NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học trong giai đoạn hiện nay
Tin đăng ngày: 11/10/2019 - Xem: 40
 

Đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học trong giai đoạn hiện nay

Phan Mậu Cảnh

Từ khi dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh đến nay đã 5 năm. Các chủ trương từ cấp vĩ mô đến tổ chức thực hiện ở cơ sở đã được triển khai khá hệ thống và đáp ứng được một số yêu cầu khi thực hiện cam kết, làm cho dân ca Ví, Giặm phát huy vai trò và giá trị của nó trong thực tiễn. Nhiều hội thảo, hội nghị, hội thi, chương trình hoạt động đã được tổ chức thực hiện. Công tác nghiên cứu, tuyên truyền quảng bá dân ca Nghệ Tĩnh vẫn tiếp tục được triển khai. Nhiều giải pháp đã được nêu ra và thực hiện. Trong số đó, việc đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học là một giải pháp đã có chủ trương chính thức, có tính khả thi cao, đã và đang thực hiện góp phần làm cho dân ca Nghệ Tĩnh được tiếp tục bảo tồn và phát huy lâu dài và bền vững trong thời kỳ đương đại.

1. Dân ca Ví, Giặm (DCVG) Nghệ Tĩnh ra đời đã lâu nhưng từ lúc nào là điều khó xác định, chỉ biết rằng DCVG từng là hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian hơn hai trăm năm trước, bởi thuở ấy, cụ Nguyễn Du từ Nghi Xuân đã vượt qua bao truông ải, đường bộ hiểm trở để vào Trường Lưu (Can Lộc) hát ví...  Mấy trăm năm qua, DCVG là những lời ca, điệu hát mà những người bình dân đã cất lên từ trong lao động thủ công có tính phường hội và trong sinh hoạt hàng ngày, tương tác với nhau ngẫu hứng, truyền miệng. Những câu ví, điệu hò cứ nảy sinh, lưu truyền, gắn bó với người dân quê xứ Nghệ từ đời này đến đời khác, như khí trời, như hạt lúa củ khoai... Cứ thế, DCVG được nuôi dưỡng, phát triển cùng với xã hội và môi trường tinh khôi, nguyên sơ, chưa có sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố ngoại lai, pha tạp.

Nhưng rồi xã hội, nghề nghiệp, cách thức lao động, tâm lý con người đã đổi khác khi có sự du nhập, mở cửa với thế giới... Từ đầu thế kỷ XX, nhà thơ Tú Xương đã đau đớn nhìn thấy con sông Lấp biến mất khi đô thị hoá bắt đầu: Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò... (Sông Lấp). Nhà thơ Nguyễn Bính giữa thế kỷ XX, chứng kiến sự mai một nếp xưa, sự xâm thực của văn minh đô thị, đã thảng thốt kêu lên: Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều /...Van em em hãy giữ nguyên quê mùa (Chân quê). Cả hai nhà thơ, ngay từ đầu thế kỷ đã lo âu, day dứt và dự cảm về sự phai nhạt nhanh chóng đến đáng sợ đối với những gì vốn mang đậm bản sắc quê hương, dân tộc. Thế kỷ XX quả là một thế kỷ đầy biến động; sự hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng; tình hình nông thôn - nông dân - nông nghiệp, nơi khởi phát và là mảnh đất sống tự nhiên của dân ca, đã có sự thay đổi nhiều khi nhanh đến “chóng mặt”: Buổi sáng đi xóm cũ vẫn là làng/ Lúc chiều về, làng đã xoay thành phố/ Nhà đã tắt tiếng ru con muôn thuở/ Tục ngữ ca dao chết trong sách giáo khoa/ Lũ trẻ chập chờn trong nhạc Rốc hát qua loa... (Trần Nhuận Minh, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh).   

Trong bối cảnh ấy, DCVG (cũng giống với dân ca nhiều vùng miền khác, như: Quan họ, Chèo, Cải lương, Ca trù, Tuồng, Xẩm, hát Xoan, hát Ghẹo) đang đứng trước nhiều thử thách quyết liệt. Cho đến nay, nói chung thì dân ca vẫn “sống” nhưng chủ yếu là “sống” trong không gian hạn chế, như các chương trình hội thi, biểu diễn nghệ thuật hay một số hoạt động khác (câu lạc bộ, lễ hội) và “kí sinh” vào một số tác phẩm có yếu tố “mượn lời”, cải biên hay sân khấu hoá mà không có được sự tồn tại với tư cách là một sinh hoạt văn hóa tinh thần tự nhiên, nguyên sơ trong dân gian như những ngày xưa; nó cũng không được tiếp nhận một cách mặn mà, hồ hởi của thế hệ trẻ thời nay khi tâm lý, thị hiếu của họ đã khác trước; dòng nhạc dân gian đang bị lấn át bởi những dòng nhạc có độ hot cao hơn. Thời huy hoàng của dân ca đã lùi vào quá khứ. Đó là một thực tế, không thể cưỡng được thời thế. Vấn đề là chúng ta tiếp nhận cái mới, cái hiện đại và ứng xử với cái cũ, cái truyền thống như thế nào để đảm bảo mục tiêu: xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Mấy trăm năm tồn tại, dân ca các vùng miền, trong đó có DCVG đã đi vào tâm thức thành máu thịt của nhân dân nên dù trải qua bao thăng trầm, nó vẫn sẽ tồn tại phù hợp với thời đại mới. Quả thật, DCVG bây giờ đã có vị thế khác: từ chỗ chỉ gắn bó với lao động cấy cày, chèo thuyền, dệt vải nơi đồng ruộng làng quê, bến sông con đò, dân ca bây giờ đã lên sân khấu, đến các điểm du lịch, hội hè, lên các giảng đường, lên sóng phát thanh truyền hình; dân ca cũng đã có tầm hoạt động vượt ra khỏi vùng quê Nghệ An - Hà Tĩnh, vươn đến tầm cả nước và đến cả bạn bè năm châu, được vinh danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại...

Những người dân quê tạo ra dân ca, cũng chính là những người thầm lặng giữ cho mạch nguồn dân ca như giữ ngọn lửa trong nhà mình không tắt. Công lao ấy còn thuộc về quan điểm, tầm nhìn của lãnh đạo và sự tâm huyết, đầy trách nhiệm của những người “chiến sỹ trên mặt trận văn hoá” hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh đã kiên trì, bền bỉ gìn giữ và trao truyền dân ca Ví, Giặm trong suốt mấy chục năm qua...

Thống kê sơ bộ, từ đầu thế kỷ XX đến nay đã có hơn 500 bài viết, 25 tập sách, hơn 10 cuộc hội thảo, gần 20 đề tài, dự án và luận văn, luận án, vài ba cuộc thi tiếng hát dân ca được tổ chức trên phạm vi toàn tỉnh, hàng trăm câu lạc bộ dân ca vẫn đang hoạt động ở các vùng miền xứ Nghệ, hàng trăm cuộc giao lưu, liên hoan Ví, Giặm... Tất cả đều nhằm sưu tầm, nghiên cứu, đánh giá giá trị, nêu các giải pháp và tổ chức thực hiện để bảo tồn và phát huy dân ca Ví, Giặm...

Như vậy, khi bàn về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, chúng ta thấy được cái giá trị tiêu biểu của nó trong việc thể hiện đời sống tâm hồn, cốt cách và sinh hoạt văn hoá của một vùng quê. Nói đến Nghệ Tĩnh (xứ Nghệ) là nói đến một vùng đất địa linh nhân kiệt, là nơi khí hậu khắc nghiệt nhưng người dân thì cần cù trong lao động, anh dũng trong chiến đấu, sống giàu tình nghĩa; nói đến xứ Nghệ, người ta nghĩ ngay đến Ví, Giặm. Ví, Giặm là đặc sản và cũng đã thành đặc trưng tiêu biểu nhất của non nước và con người xứ Nghệ.

2. Ngày 27 tháng 11 năm 2014, DCVG Nghệ Tĩnh đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Danh hiệu cao quý này là niềm vinh dự, tự hào của nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhưng cũng nhắc nhở trách nhiệm to lớn của mỗi chúng ta, những người hôm nay và các thế hệ mai sau phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, cam kết quốc tế cũng như ý nguyện của nhân dân về bảo tồn và phát huy bền vững giá trị văn hoá quý báu mà cha ông ta để lại. Đây cũng là lý do để chúng ta cần phải có những kế hoạch và giải pháp tích cực, cần thiết để bảo tồn và phát huy giá trị của DCVG trước mắt và lâu dài…

Tình hình trên đòi hỏi phải nghiên cứu các giá trị và nêu các giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị của DCVG. Các vấn đề cần phải giải quyết cơ bản  và cấp thiết hiện nay là: tiếp tục nghiên cứu đánh giá, định vị bản sắc của dân ca Nghệ Tĩnh (các giá trị lịch sử - xã hội, văn hóa, nghệ thuật). Trong đó, phải xác định rõ những cái gì của DCVG Nghệ Tĩnh là nổi trội, tinh túy cần bảo tồn phát huy; cái gì cần cải biến, tiếp biến trong thời đại mới, trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa. Các giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của DCVG Nghệ Tĩnh hiện nay là cấp thiết nhưng cần tính đến tính khả thi và hiệu quả.

Một vấn đề lớn đặt ra và cũng là điều trăn trở nhất, trong suốt mấy chục năm qua, là tìm các giải pháp, cách thức thích hợp để bảo tồn và phát huy giá trị DC - VG trong tình hình mới. Các giải pháp hiện nay đang tổ chức thực hiện là: tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu dân ca; thành lập các câu lạc bộ; tổ chức hội thi, hội diễn, hội thảo; cải biên, sáng tác lời mới; sân khấu hoá dân ca; tuyên truyền quảng bá dân ca.v.v... Các cơ quan quản lí (chính quyền, sở ngành cấp tỉnh) và các đơn vị chức năng (Phòng văn hoá, Trung tâm văn hóa) của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có chủ trương, giải pháp và tổ chức thực hiện việc dạy hát dân ca trên sóng phát thanh truyền hình, tại câu lạc bộ...

Trong số các giải pháp đó, việc đưa DCVG vào nhà trường là một giải pháp đã có chủ trương chính thức, có tính khả thi cao vì trường học là nơi có điều kiện để trao truyền dân ca cho thế hệ trẻ một cách hệ thống, chính quy và bền vững. Có thể thấy, việc đưa dân ca vào nhà trường là vấn đề không mới (các trường học trong hai tỉnh đã triển khai thực hiện từ khá sớm) nhưng đến nay, qua khảo sát ở các trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An, hiệu quả thực hiện dạy học dân ca rất hạn chế, bởi đây là việc khó (vì điều kiện dạy học môn dân ca còn thiếu và yếu, chương trình phổ thông vốn đã nặng, khối lượng kiến thức gần như đã quá tải với học sinh), lại liên quan đến cả hệ thống (hệ thống vĩ mô: chủ trương, cơ chế của các cấp, sở, ngành, nhà trường; hệ thống vi mô: đội ngũ giáo viên, chương trình tài liệu, phương pháp dạy và cách thức kiểm tra đánh giá...).

3. Để thực hiện có hiệu quả việc đưa DCVG vào dạy học trong nhà trường, theo chúng tôi, các vấn đề về nội dung và giải pháp cần xác định là:

3.1. Về nội dung: Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hai vấn đề chính (liên quan đến đề tài): i) các đặc điểm nổi bật, và ii) các giá trị tiêu biểu của DCVG Nghệ Tĩnh. Trong đó, để giải pháp này có tính khả thi, phải xác định rõ những đặc điểm và giá trị nào của DCVG là cần thiếtphù hợp trong tình hình hiện nay cần đưa vào dạy học trong nhà trường để trao truyền cho thế hệ trẻ.

3.2. Về giải pháp dạy học dân ca trong nhà trường, các vấn đề cần thực hiện là:

- Cần có giải pháp mang tính vĩ mô, gồm: các chủ trương, chỉ đạo của UBND tỉnh; cần có kế hoạch triển khai của Sở Giáo dục và Đào tạo để các trường phổ thông thực hiện một cách thống nhất, đồng bộ. Các trường phải xem đây là một môn học trong chương trình dạy học của từng năm học.

- Cần điều tra thực tế tình hình dạy học DCVG thời gian vừa qua trên địa bàn tỉnh Nghệ An; trao đổi, học tập kinh nghiệm việc đưa dân ca vào trường học ở các địa phương khác trong nước (Bắc Ninh, Thái Bình, Phú Thọ, Huế...).

- Cần xác định rõ đối tượng dạy học DCVG trong nhà trường (các cấp học: Mầm non, tiểu học, trung học cơ sở là phù hợp nhất). Xác định đơn vị tham mưu, phối hợp thật rõ (đơn vị chủ trì đóng vai trò chính trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và diễn viên dân ca cho các đơn vị cơ sở và chịu trách nhiệm biên soạn chương trình, tài liệu dạy học DCVG cho các cấp học trong toàn tỉnh; các sở ban ngành phối hợp thực hiện: Sở Văn hoá và Thể thao, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ).

- Xây dựng Chương trình môn học và các tài liệu dạy học (giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn) phù hợp với yêu cầu của từng cấp học ở phổ thông, ở các trường chuyên nghiệp, các vùng miền trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

- Sau khi đánh giá kết quả giai đoạn thử nghiệm, có kế hoạch chuyển giao kết quả nghiên cứu để tiến tới giai đoạn chính thức: hoàn thiện chương trình, biên soạn giáo trình, sách giáo khoa; chính thức thực hiện dạy học DCVG trong nhà trường.

Từ khi DCVG Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh đến nay đã 5 năm. Các chủ trương từ cấp vĩ mô đến tổ chức thực hiện ở cơ sở đã được triển khai để thực hiện cam kết, làm cho DCVG được tiếp tục bảo tồn và phát huy trong thời kỳ mới. Nhiều hội thảo, hội nghị, hội thi, đề tài nghiên cứu đã được tổ chức thực hiện. Công tác nghiên cứu, tuyên truyền quảng bá DCVG vẫn tiếp tục được triển khai.

Chúng tôi cho rằng, kết quả nổi bật nhất trong 5 năm qua là đã xác định rõ được các giải pháp bảo tồn và phát huy DCVG trong tình hình mới. Trong các giải pháp đó, việc đưa DCVG vào trường học tỏ ra là một trong những giải pháp cơ bản, phù hợp để DCVG được bảo tồn và phát huy bền vững nhất.

Là một trong những người trực tiếp tham gia thực hiện giải pháp này (thông qua Đề tài Nghiên cứu dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc dạy và học hát dân ca Nghệ Tĩnh trong trường học đã được tỉnh phê duyệt), chúng tôi đã hoàn thành các bước: (i) Xác định những nội dung của DCVG đưa vào trường học: hoàn thành năm 2017; (ii) Soạn bộ tài liệu dạy học hát dân ca Nghệ Tĩnh (gồm chương trình và tài liệu dạy học): hoàn thành năm 2018. Đang thực hiện: (i) Dạy học thử nghiệm (để đánh giá bộ tài liệu và nắm tình hình thực tế): năm 2019, (ii) Hoàn chỉnh bộ tài liệu: năm 2020 và (iii) Triển khai đại trà việc dạy và học hát DC Nghệ Tĩnh trong trường học trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An: từ năm 2021.

3.3.Kết quả bước đầu (phần tham khảo)

Nắm bắt được tình hình thực tế, cái đang cần nhất nhưng lại đang thiếu của các nhà trường khi đưa DCVG vào trường học, chúng tôi đã soạn bộ tài liệu dạy học hát dân ca Nghệ Tĩnh từ mẫu giáo đến trung học cơ sở. Tóm tắt một số kết quả chính:

1) Về bộ tài liệu dạy hát dân ca

a) Bộ tài liệu dạy học môn dân ca Ví, Giặm cho giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, gồm các tài liệu:

- Chương trình khung của môn học.

- Tài liệu dạy học (Tập bài giảng, giáo trình).

- Tài liệu bổ trợ, đọc thêm.

b) Số lượng bộ tài liệu dạy học dân ca Ví, Giặm:

- Bậc học mầm non: 1 bộ, 2 tập (cho hai lớp mẫu giáo: 4 -5 tuổi & 5 - cận 6 tuổi).

- Bậc học phổ thông: 2 bộ, 9 tập (Tiểu học: 1 bộ, 5 tập (cho 5 lớp: từ lớp 1 đến lớp 5); Trung học cơ sở: 1 bộ, 4 tập (cho 4 lớp: từ lớp 6 đến lớp 9).

c) Tiêu chí lựa chọn các nội dung của bộ tài liệu:

Việc lựa chọn nội dung của các bộ tài liệu phải đáp ứng được các mục đích, yêu cầu của môn học dân ca.

- Về lý thuyết:

+ Những kiến thức bổ trợ liên quan đến DCVG (các chuyện kể về con người, nghề nghiệp, các gương mặt tiêu biểu của DCVG);

+ Những kiến thức cơ bản về DCVG (đất nước, con người xứ Nghệ; đặc điểm và giá trị tiêu biểu, các thể loại, cách thức hát dân ca...).

- Về thực hành:

Việc lựa chọn các bài hát DCVG phải đảm bảo các tiêu chí sau:

+ Chú trọng chọn các bài hát gốc và tiêu biểu cho từng thể loại: Ví, Giặm, Hò (để đảm bảo chủ trương bảo tồn đặc điểm bản sắc và phát huy giá trị DCVG);

+ Nội dung bài hát cơ bản là thích hợp với bậc học, cấp học, tâm lý lứa tuổi, và tình hình thực tiễn của địa phương, của nhà trường; có thể chọn thêm các bài hát dân ca lời mới.

+ Thời lượng và hình thức học DCVG (chính khoá, ngoại khoá) phù hợp với chương trình, kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành và giao cho nhà trường.

2) Nội dung chi tiết của các tài liệu

a) Chương trình khung giờ học hát dân ca Ví, Giặm

(Dùng cho các bậc học: mầm non, phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở) trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Phần 1 - Vị trí, tính chất và mục tiêu, yêu cầu của môn học dân ca;

Phần 2 - Nội dung của môn học và phân phối thời gian;

-  Nội dung của môn học:

+ Giới thiệu dân ca Nghệ Tĩnh;Kể chuyện nghệ nhân.        

+ Thực hành hát dân ca (luyện tập hát một số làn điệu dân ca tiêu biểu, phổ biến của dân ca Nghệ Tĩnh, chủ yếu là Ví, Giặm; các bài hát cụ thể của từng thể loại (lời cổ, lời mới).…

- Phân phối thời gian:

+ Bậc học mầm non: Tổ chức hoạt động chính: 01 buổi chiều/ tháng như hoạt động giáo dục âm nhạc đang thực hiện (thời gian mỗi buổi từ 25’ đến 30’).

+ Bậc học phổ thông: Cấp tiểu học (Tổng số tiết học hát DCVG: 16 tiết/ 32 tuần/ năm học/ lớp (trong đó: học chính khoá: 8 tiết - Bố trí dạy hát DCVG vào: tiết học địa phương, lồng ghép vào môn âm nhạc và tiết ôn tập); học ngoại khoá: 8 tiết (tập hát ngoài giờ; tổ chức Câu lạc bộ dân ca, hội thi, chương trình văn nghệ; đi đến các câu lạc bộ dân ca địa phương), v.v...

Cấp trung học cơ sở (tổng số tiết học hát DCVG: 18 tiết/ 32 tuần/ năm học/ lớp (trong đó: học chính khoá: 8 tiết - Bố trí dạy hát DCVG vào: tiết học địa phương, lồng ghép vào môn âm nhạc và tiết ôn tập); học ngoại khoá: 10 tiết (tập hát ngoài giờ; tổ chức câu lạc bộ dân ca, hội thi, chương trình văn nghệ; đi đến các câu lạc bộ dân ca địa phương), v.v...

b) Tài liệu dạy học dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

- Tài liệu dạy học dân ca cho bậc mầm non:

+ Kết cấu, nội dung chi tiết của Tập bài dạy hát dân ca cho lứa tuổi mầm non về cơ bản cũng bao gồm các mục như Tập bài giảng cho học sinh tiểu học, nhưng giản lược hơn, phù hợp lứa tuổi, chỉ gồm tập hát các bài đồng dao dành cho các lớp mẫu giáo 4 - cận 6 tuổi.

 + Số tập tài liệu: 2 tập, 100 trang (dùng cho 2 lớp mẫu giáo lớn, mỗi tập: soạn khoảng 30 trang gồm các bài hát và bài kể, còn lại là tranh ảnh minh họa).

- Tài liệu dạy học dân ca cho cấp tiểu học:

Số  tập tài liệu: 5 tập, 150 trang (5 khối lớp: từ lớp 1 đến lớp 5, mỗi khối một tập bài giảng); mỗi tập từ 30 - 40 trang.

- Tài liệu dạy học dân ca cho cấp trung học cơ sở:

 Số tập tài liệu: 4 tập, 200 trang (4 khối, từ lớp 6 đến lớp 9, mỗi khối một tập bài giảng); mỗi tập: 45 - 55 trang(1) (Chưa kể tài liệu bổ trợ, và bộ tài liệu dạy hát dân ca tại trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Nghệ An, 2018).

Những vấn đề trên, tưởng như cũ, tưởng như đơn giản nhưng nếu không có sự trao đổi bàn bạc thấu đáo thì sẽ gặp khó khăn khi tổ chức thực hiện, nhất là trong các công đoạn cụ thể. Chúng tôi cho đây là công việc lớn, có liên quan đến cả hệ thống: từ cấp quản lý, các đơn vị chức năng đến các cơ sở thực thi... Mọi lý thuyết thì màu xám, còn cây đời thì mãi mãi xanh tươi (J.W.Goethe). Không có lý thuyết nào là chân lý tuyệt đối, chúng ta vừa làm vừa tiếp tục bổ sung, điều chỉnh từ thực tế để ngày càng có hiệu quả thiết thực.q    

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học trong giai đoạn hiện nay (11/10/2019)
Đi tìm không gian mới cho Ví, Giặm (11/10/2019)
Ngọn nguồn thực tiễn của một lời Bác Hồ dặn trong Di chúc (7/10/2019)
Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 tới hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (25/9/2019)
Thử bàn về vai trò của Phật giáo trong thời đại công nghiệp 4.0 (9/9/2019)
Để bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa của địa danh Bến Thủy (7/9/2019)
Công tác tập huấn du lịch cộng đồng cho người dân miền Tây Nghệ An (12/8/2019)
“Nghệ An cần thống nhất cách hiểu và xác định sản phẩm đặc sản của mình” (12/8/2019)
Nghệ An cần phải xây dựng và phát triển một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực, hướng tới ba mục tiêu “khối lượng lớn, chất lượng cao và thương hiệu mạnh” (12/8/2019)
Bảo tồn và phát triển sản phẩm đặc sản của Nghệ An (7/8/2019)
Vì sao du lịch Nghệ An phát triển chưa tương xứng với tiềm năng (1/8/2019)
Bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống và sự tiếp nhận văn minh - Nhìn từ lễ tục cưới hỏi hiện nay (9/7/2019)
Hình tượng người đi đường và bài học triết lý về đường đời… (Đọc Tẩu lộ của Hồ Chí Minh, Ngữ văn 8, tập hai, Nxb Giáo dục) (10/6/2019)
Dạy học tích hợp Ngữ văn lấy văn bản văn học làm ngữ liệu đồng thời gắn liền với các vấn đề về giáo dục đạo đức học sinh (6/6/2019)
Tư tưởng đoàn kết - Một trong những nội dung cốt lõi của Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (6/6/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 217 | Tất cả: 1,917,948
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp