ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Nguyễn Trung Phong - Người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm
Tin đăng ngày: 11/10/2019 - Xem: 77
 

Tạ Quang Tâm

Họa sĩ, nhà báo

Nguyễn Trung Phong  sinh năm 1929 ở làng Văn Tập, xã Diễn Bình, lớn lên ở làng Trung Phường, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ngày đó, nơi đây thuộc vùng chiêm trũng nhưng lại có bề dày truyền thống văn hóa, văn nghệ; làng nào cũng có người sáng tác văn chương, có đội tuồng hay đội chèo thường xuyên luyện tập biểu diễn phục vụ những ngày lễ, tết, hội làng. Nguyễn Trung Phong, hình thành nhân cách, tài năng và tính cách Nghệ từ đó.

Upload

Nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong (1929-1990)

Tuổi nhỏ nhưng ông lại thích đọc sách dành cho người lớn như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ tình. Mỗi lần ngồi lên lưng trâu là mỗi lần thu nhận được một kiến thức quý báu của tuổi học trò. Đêm đến trong những ngày hội làng, ông thường theo cha đi nghe hát chèo, hát tuồng. Tiếng trống tuồng, trống chèo làm náo nức tâm hồn ông, đặc biệt là những vai diễn hóm hỉnh, tài hoa trong những vở tuồng “Trưng Trắc Trưng Nhị”, “Phạm Công Cúc Hoa” và “Trương Viên”. Ông cũng là người thích sưu tầm, ghi chép những mẩu chuyện thần thoại, cổ tích, hò vè, đồng dao, ca dao, tục ngữ. Đặc biệt là dân ca Hò, Ví, Giặm. Ông đi nhiều, chơi nhiều và biết nhiều nghệ nhân dân gian là vậy. Mỗi lần nghe mẹ ông hát “phụ tử tình thâm” là ông khóc, ông rất nhạy cảm khi tiếp thu âm hưởng dân ca Nghệ Tĩnh. Nghe mộc mạc dễ thương như cuộc đời và tính cách của ông. Có những tiếng ru con và tiếng võng đu đưa ở cạnh láng giềng làm rung động trái tim ông. Rồi nghe tiếng hát vè, tiếng Giặm kể của những nghệ nhân trong làng đã thôi thúc ông khát vọng  sáng tạo thành nghề. Ông được tiếp thu những âm hưởng ngọt ngào trong diễn xướng dân ca Nghệ Tĩnh, rồi ông bắt đầu tỏa sáng bằng bút pháp, viết những bài giặm vè ngắn đầu tay. Ông viết đến đâu ông lại hát cho cha nghe, cho các nghệ nhân trong làng nghe để góp ý sửa chữa. Rồi ông mạnh dạn viết thành hoạt ca chèo, hoạt ca dân ca bằng cách chắp nối các làn điệu với nhau thành bài hát, không có cốt chuyện. Đội văn nghệ trong làng Trung Phường đã bắt đầu tập và biểu diễn tiết mục của ông.

Thấy ông có năng khiếu văn chương, nghệ thuật, đầu năm 1950, huyện ủy Diễn Châu điều động ông lên làm cán bộ tuyên huấn chỉ đạo phong trào. Đây là chặng đường tiếp nối mà ông có thời cơ thuận lợi hơn trên một địa bàn rộng được đi nhiều, học nhiều để có kiến thức hơn và trở thành cây viết kịch bản sân khấu.

Cũng nhờ làm tuyên huấn nên ý thức tư tưởng của Đảng thấm vào từng tác phẩm. Năm 1952, lúc đó ông mới 23 tuổi, lần đầu tiên ông viết thành công vở hoạt ca “Nhắc lại” và đạt giải nhất hội diễn huyện Diễn Châu và sau đó được phổ biến đi các xã. Ông viết nhiều bài Giặm kể, Giặm vè về đề tài chiến tranh và xây dựng HTX nông nghiệp “Vững tay cày, chắc tay súng”. Có được vốn kinh nghiệm, được mọi người tin yêu mến phục; cũng vào cuối năm đó, ông được Ty tuyên truyền văn nghệ, do ông Nguyễn Đức Phiên, Trưởng Ty ký quyết định điều động ông về làm việc ở phòng văn nghệ. Đây là môi trường thuận lợi phù hợp với năng khiếu của người cầm bút để phát triển. Ông được gần gũi với các nghệ sĩ là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ, sân khấu, nhà nghiên cứu văn hóa có tài để được tiếp lửa lên trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Năm 1956, sau cải cách ruộng đất, ông viết vở hoạt ca dân ca “Tấc đất tấc vàng”. Năm 1957, ông chỉnh lý cải biên vở chèo “Trương Viên”. Cũng chính trong năm này ông viết vở dân ca chèo “Lòng mẹ”. Năm 1958, ông viết vở hoạt ca dân ca “Vẹn cả đôi đường”. Đặc biệt năm 1959 ông viết vở kịch “Lúa cộng sản” đề cập đến vai trò của Đảng trong đấu tranh cách mạng dân chủ. Thấy đề tài quan trọng, Trưởng ty Trần Nguyên Trinh đã tổ chức đọc kịch bản, mời Ban thường vụ Tỉnh ủy về duyệt. Ông Võ Thúc Đồng, Bí thư Tỉnh ủy và ông Chu Mạnh, Chủ tịch UBHC tỉnh chủ trì đọc duyệt và góp ý. Mọi ý kiến đều khen kịch bản hay, có tính thời sự, hợp với nội dung tuyên truyền và chỉ sửa một vài chỗ. Sau cuộc họp, Bí thư Tỉnh ủy  hỏi tác giả Nguyễn Trung Phong: “trong kịch bản có đưa được dân ca Nghệ Tĩnh vào không?”. Từ đó manh nha dư luận đưa dân ca lên sân khấu được bàn tán xôn xao. Người thì bảo không thể được. Người thì nói chỉ lồng ghép được với dân ca chèo và có người nói phải nên có thời gian nghiên cứu thể nghiệm.

Upload

Bái hát do Nguyễn Trung Phong sáng tác

Sau đó mấy tháng, Nguyễn Trung Phong bắt tay vào viết kịch về đề tài Xô viết Nghệ Tĩnh. Ông trăn trở làm đề cương, xây dựng cốt truyện, nghiên cứu bối cảnh lịch sử, chọn không gian diễn xướng, nhân vật và sự kiện. Ông vừa viết ở cơ quan vừa đạp xe về quê nhà yên tĩnh để viết. Trong quá trình viết, ông dự kiến một loạt tên của vở kịch để chọn như: Cô gái sông Lam, Ngày ấy bên dòng sông Lam, Người mẹ sông Lam, Cô gái sông Lam. Có một lần, ông cẩn thận đi sang nhà Trần Hữu Thung cạnh làng nghe nói công tác ở Hà Nội mới về để tranh thủ ý kiến. Nhà thơ Trần Hữu Thung nói: Rất mừng là lãnh đạo tỉnh quan tâm đến văn hóa, văn nghệ và đặt hàng viết. Ông mi nên lấy tên vở kịch “Cô gái sông Lam là hay”. Còn cái tên “Ngày ấy bên sông Lam”, mình đã có ý định viết kịch phim rồi. Nguyễn Trung Phong phấn khởi, tự tin đặt tên ngay cho vở kịch là “Cô gái sông Lam” để xoay quanh nhân vật nữ chiến sĩ cộng sản thời ấy. Nhưng trong vốn liếng kinh nghiệm viết kịch, xung đột nhiều, chỉ có các làn điệu chèo chứ không đưa được dân ca găm vào kịch. Ông vẫn băn khoăn khi nghe Bí thư Tỉnh ủy đặt vấn đề về dân ca. Rồi cũng rất may, trong quá trình viết, ông tìm ra một lớp kịch Hà và Nghệ gặp nhau trên dòng sông Lam và đối đáp với nhau bằng ví đò đưa. Nhân vật Nghệ hát: “Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục, thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh. Thuyền em lên thác xuống ghềnh. Nước non là nghĩa là tình ai ơi”. Rồi nhân vật Hà đối lại: “Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây/ Sông Lam hết nước thì đó với đây mới hết tình”. Vở kịch chèo chỉ đưa được hai câu dân ca Nghệ Tĩnh vào mà thấy hợp lý, có duyên. Ông vững tin trong lòng. Vào năm 1960, vở chèo “Cô gái sông Lam” cơ bản hoàn thành và đưa vào duyệt, chỉnh lý, bổ sung để dàn dựng. Lại một cuộc tổng duyệt lớn toàn là lãnh đạo Tỉnh ủy, UBHC tỉnh, Ban Tuyên huấn tỉnh và Ty Văn hóa Nghệ An.  Trường Ty Trần Nguyên Trinh giao cho tác giả tiếp thu ý kiến sửa chữa, hoàn chỉnh và cũng giao cho Thái Quang Ngoãn đạo diễn và nhạc sĩ Mai Hồng chịu trách nhiệm phần âm nhạc. Vở chèo “Cô gái Sông Lam” đã kịp thời biểu diễn phục vụ thành công kỷ niệm 30 năm Xô viết Nghệ Tĩnh (12/9/1930-12/9/1960). Năm 1962, Đoàn được cử đi tập huấn nâng cao và tham gia Hội diễn sân khấu toàn quốc đạt 4 huy chương Vàng, 4 huy chương Bạc cho kịch bản, đạo diễn, âm nhạc, diễn viên. Nguyễn Trung Phong là một tác giả trong đó đạt huy chương Vàng. Sau thắng lợi lừng vang của Đoàn văn công nhân dân Nghệ An, tối ngày 27/5/1962 Đoàn được Bác Hồ mời vào biểu diễn ở Phủ Chủ tịch. Cùng với quan khách xem một cách chăm chú vở chèo “Cô gái sông Lam”, Bác Hồ ngậm ngùi xúc động, đến đoạn cô Nghệ (Minh Ngọc) hát ví: “Ai biết nước sông Lam…” thì Bác rưng rưng nước mắt. Cuối buổi biểu diễn, Bác Hồ gặp đoàn khen ngợi, phát kẹo và tặng huy hiệu Bác Hồ cho tác giả Nguyễn Trung Phong. Từ đó, ông cảm thấy vinh dự, tự tin hơn và nhận ra rằng đưa được dân ca lên sân khấu không những Bác Hồ mà khán giả ai cũng thích, cũng xúc động. Ông trăn trở mãi, suốt năm này đến năm khác, để cố gắng viết cho được kịch hát dân ca. Năm 1967 ông viết một lúc hai vở dân ca cho đội văn nghệ xã Diễn Bình; Hoạt cảnh “Chị thư ký đội sản xuất” và vở kịch dân ca “Khi ban đội đi vắng”. Đây là sự bứt phá suốt 5 năm trời, ông nghiên cứu chèo rồi vận dụng vào dân ca. Thế là ông viết từ đối ca, đến hoạt ca, rồi sang hoạt cảnh và chốt lại kịch dân ca. “Khi ban đội đi vắng” là câu chuyện trong một gia đình làm ăn ở hợp tác xã mà mâu thuẫn nội tại là vợ chồng không đồng nhất quan điểm “chân ngoài, chân trong” khi Ban đội đang quản lý chặt chẽ xã viên. Thời đó buôn bán ít vốn và nhanh lời nhất chỉ có chè xanh Gay mua ở chợ Lường (Đô Lương) về bán ở chợ quê để lấy tiền đong gạo chứ có phải làm giàu chi đâu. Thế mà ai có hiện tượng đi buôn kiếm lời là khép vào tội theo bọn tư sản, vi phạm pháp luật. Người vợ thì kéo níu anh ở lại đi cày. Còn người chồng thì nằng nặc ra đi khi biết Ban cán sự đội sản xuất đi vắng. Cả hai người giằng co mãi lên cao trào của tính kịch mà dân ca Ví, Giặm không có làn điệu nào tải nổi. Nguyễn Trung Phong thinh lặng ra về và nhiều đêm  không ngủ, ông trăn trở rồi tìm ra được một làn điệu mới là Ví nối với Giặm một cách có duyên. Ông đặt tên là điệu “trăn trở”. Đó là: “Anh ơi, khoan vội bực mình. Em xin kể lại phân minh tỏ tường. Anh cứ nhủ là em không thương. Em đo lường thì rất cặn kẹ. Chính thương anh em mới bàn với mẹ. Phải ngăn anh không đi chuyến ngược lường. Giận thì giận mà thương thì thương. Giận thì giận mà thương thì thương. Anh đi sai đường em không chịu nổi. Anh yêu ơi xin đừng có giận vội. Mà trước tiên anh phải tự trách mình”. Đây là lời cải biên dân ca Nghệ Tĩnh thành công nhất của ông, trong đó có nhạc sĩ Thanh Tùng làm kí âm giúp cho dàn nhạc đệm.  Ông tự nhận thấy trách nhiệm của người cầm bút lúc này là phải tiếp tục viết cung cấp tiết mục cho các đoàn văn công chuyên nghiệp. Thế là ông viết các vở cho Đoàn chèo như “Chị Thảo” năm1968, “Hạt lúa quê ta” năm 1970, “Vẫn còn ra trận” và “Một cuộc đời” năm 1976. Đến năm 1980, ông viết vở kịch dân ca “Bà mẹ Trung”. Năm 1081, ông viết vở cho Đoàn cải lương “Ngọn lửa không bao giờ tắt”. Rồi như cái điềm báo cuối năm đó, ông bị lâm bệnh hiểm nghèo và xin tỉnh “cáo từ quan” về quê điều trị. Cũng do cái nghiệp nối cuộc đời và ngọn lửa đam mê với dân ca Nghệ Tĩnh, năm 1983, ông vừa chữa bệnh vừa viết vở dân ca “Giữa vụ cày” và đạt huy chương vàng. Năm 1986, ông viết vở kịch dân ca cuối cùng “Nhóm sản xuất đồng chí Liêm” cho Nhà văn hóa Trung tâm tỉnh. Một con người 60 năm tuổi đời, gần 40 năm cầm bút, ông đã viết trên 20 vở kịch hát và hàng chục vở hoạt ca, hoạt cảnh khác, trong đó chủ yếu là dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, được đánh giá cao về chất lượng nghệ thuật. Khi trở thành nhà viết kịch nổi tiếng, Nguyễn Trung Phong lấy làm xúc động tự hào, như ngọn lửa cuốn hút vào ma trận sáng tạo của người nghệ sĩ. Một con người giàu nghị lực, tâm huyết, đa tình, đa tài, đứng ở lĩnh vực nào cũng làm con người nổi trội. Cuộc đời ông không được học hành một lớp nào về văn chương, sân khấu, âm nhạc, nhưng ông như “con tằm cứ cần mẫn ăn dâu rồi nhả tơ vàng óng”. Ông chỉ học ngoài đời và học trong sách vở là chính. Ông học những nghệ nhân tuồng, chèo, dân ca, những nhà viết kịch như Nguyễn Đình Thi, Đào Hồng Cẩm, Tào Mạt, Hà Văn Cầu… Càng học, ông lại càng viết và viết một cách say sưa.

Năm 1976 sát nhập hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, Nguyễn Trung Phong vẫn tiếp tục làm Phó trưởng Ty Văn hóa thông tin Nghệ Tĩnh. Lúc này công việc lãnh đạo, quản lý càng đặt lên vai nặng nề hơn. Ông tập trung đầu tư công sức cùng với tập thể lãnh đạo Ty chỉ đạo xây dựng các đoàn văn công chuyên nghiệp như cải lương, chèo, kịch nói, ca múa nhạc, và đặc biệt Đoàn thể nghiệm kịch hát dân ca đến năm 1973 mới bắt đầu ra đời. Tuy ra đời muộn nhưng kịch hát dân ca được lãnh đạo tỉnh quan tâm hơn, và được quần chúng nhân dân yêu thích mến mộ hơn. Nhiều vở kịch hát ở sân khấu trước đây của Nguyễn Trung Phong được đưa vào đoàn Dân ca chuyên nghiệp để chuyển thể, nâng cao, trong đó được chú ý nhất vở “Cô gái Sông Lam” và “Khi ban đội đi vắng”. Đúng là cuộc đời của ông gắn liền với sân khấu. Các tác phẩm sân khấu cứ liên tiếp ra đời trong quá trình làm việc ở xã, ở huyện và ở tỉnh; từ cán bộ đến trưởng phòng văn nghệ của ông (1959), làm Thường vụ và phó Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ An (1967-1981) rồi làm phó Ty Văn hóa Nghệ An và Ty Thông tin Nghệ Tĩnh giai đoạn (1974-1981). Sức lao động sáng tạo nghệ thuật của ông dẻo dai, kiên trì, bền bỉ. Cứ mỗi tác phẩm viết ra, gặp ai ông cũng đọc, cũng hát cho nghe để tiếp thu lời góp ý. Ông làm lãnh đạo ngành rất khiêm tốn, vô tư, thẳng thắn, đấu tranh vì lẽ phải, vì cái đẹp, cái cao quý của nghệ thuật. Ông sống giản dị, chất phác, hiền lành như người nông dân, kể cả nói năng, tiếp xúc, chuyện trò bằng giọng tiếng Trung Phường mô - tê - răng - rứa, tau - mi - ông mi - nha mình. Việc ăn mặc, áo quần của ông thường màu tối nâu, xanh, xộc xệch, khi nào cũng tay xăn, quần xắn, tóc cắt cao cạo trắng, với đôi dép nhựa và chiếc xe đạp cà tàng, rồi lên đời bằng chiếc xe movilet cũ để đi về trên 50 km như con thoi. Nghe ở đâu có hát tuồng, hát chèo, hát cải lương là ông đến, nhất là hát dân ca. Ông vừa ghi chép tư liệu, vừa hướng dẫn cách viết kịch bản và đạo diễn sân khấu quần chúng cho các nghệ nhân và những người yêu thích nghệ thuật sân khấu trong tỉnh. Khi nói đến Nguyễn Trung Phong, họ đều kính nể, nhất là đội văn nghệ Diễn Bình, Diễn Minh quê nhà xem ông như người anh cả về chuyên môn. Ông sống bằng tình cảm vị tha, khoan dung, độ lượng; trọng dụng người tài, thương người nghèo khó, thường xuyên chia sẻ nỗi niềm với đồng nghiệp. Trong làm việc, ông nghiêm túc, thẳng thắn, thường xuyên bày vẽ, giúp đỡ cán bộ trẻ mau chóng trưởng thành. Ông cũng là người thường nghe ngóng chọn lọc, tham mưu với lãnh đạo Ty về thu hút nhân tài. Phòng văn nghệ và các Đoàn văn công thời ông phụ trách toàn là người nổi tiếng, tài năng như Nguyễn Thanh Khầm, Trần Thanh Tâm, Hoàng Thọ, Thái Quang Ngoãn, Cao Danh Giá, Mai Hồng, Thế Bính, An Thuyên, Đặng Thanh Lưu, Lê Thái Sơn… Họ  là đạo diễn, nhạc sĩ, nhà thơ, nhà viết kịch và là nhà quản lý nghệ thuật.

Nguyễn Trung Phong, đúng là một nhân cách văn hóa, tài năng, đậm tính cách Nghệ và là người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh mà ít ai có được. Ông xứng đáng là nhà viết kịch được nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Đất và người xứ Nghệ khác:
Văn thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (5/11/2019)
Người một đời tâm huyết với xứ Nghệ (5/11/2019)
PGS. Ninh Viết Giao - Người nặng lòng với văn hóa dân gian xứ Nghệ (5/11/2019)
NGUYỄN CẢNH HOAN(1) (23/10/2019)
Về Hưng Tân nghe hát Ví, Giặm (11/10/2019)
Nguyễn Trung Phong - Người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm (11/10/2019)
Khám phá hang động Thằm Viên nơi biên giới miền Tây Nghệ An (25/9/2019)
Khám phá ngôi đình cổ 300 năm tuổi ở xứ Nghệ được dựng chỉ trong 1 đêm (14/9/2019)
Nhà thơ dân gian Trần Hữu Nghiêm (12/9/2019)
Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện - Người được lập đền thờ khi còn sống (9/9/2019)
Những hình ảnh quý hiếm về cảng Bến Thủy sầm uất gần một thế kỷ trước (7/9/2019)
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 235 | Tất cả: 1,917,966
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp