đại, người dân tộc thiểu số ở miền núi cũng nắm bắt được thông tin xã hội ở nhiều nơi khác nhau. Qua tivi, đài phát thanh và qua mạng     internet nhiều người có thể tiếp cận các thông tin kinh tế xã hội của đất nước, các chính sách phát triển liên quan đến chính họ. Họ cũng có thể cập nhật được các thông tin thời sự nóng bỏng của đất nước. Nếu như trước đây, rất khó để một người dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An có thể biết thông tin về một sự kiện xẩy ra ngoài biển Đông, nhưng hiện nay họ vẫn có thể tiếp cận những thông tin như vậy hàng ngày. Thậm chí họ còn có thể tham gia vào các diễn đàn trên mạng xã hội để chia sẻ, trao đổi và thể hiện quan điểm cá nhân của mình về các vấn đề thời sự của đất nước, của địa phương.

Như vậy, qua thông tin truyền thông hiện đại, nhận thức xã hội của người dân ở miền núi đã không ngừng được mở rộng. Từ chỗ nhận thức xã hội chỉ bó hẹp trong làng bản và vùng xung quanh thì họ nắm bắt được thông tin và nhận thức thêm về xã hội rộng lớn hơn ở các địa phương khác, trong cả nước và cả tình hình quốc tế. Họ không ngừng tiếp cận các nguồn thông tin khác nhau, có lúc là thông tin liên quan đến cuộc sống, đến các thành viên khác trong các mối quan hệ của họ, cũng có những nguồn thông tin liên quan đến quê hương đất nước. Đó là quá trình nhận thức xã hội từ xã hội nội tại mở rộng ra xã hội rộng lớn hơn ngoài làng bản mình, ngoài địa phương mình, là thông tin về đất nước, về quốc tế. Nó cũng làm cho thế giới quan của người dân thay đổi. Họ hiểu biết thêm nhiều vấn đề từ các khác hội ngoài mình, khác mình. Từ đó làm cho quan niệm về thế giới, về đất nước, về các mối quan hệ xã hội của người dân cũng thay đổi theo hướng đa dạng hơn, bao quát hơn.

2.2. Nhận thức xã hội đa chiều hơn

Trước đây, trong bối cảnh xã hội khép kín hơn, các nguồn thông tin chính thống được truyền tải qua một vài kênh chính trở nên thống trị nên nhận thức xã hội của người dân cũng bó hẹp và đơn giản hơn. Họ tiếp cận các thông tin qua các nguồn chính từ bộ máy quản lý làng bản và bị mặc định một chiều đối với các vấn đề xã hội. Vì thông tin bị bó hẹp nên việc muốn phản ứng lại các nguồn thông tin chính cũng khó khăn do thiếu cách tiếp cận và thiếu dữ liệu để kiểm tra thông tin. Khi nghe người khác thông báo có một người trong họ qua đời, nhất là những người ở xa, khi biết tin là họ tự biết đi đến nhà người đó. Có không ít trường hợp thông tin bị thất thiệt nên không chính xác khiến họ đi cả ngày trời đến lại không phải như vậy. Có nhiều thông tin mà họ hoài nghi nhưng không biết cách nào để chứng minh sự hoài nghi đó. Nhưng hiện tại, các kênh thông tin ngày càng đa dạng và phong phú làm cho nhận thức xã hội của người dân trở nên đa chiều hơn. Khi tiếp cận một nguồn thông tin về một vấn đề xã hội mà họ quan tâm, họ có thể đặt ra những hoài nghi liên quan đến vấn đề đó. Và qua các phương tiện truyền thông thì người ta có thể kiểm tra thông tin được. Và càng ngày, sự kiểm tra thông tin trở thành kỹ năng quan trọng, thành thói quen đối với nhiều người dân bản địa. Khi nghe thông tin về một vấn đề, họ sẽ gọi điện cho người thân hay người quen biết nhiều thông tin nhất để hỏi xác nhận về thông tin đó trước khi quyết định sẽ làm gì tiếp theo.

Không chỉ trong việc tiếp cận và kiểm tra thông tin các vấn đề xã hội liên quan đến cuộc sống của mình, người dân càng ngày càng bày tỏ mối quan tâm đến nhiều vấn đề khác qua việc truy cập, tiếp cận các nguồn thông tin đa chiều hơn về các vấn đề xã hội mà họ quan tâm. Họ có thể truy cập các nguồn thông tin chính thông qua các kênh thông tin của nhà nước đến việc so sánh thông tin từ các mạng xã hội. Một người dân ở bản Nưa (huyện Con Cuông) cũng có thể gọi lại cho một người ở thành phố Vinh để xác nhận một nguồn thông tin liên quan đến phát triển du lịch cộng đồng dù trước đó họ đã được biết đến. Hay khi đọc thông tin liên quan đến công nhân biểu tình ở Bình Dương, người dân cũng có thể xem thông tin trên nhiều kênh khác nhau, rồi gọi điện để hỏi lại những người quen đang làm việc trong đó. Rồi các chính sách phát triển của nhà nước hay các kỹ năng liên quan đến việc canh tác các giống cây mới… dù được hướng dẫn, phổ biến thì người dân vẫn có thể tìm cách tiếp cận thêm các thông tin khác qua các phương tiện thông tin truyền thông hiện đại.

Như vậy, sự phát triển của thông tin truyền thông hiện đại không chỉ làm mở rộng sự nhận thức xã hội của người dân tộc thiểu số ở miền núi mà còn giúp họ nhận thức xã hội một cách đa phương, đa chiều hơn. Đó là quá trình tìm tòi, so sánh, kiểm chứng các thông tin về các vấn đề xã hội mà họ quan tâm. Nó giúp người dân giải thích các thắc mắc của họ qua nhiều nguồn thông tin khác nhau. Nhưng ở mặt khác, nó cũng tạo ra qua nhiều thông tin trái chiều mà nhiều khi làm cho người dân trở nên băn khoăn, khó tiếp cận vì không biết nguồn thông tin nào là có độ tin cậy cao nhất. Điều đó cũng dần tạo cho họ thói quen, tư duy phản biện, kiểm chứng các nguồn thông tin, một kỹ năng rất cần thiết trong xã hội hiện đại.

2.3. Thay đổi hành vi và thói quen của lớp trẻ

Hầu hết những người dân tộc thiểu số ở miền núi đều có thói quen tiếp cận các kênh thông tin khác nhau tùy theo các mối quan tâm khác nhau. Trong đó, dễ nhìn thấy nhất là sự phân biệt về độ tuổi và tính chất công việc cũng như các mối quan hệ xã hội. Những người lớn tuổi thường tiếp cận các nguồn thông tin qua các kênh (tạm được coi là) truyền thống như đài phát thanh hay tivi và họ quan tâm chủ yếu là các thông tin thời sự đất nước, địa phương. Còn với những người trẻ tuổi, thì kênh thông tin quan trọng nhất là điện thoại và mạng        internet. Hầu hết những người sử dụng điện thoại là tầng lớp thanh niên và trung niên. Trong đó, sử dụng điện thoại thông minh có kết nối internet chủ yếu là thanh niên (từ 16 đến 35 tuổi). Việc sử dụng điện thoại cũng tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nhiều hành vi và thói quen của tầng lớp thanh niên người dân tộc thiểu số ở miền núi.

Càng ngày, cũng giống như miền xuôi, điện thoại càng trở thành “vật bất ly thân” của giới trẻ ở miền núi. Nó làm thay đổi các hành vi thói quen cũ. Nếu trước đây, có việc gì họ thường đi đến nhà để thông báo. Từ việc rủ nhau đi ăn nhậu, đi làm việc hay trao đổi một việc gì đó đến việc mời dự đám cưới, mừng nhà mới hay một việc trọng đại gì đó, thay vì tự mình phải đi quãng đường xa thì họ sẽ dùng điện thoại. Ngày trước, gặp và thích một cô gái, họ phải tìm địa chỉ rồi tìm cách để tiếp cận và làm quen, tán tỉnh yêu đương thì nay họ có thể tìm và xin số điện thoại. Qua điện thoại họ có thể trao đổi, chia sẻ các câu chuyện và gắn kết tình cảm với nhau. Bên cạnh thay đổi những thói quen cũ thì việc sử dụng các trang thiết bị truyền thông thông tin hiện đại còn hình thành nhiều thói quen mới ở lớp trẻ. Thay vì vừa đi làm vừa hát những bài tình ca thì họ bật nhạc từ điện thoại để nghe. Họ cũng chụp ảnh selfie để đăng lên mạng xã hội hay tự quay video các hoạt động của mình để lưu giữ và chia sẻ với bạn bè. Họ cũng có thể qua mạng xã hội để tìm bạn, trò chuyện với những người họ chưa từng gặp mặt. Hay như thói quen về việc kiểm tra các thông tin mà họ tiếp cận như đã phân tích ở phía trên.

Việc thay đổi các hành vi, thói quen cũ giúp cho họ tiếp cận cuộc sống hiện đại nhiều hơn, giúp ích cho họ nhiều việc trong cuộc sống. Nhưng điều đó cũng làm cho họ mất thêm nhiều thời gian vì các hoạt động trên điện thoại hơn. Mà nhiều khi, những việc này cũng gây nên những hậu quả nghiêm trọng. Không thiếu những trường hợp các thiếu nữ miền núi bị bạn quen qua mạng lừa và bán đi Trung Quốc hay bán vào các động mại dâm. Hay ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật như trường hợp hai vợ chồng trẻ ở bản Ang giận hờn, cãi vã nhau suýt dẫn đến tan rã gia đình chỉ vì chiếc điện thoại khi vợ cho rằng chồng suốt ngày lên mạng chơi game và kết bạn với người lạ mà không chăm con và phụ việc gia đình với mình; còn chồng lại mắng vợ lên mạng kết bạn với những nam thanh niên xa lạ….

2.4. Đẩy mạnh giao lưu, tiếp xúc văn hóa

Cả 3 vấn đề lớn vừa phân tích phía trên, nói chung, đó là quá trình giao lưu và tiếp xúc văn hóa của người dân tộc thiểu số ở miền núi dưới tác động của sự bùng nổ thông tin truyền thông. Đó là ba mặt biểu hiện lớn của quá trình này. Thông qua thông tin truyền thông, người dân tiếp cận và tiếp xúc với các nền văn hóa khác, từ đó làm thay đổi những thành tố văn hóa truyền thống và hình thành các giá trị văn hóa mới. Nói cách khác, thông tin truyền thông đã đẩy mạnh quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa của người dân tộc thiểu số ở miền núi.

Chúng ta hãy hình dung về sự thay đổi trong các nền văn hóa truyền thống của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Nhiều phong tục tập quán dần không còn tồn tại được hay không còn giá trị tồn tại khi xuất hiện các phương tiện truyền thông hiện đại. Những cuộc hẹn hò để hát đối đáp trở nên ít dần và ngày càng hạn chế hơn khi tầng lớp thanh niên sử dụng điện thoại thông minh. Nếu như trước đây, một chàng trai và một cô gái thích nhau, họ đến chọc sàn hay tạo ra những ký hiệu để bạn tình có thể nhận biết và tìm cách để gặp nhau. Thì nay, những điều đó không cần thiết khi người ta sử dụng điện thoại để sắp xếp những cuộc hẹn hò. Thông tin truyền thông cũng cung cấp cho họ nhiều kênh giải trí khác nhau và góp phần làm cho các giá trị văn hóa giải trí truyền thống ngày càng ít được quan tâm hơn. Cũng qua thông tin truyền thông, người dân tiếp cận nhiều thông tin khác nhau làm cho họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi cả những thói quan, kỹ năng trong cuộc sống sản xuất cũng như sinh hoạt hàng ngày. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống thay đổi và nhiều giá trị văn hóa mới được hình thành qua sự tác động của thông tin truyền thông.

Nói cách khác, chính thông tin truyền thông đã phá vỡ sự khép kín tương đối về mặt văn hóa của các cộng đồng người dân bản địa, đưa họ vào quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa với các cộng đồng khác. Trước khi có sự bùng nổ về thông tin truyền thông, quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa đã xuất hiện và khá phổ biến. Hầu hết các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An đều sống xen kẽ nhau nên quá trình giao lưu và tiếp xúc văn hóa giữa người Thái, người Thổ, người Mông, người Khơ Mú hay người Ơ Đu… với nhau là chuyện bình thường. Việc người Khơ Mú, người Ơ Đu hay người Thổ nói tiếng Thái, tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa Thái là điều khá phổ biến. Những trường hợp ngược lại cũng không phải là hiếm. Tuy nhiên, khi thông tin truyền thông bùng nổ thì quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa càng mạnh mẽ hơn, rộng lớn hơn và đa dạng hơn. Người dân tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nên sự biến đổi văn hóa cũng trở nên mạnh mẽ và phức tạp hơn. Đó cũng là những biểu hiện khác nhau của quá trình hiện đại hóa, toàn cầu hóa đối với người dân tộc thiểu số qua việc tiếp cận các kênh thông tin truyền thông hiện đại.

  1. Định hướng thông tin truyền thông để đẩy mạnh những tác động tích cực đối với người dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo vệ an ninh quốc gia

Định hướng thông tin truyền thông trong thời kỳ cách mạng công nghệ hiện đại là một vấn đề khó khăn và phức tạp. Các kênh thông tin ngày càng đa dạng và phong phú. Các trang thiết bị hiện đại để tiếp nhận thông tin cũng ngày càng nhiều và càng phổ biến hơn. Ngoài những kênh thông tin chính thức vốn được kiểm duyệt về nội dung và được xây dựng chương trình tỉ mỉ thì còn có nhiều kênh thông tin không chính thức và khó kiểm soát về nội dung. Vậy nên để định hướng thông tin truyền thông là vấn đề thách thức cho nhiều quốc gia và địa phương. Nhưng nói vậy không có nghĩa là không thể định hướng được thông tin truyền thông. Mà thực ra, cả cấp vĩ mô hay vi mô đều có những cách thức để định hướng vấn đề này, nhất là việc tạo ra các giá trị văn hóa mang tính định hướng cho người dân khi tham gia vào các mạng truyền thông thông tin.

Trước hết, để định hướng thông tin nhằm tạo ra những tác động tích cực đến người dân tộc thiểu số ở miền núi thì cần hiện đại hóa các kênh thông tin chính thức của nhà nước đối với khu vực miền núi, tạo điều kiện để người dân ở vùng cao vùng xa có thể tiếp cận các thông tin chính thống. Tạo ra nhiều kênh thông tin có chất lượng, đa dạng và phong phú về hình thức truyền tải. Xây dựng hệ thống thông tin cần thiết và thiết thực đối với đời sống của người dân bản địa. Cung cấp các thông tin cụ thể, tránh tình trạng thông tin chung chung khiến người dân không hiểu, khó hiểu và hoài nghi. Đa dạng hóa nguồn thông tin, hiện đại hóa kênh thông tin và nâng cao chất lượng thông tin để người dân có thể tiếp cận các nguồn thông tin chính xác, thiết thực với cuộc sống là góp phần định hướng và tạo giá trị tích cực của việc phát triển thông tin truyền thông ở vùng miền núi để giúp người dân bản địa phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa và giữ gìn an ninh xã hội.

Bên cạnh việc cung cấp các thông tin thiết yếu với cuộc sống thì cũng cần gắn với những hoạt động hiệu quả và nghiêm túc của các cơ quan chính quyền ở các cấp. Tránh tình trạng nói một đàng làm một nẻo. Trên các phương tiện thông tin truyền thông thì cái gì cũng của dân, do dân, vì dân nhưng thực hiện thì ngược lại như phản ánh của nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề này. Không thể cho rằng dân trí vùng dân tộc thiểu số ở miền núi còn thấp nên thông tin thế nào cũng được. Người dân ngày càng nhận thức được sự quan trọng của thông tin và tìm cách để kiếm chứng các thông tin. Vậy nên các kênh chính thức của nhà nước phải cung cấp thông tin gắn liền với việc làm nghiêm túc và hiệu quả để củng cố niềm tin của người dân. Khi dân có niềm tin thì các thông tin sai trái sẽ không chen lấn vào được. Đó cũng là cách để hạn chế, chống lại các kênh thông tin tiêu cực, lôi kéo của những phần tử xấu tung ra để lung lay ý chí của đồng bào nhằm lôi kéo họ qua biên giới hay kích động họ làm những việc ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Chẳng có gì quan trọng bằng lòng tin của người dân. Muốn vậy, phải nói đi đôi với làm thì dân mới theo.

Nói tóm lại, để định hướng thông tin truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, giúp người dân ổn định niềm tin, phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa truyền thống và góp phần bảo vệ an ninh quốc gia thì cần phải đa dạng nguồn thông tin, hiện đại hóa các kênh thông tin và nâng cao chất lượng các thông tin sao cho thiết thực với cuộc sống của người dân hơn. Nhưng quan trọng hơn, chính quyền phải gắn việc cung cấp thông tin với việc hành động nghiêm túc và hiệu quả các thông tin đó để người dân tin tưởng vào chính quyền.q

Diễn đàn khác:
Không thể im lặng trong phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (11/10/2019)
Tác động của sự bùng nổ thông tin truyền thông đến nhận thức xã hội của người dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An (11/10/2019)
Phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và các hướng công nghệ ưu tiên ở nước ta trong bối cảnh mới hiện nay (25/9/2019)
Nhìn lại 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở Nghệ An (12/9/2019)
Phải chăng hoạt động của vị trạng nguyên người Nghệ đã để lại dấu ấn trong câu thơ của đức vua Trần Nhân Tông? (12/9/2019)
Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, sự cần thiết thành lập khu dữ trữ tự nhiên Puxailaileng miền Tây Nghệ An (12/9/2019)
Bàn tròn tháng 8: 70% bài thi lịch sử dưới điểm trung bình: Nguyên nhân và Giải pháp (9/9/2019)
Vai trò của Bảo tàng trong giáo dục lịch sử đối với học sinh phổ thông (9/9/2019)
Bác Hồ đã dạy "Dân ta phải biết sử ta" (9/9/2019)
Việt Nam trong cục diện kinh tế thế giới (21/8/2019)
Báo chí và mạng xã hội - Cạnh tranh hay hợp lực? (9/7/2019)
Nho giáo và chữ Lễ có ‘trói buộc con người’ không? (27/6/2019)
Đã đến lúc phải đổi mới trong nghiên cứu KHXH&NV (27/6/2019)
“Vai trò của báo chí trong truyền thông về chuẩn mực văn hoá ứng xử”: Ở góc độ này, báo chí làm còn yếu (18/6/2019)
Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (3/6/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 218 | Tất cả: 1,917,949
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp