NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Ngọn nguồn thực tiễn của một lời Bác Hồ dặn trong Di chúc
Tin đăng ngày: 7/10/2019 - Xem: 81
 

Lê Văn Tùng

Hiện chúng ta có đầy đủ các bản “bút tích di chúc(1) của Bác Hồ: Một bản viết, sau đó đánh máy ngày 15/5/1965, phía trên cùng, bên trái có ghi bốn chữ đặt trong ngoặc đơn: (tuyệt đối bí mật), phía dưới cùng bên trái ghi bằng bút tích viết tay: “Chứng kiến/ Bí thư thứ nhất/ Ban chấp hành trung ương/ Lê Duẩn”(2). Một bản viết tay không ghi ngày tháng nhưng chắc là vào đầu 1968, vì Bác có viết: “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi”(3), phía trên cùng vẫn ghi: (tuyệt đối bí mật). Bản này Bác xem là một bức thư, và đến tháng 5/1968 Bác viết bản bổ sung: “Khi xem lại thư này, tôi thấy cần phải viết thêm mấy điểm”(4). Bản bút tích viết tay cuối cùng ghi ngày 10/5/1969 là phần đầu của bản Di chúc được công bố sau này: Từ “Cuộc chống Mỹ cứu nước…” đến “khỏi cảm thấy đột ngột(5). Bản Di chúc được công bố chính thức với toàn dân sau khi Bác mất cũng ghi “ngày 10 tháng 5 năm 1969”(6) có đoạn in nguyên văn các bản viết của Bác nhắc ở trên, một số đoạn được tổng hợp, khái quát lại các ý cụ thể của Bác trong các bản viết ấy.

Từ ghép “di chúc” trong từ loại học nguyên là động từ ghép. Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học - Nxb Đà Nẵng, 2004, trang 254) giải thích nghĩa 1: “Dặn lại trước khi chết những việc người sau cần làm và nên làm”, và nghĩa 2 như một danh từ: “Lời hoặc bản di chúc”. Nghĩa 2 này trùng hợp với cách giải của Hán Việt từ điển: “Lời chúc dặn của người chết để lại” (Đào Duy Anh - Nxb Trường Thi - Sài Gòn, 1957, trang 203). Nên kết hợp hai nghĩa lại để hiểu “Di chúc” là lời dặn lại trước khi mất của Bác những việc người sau cần làm, nên làm.

Lời dặn lại của Bác với chúng ta là những lời thiêng liêng, vừa là tình cảm tha thiết, vừa biểu hiện nỗi “lo muôn mối như lòng mẹ” với con cháu mai này trước lúc mình từ biệt. Những lời dặn lại của Bác về các việc phải làm, cần phải làm, có việc đã làm xong, đã hoàn toàn thắng lợi như “cuộc kháng chiến chống Mỹ”, nhưng nhiều việc còn phải làm và làm mạnh hơn nữa.

Những lời dặn lại của Bác không chỉ bắt nguồn từ lý thuyết cách mạng, từ nhận thức lịch sử và văn hóa bằng tư duy logic suy lý. Theo chúng tôi, trước hết và quan trọng hơn là từ nhận thức và tư duy thực tiễn về lịch sử và cuộc sống của nhân dân, dân tộc để lo nghĩ cho tương lai. Nghĩa là từ nguồn gốc, nguyên nhân thực tiễn để có những lời dặn lại trong Di chúc. Người Việt ta hay dùng một từ thuần Việt để gọi ra cái nguyên nhân thực tiễn đó là nguồn cơn, nghĩa là cái lý do thực tế, hiện thực của lời dặn, lời nhận xét hay nhận định.

Trong Di chúc, Bác dặn lại nhiều điều lắm. Tôi xin nói những nghĩ suy của mình về nguồn cơn thực tiễn của một lời trong điều quan trọng nhất, điều “Trước hết nói về Đảng”. Đó là lời cuối của điều “trước hết”: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ của nhân dân”(7). Từ phải diễn đạt trạng huống việc muốn làm hoặc việc chưa làm xong cần tiếp tục. Ở đây, nguyên là những việc muốn làm, muốn đạt đến nhưng trong thực tiễn ta làm chưa xong, chưa “thật sự” thực hiện tốt, thậm chí tình trạng vi phạm đạo đức cách mạng, hành động đi ngược với phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư ở một “bộ phận không nhỏ” cán bộ đảng viên ngày càng trầm trọng và phổ biến hơn, cho nên ảnh hưởng không tốt tới sự trong sạch và làm giảm sút uy tín, vai trò của Đảng trong nhân dân. Cho đến thời ta sống đây, tình trạng đó càng được báo động. Đặc biệt là mối họa tham nhũng, lãng phí, quan liêu mà chủ trương và hành động quyết liệt của trung ương và chính phủ chống lại mối họa đó từ giữa năm 2018 đến nay được toàn dân ủng hộ.

Lời dặn lại của Bác đã dẫn ở trên vừa là mong muốn, vừa là nỗi lo nghĩ của Bác trước thực tiễn của tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa, hủ hóa, biến chất ngày càng nghiêm trọng của một số đảng viên, cán bộ. Sự thật trong thực tiễn đó là những sự thật đau lòng mà ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 3/9/1945 Bác đã cảnh báo và “Đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân”, chống lại “Những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô(8) do chế độ cũ để lại. Đến bài viết cuối cùng trên chủ đề này (trước khi viết Di chúc): “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (đề ngày 3/2/1969), Bác nói rõ hơn: “Do cá nhân chủ nghĩa mà… sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi… xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền… xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh…(9).

Từ ngày 3/9/1945 đến 3/2/1969 Bác đã có rất nhiều bài báo, thư từ, lời nói chuyện…, một mặt biểu dương những cán bộ, đảng viên, người dân thực hiện tốt đạo đức cách mạng, mặt khác rất nhiều bài viết phê phán nghiêm khắc những bệnh chứng của chủ nghĩa cá nhân đang làm hại, đang cản trở bước tiến của đất nước. Ở đây, xin dẫn trích một số bài:

Hai tuần sau lời phát biểu trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (đã dẫn ở trên), khi công việc của đất nước ngày càng bộn bề phức tạp, Bác vẫn có: “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” (Nghệ An) đề ngày 17/9/1945. Bác nêu năm vấn đề. Vấn đề thứ năm là sự phê phán của Bác đối với “những khuyết điểm to nhất” của cán bộ ở các địa phương: “Giả mạo tiếng Chính phủ, tên Việt Minh ức hiếp dân, xoáy tiền dân…”. Trong cán bộ “cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng… độc hành, độc đoán, dĩ công dinh tư (lấy của công làm của riêng)… dùng pháp công để báo thù tư(10). Một tháng sau, ngày 17/10/1945 trong thư “Gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, Bác tiếp tục cảnh cáo nghiêm khắc “Những lầm lỗi rất nặng nề(11) của cán bộ lãnh đạo các cấp. Vậy là chỉ trong vòng một tháng rưỡi sau quốc khánh đầu tiên (2/9/1945) Bác đã có ba văn bản báo động và cảnh cáo tai họa biến chất cán bộ đều liên quan trực tiếp với nạn tham ô, lãng phí, quan liêu, chứng tỏ sự thao thức lo lắng thường trực của Bác về một tình hình hiện thực trong thực tiễn chứ không chỉ là chuyện “đề phòng” ở thời tương lai.

Chín năm kháng chiến (1946-1954) gian nan khốc liệt, Bác vẫn luôn luôn lo lắng về tình trạng “chủ nghĩa cá nhân… một thứ vi trùng rất độc… sinh ra các chứng bệnh nguy hiểm”. Tháng 10/1947 Bác viết: “Sửa đổi lối làm việc”, chỉ ra tám chứng bệnh: “Tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ(12). Nhiều người đã biết nỗi đau của Bác trong vụ án tham nhũng của Trần Dụ Châu năm 1950. Khi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tiến dần đến giai đoạn cuối, nạn tham nhũng cũng ngày càng nặng “sẽ làm hại đến công việc của ta”. Năm 1952, Bác viết bài trực tiếp chỉ thẳng vào bệnh chứng này: “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”. Tại văn bản này, lần đầu tiên Bác gọi những kẻ mắc bệnh chứng đó là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng(13). Người vạch rõ để nhân dân và chiến sĩ biết: “Có nạn tham ô lãng phí là vì bệnh quan liêu”… “bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô lãng phí”. Và Người đưa đến ba kết luận: “A. Tham ô lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, bộ đội và chính phủ”; “B. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là cách mạng”; “C. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ(14).

Từ hòa bình 1954 đến trước khi viết Di chúc, Bác còn viết rất nhiều bài tiếp tục cảnh cáo, phê phán các hiện tượng vi phạm đạo đức cách mạng, trong đó luôn nhấn mạnh nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu (Nxb Sự thật, 1975 đã “sưu tầm, tuyển lựa” đến 30 bài, in thành sách: “Về đạo đức cách mạng”).

Chúng tôi xin nhắc lại, những hiện tượng tha hóa Bác phê phán trong các văn bản đã kể trên là hiện thực trong thực tiễn của đất nước chứ không chỉ là những hiện tượng từ tư duy suy lý, lý thuyết. Trong chủ đề mà Bác luôn lo nghĩ và đau lòng ấy, còn có một bình diện thực tiễn - sự thật thứ hai: Có những nhà văn, nhà báo thực hiện lời dạy của Bác đã dũng cảm dấn thân bằng ngòi bút của mình vạch trần sự thật tham nhũng, lãng phí, quan liêu và nhiều chứng bệnh khác mà Bác đã cảnh cáo, lại bị chính thói “quan liêu, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền”, “dung túng, che chở cho nạn tham ô lãng phí” làm hại, bắt tội một cách oan uổng. Trước khi nói về trường hợp điển hình là nhà văn - chiến sĩ Phùng Quán, xin nhắc lại trong tâm trạng căm phẫn vụ Trần Dụ Châu (Cục trưởng Cục quân nhu trong kháng chiến chống Pháp) và đồng bọn dùng bạo lực đối với nhà thơ Đoàn Phú Tứ - nguyên Đại biểu Quốc hội khóa I - khi ông trực tiếp lên án tội tham nhũng của hắn ngay giữa đám cưới xa hoa do hắn tổ chức và bảo trợ trong lúc ngoài chiến khu bộ đội đang “võ vàng đói khát”. “Đêm hôm đó, nhà thơ viết một bức thư dài gửi lên Hồ Chủ tịch” (cuối năm 1950). Và “một tuần sau, Tòa án Quân sự được thiết lập. Trần Dụ Châu lãnh án tử hình vì tội tham nhũng”(15).

Trở lại với câu chuyện của nhà thơ, nhà văn chiến sĩ Phùng Quán. Ông sinh năm 1932 và 13 tuổi đã cầm lấy khẩu súng trong đội hình Vệ quốc đoàn chiến đấu chống ngoại xâm 9 năm ròng (1946-1954). Từ Điện Biên Phủ trở về và trở thành nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Vượt Côn Đảo (1954) và trường ca Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1955). Ta biết đến hàng chục tác phẩm văn xuôi, hàng trăm bài thơ ông viết trong những năm tháng oan khổ dài dằng dặc với 7 năm phải ra khỏi biên chế đi lao động cải tạo (1957-1964) và 30 năm bị tước thẻ Hội viên Nhà văn Việt Nam, bị cấm xuất bản tác phẩm (1957 đến 3/2/1988). Tuổi thơ dữ dội, cuốn tiểu thuyết gần nghìn trang viết trong thời gian đó, mãi đến 1988 mới được xuất bản lần đầu (Nxb Thuận Hóa - Huế). Ông mất năm 1995 và năm 2007 được Chủ tịch nước tặng “Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật”.

Trong cuộc đời chiến sĩ của mình, chín năm cầm súng chống ngoại xâm với “Vinh dự hai lần đổ máu tươi”, cứ nói theo ý của Marx là ông đã thực hiện sứ mệnh “Phê phán bằng vũ khí”, thì từ hòa bình (sau 1954), với ngòi bút trong tay, thức nhận trong đầu và ngọn lửa trong tim ông sử dụng “vũ khí phê phán” để tiếp tục chiến đấu bảo vệ Cách mạng, Tổ quốc và Nhân dân theo lời dạy của lãnh tụ, bằng cách vạch trần sự thật thoái hóa, tha hóa đang chà đạp lên những gì là vinh quang, là hy vọng của nhân dân và dân tộc. Đó là sứ mệnh văn hóa của ngòi bút chân thật, của văn học nghệ thuật chân chính. Phùng Quán, trong tình huống đó đã quyết đòi thực hiện cái quyền “nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn nghệ” mà Bác Hồ đã yêu cầu. Và người chiến sĩ ấy đã sử dụng “vũ khí phê phán” dũng cảm tiến công vào một loại giặc mới: giặc nội xâm. Phùng Quán là một trong những chiến sĩ văn nghệ đầu tiên đáp đúng yêu cầu cách mạng của Bác Hồ. Và chính cái “bệnh quan liêu - kẻ thù của nhân dân, bộ đội và chính phủ” đã phản công lại nhà văn, đẩy ông vào 30 năm oan khổ. Vì sao vậy? Vì chính cái đòn tiến công đích đáng của ông vào đúng kẻ thù của nhân dân mà Bác Hồ đã chỉ rõ. Đòn tiến công đó không phải bằng hành xử của tòa án, của luật pháp, của kỷ luật tổ chức… mà bằng nghệ thuật ngôn từ, bằng văn hóa của văn học.

Đó là bài thơ Chống tham ô lãng phí (1956). Tên bài thơ như có bạn nhận xét “100% khẩu hiệu”, quả đúng với tính cách chiến sĩ của Phùng Quán. Nhưng bài thơ không phải là một khẩu hiệu có chức năng trực chỉ nhiệm vụ cho quần chúng. Bài thơ là một tác phẩm nghệ thuật với chức năng văn hóa đặc thù của nó, mang lại cho độc giả một khả năng tự cảm, tự thức, tự luận để không chỉ nhận diện bề mặt sự kiện mà còn mở ra một nẻo nhìn vào bản chất sự thật của mối hiểm họa từ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Đọc bài thơ không thể không nhận ra cách nhìn nghệ thuật của thi nhân. Hai loại sự thật của hiện thực khởi nguyên vào tác phẩm trong một quan hệ đối lập, tương phản:

Đây, loại sự thật thứ nhất:

Tôi đã đi qua/Những xóm làng…/Tôi đã gặp:

Những bà mẹ già quấn giẻ rách…

…Kéo dây thép gai tay máu ròng ròng

Bới đồn giặc, trồng ngô tỉa lúa

Tôi đã đi qua/Những xóm làng…

…Hai mùa rồi, lúa không có một bông

Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ…

Tôi đã gặp/Những em thơ còm cõi…

…Cơm thòm thèm độn cám và rau…”.

Ông đã gặp giữa thành phố:

Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm

Chị em công nhân đổ thùng/Run lẩy bẩy chui vào hầm xí tối.

Vác những thùng phân/Thuê một vạn một thùng

Mấy ai dám vác?

Các chị suốt đêm quần quật/Sáng ngày vừa đủ nuôi con…”.

Đây, loại sự thật thứ hai:

Có một Lũ người tiêu máu của dân/Như tiêu giấy bạc giả…

... Đài xem lễ, họ cao hứng dựng lên/Nửa chừng bỏ dở.

Mười một triệu đồng dầm mưa dãi gió

Mồ hôi máu đỏ mốc rêu

Những con chó sói quan liêu

Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!...

 … Đục cơm khoét áo chúng ta

Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ…

Bạn trẻ bây giờ đọc đến loại sự thật thứ nhất dẫn ở trên có lẽ nghĩ đến một huyền thoại của thời hồng hoang sơ sử xa xôi. Nhưng đó là sự thật về những gian lao của nhân dân và chính phủ sau cách mạng và kháng chiến. Đói, cái đói tràn khắp thôn cùng xóm vắng. Bác Hồ đề nghị cán bộ mỗi tuần nhịn ăn một bữa để góp gạo giúp dân chống đói và chính Người gương mẫu thực hiện trước và thực hiện một cách bền bỉ. Phùng Quán nói đến cái đói ấy của dân, nói đến sự nỗ lực quá sức người của bà con nông dân và của chị em công nhân để chống nạn nghèo đói thì có gì tội lỗi? Bạn thấy ngày nay hàng năm ta có con số % kết quả giảm đói nghèo sẽ tiếp cận dần đến hết. Còn ngày ấy “Đất nước chúng ta không đếm hết người nghèo”. Phùng Quán lên án kẻ tham ô lãng phí của dân trong tình huống dân khổ, dân nghèo và đói thì có tội gì: “Những con chó sói quan liêu… Cắn rứt thịt da cách mạng… Đục cơm khoét áo… Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ”.

Trong bài thơ yếu tố tự sự được sử dụng như một cách nhìn khách quan để giúp người đọc nhận được sự thật cuộc sống từ sự chân tín. Nhà thơ kể lại sự thật theo những bước đi thực tế của chính mình đến các địa bàn: Tôi đã đi qua…, Tôi đã gặp…, Tôi đã đi qua…, Tôi đã gặp…, Tôi đã đi giữa…”, hãy đi cùng tôi “Về… mà xem”. Các địa bàn đó đều có địa chỉ cụ thể: Kiến An, Hồng Quảng, Hà Nội, Nam Định. Mọi cảm xúc và tâm trạng đau đớn, xót xa, căm giận của thi nhân đều bắt nguồn từ những yếu tố hiện thực khách quan của cuộc sống đang diễn ra. Đó gọi là chất liệu sống của nghệ thuật. Ở đây không có chất liệu thời quá vãng, không có chất liệu tưởng tượng từ một thế giới khác. Chất liệu sống, chất liệu thực có tính tự sự ấy gây ám ảnh tâm lý, day dứt nhà thơ. Hình ảnh “máu” lặp lại sáu lần như một ký hiệu nghệ thuật của ám ảnh đau đớn, nhức nhối trong tâm trạng người thơ: “Những bà mẹ già… kéo dây thép gai tay máu ròng ròng”, “Đẫm mồ hôi và máu tươi của cách mạng”, “Lũ người tiêu máu của dân”, “Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ”, “Mồ hôi máu đỏ mốc rêu”, “Những mẹ già, em trai, chị gái… Còng lưng rỏ máu lấn vành đai”.

Từ ám ảnh đau đớn qua tâm trạng bất an đến sự tự thức nhận sứ mệnh của thi ca và nghệ thuật. Phùng Quán không hề phủ nhận giá trị văn hóa đa diện, đa phong cách của nghệ thuật. Nhưng lúc này đây, trước sự thật này đây thì:

Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn

Của quần chúng anh hùng lao động

Đang buộc bụng, thắt lưng để sống

Để dựng xây kiến thiết nước nhà

Để yêu thương, nuôi nấng chúng ta.

Từ sự thức nhận đó dẫn đến sự lựa chọn văn hóa cho thi ca và thể hiện ý chí của người nghệ sĩ. Nhà thơ quyết quay lưng với thứ thi ca “đầy bướm, đầy hoa, xanh đỏ sáng lòa, như giấy trang kim” lòe loẹt, vàng son lộng lẫy phủ lên trên “mồ hôi và máu tươi của cách mạng!” lừa dối nhân dân, lấp vùi sự thật:

Như công nhân

Tôi quyết đúc thơ thành đạn

Bắn vào tim những kẻ làm càn

Vào lũ người tiêu máu của dân

Như tiêu giấy bạc giả.

Đấy là sứ mệnh văn hóa của nghệ thuật, của người nghệ sĩ. Nhưng Phùng Quán còn là người chiến sĩ cầm súng lúc 13 tuổi chống giặc ngoại xâm. Vậy lúc này đây, cách mạng “Cần lập những đội quân trừ diệt” giặc nội xâm, Phùng Quán lại xin có mặt “trong hàng ngũ tiên phong”.

Bài thơ minh bạch, rõ ràng. Sự thật được trình bày trong một quan niệm văn hóa sâu sắc, cao cả và đầy sự hy sinh. Từ đâu, Phùng Quán có được ý chí, đức tin và tư duy nghệ thuật đầy sức mạnh cống hiến ấy? Từ giác ngộ lý tưởng cách mạng vì nhân dân chiến đấu đã đành, nhưng cũng là chung cho nhiều nhà văn chiến sĩ khác. Phùng Quán có một đặc hữu của riêng ông - ta có thể nhận thức như vậy. Đó là ông có Lời mẹ dặn như một đức tin thiêng liêng trong tâm hồn, tình cảm, lý trí đã cùng ông đi suốt cuộc đời nghệ sĩ rất đỗi gian nan nhưng cũng đầy kiên định, thủy chung với sứ mệnh văn hóa của văn học nghệ thuật.

Lời mẹ dặn là tên bài thơ ông viết và công bố năm 1957 sau Chống tham ô lãng phí một năm. Như Chống tham ô lãng phí, cảm hứng và quan niệm văn hóa của nhà thơ cũng bắt đầu từ một sự việc được ông kể lại có thời gian, có tình huống, có nhân vật. Nhưng điểm khác ở bài thơ này yếu tố tự sự là một “câu chuyện” của thời quá vãng từ hai mươi năm trước: Một người vợ mất chồng khi con trai mới hai tuổi, quyết ở vậy nuôi con “đến ngày khôn lớn”. Con lớn năm tuổi mắc tội nói dối, mẹ không đánh đòn, mà chỉ nhắc lại lời di huấn của người cha: “Suốt đời phải làm một người chân thật”. Sau đó là lời mẹ dạy con thế nào là “một người chân thật”. Nhà thơ kể tiếp, lớn lên đã hiểu và yêu người chân thật thế nào. Tình tiết tự sự cuối cùng nhưng ông muốn chia sẻ với chúng ta đức tin văn hóa của người nghệ sĩ chân chính. Đó là:

Năm nay tôi hai lăm tuổi (1932-1957)

Đứa bé mồ côi thành nhà văn

Mặc dù: Lời mẹ dặn thuở lên năm

Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.

Nhưng nhà văn có dám “đi trên con đường chân thật” hay không? Không hề là câu chuyện đơn giản như cưỡi trâu ra đồng mỗi sáng thuở còn con trẻ. Nhà văn “đi trọn đời trên con đường chân thật” còn khó gấp muôn lần “người làm xiếc đi trên dây”. Đến đây xin cùng bạn trở lại những Lời mẹ dặn. Ông đã khắc sâu trong tâm não của mình:

Con ơi! Một người chân thật

Thấy vui muốn cười cứ cười

Thấy buồn muốn khóc cứ khóc.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Những Lời mẹ dặn đã trở thành bản lĩnh, nhân cách văn hóa của một nhà văn được thực chứng qua quãng đời giông bão ba mươi năm, tuy Có những phút ngã lòng nhưng ông Vịn câu thơ mà đứng dậy để tiếp tục hướng ngòi bút về với Sự thật của Nhân dân và Cách mạng. Đối với ông… “làm một nhà văn chân thật/Chân thật trọn đời” vừa là lẽ sống, là khát vọng của người chiến sĩ sử dụng “vũ khí phê phán”, nhưng đồng thời là hiện thực cuộc dấn thân cho văn học nghệ thuật chân chính, quyết từ chối văn nghệ công cụ, văn nghệ “chư hầu” cho bất cứ một nhóm quyền lực xu danh trục lợi nào tiếp tay, tiếp sức cho sự phản bội dân tộc, nhân dân và cách mạng. Ông là nhà nghệ sĩ chân thật, trung thành đã thực hiện lời dạy của Bác Hồ về chống tham ô, lãng phí, quan liêu một cách triệt để, chấp nhận hy sinh. Theo tư duy logic thuận, tôi nghĩ nhóm quyền lực xử lý oan uổng với ông phải là một nhóm quan liêu đã làm trái lời dạy của Bác Hồ, họ là một số trong bộ phận bị tác phẩm của Phùng Quán vạch trần sự thật, dù sự thật có bị chôn vùi tận đáy đất đen. Chứng cứ là trong sách Phùng Quán còn đây, tác giả của bài Lời mẹ dặn - tuyên ngôn của người cầm bút(16), đã cấp cho ta “chân dung” dơ dáy, điếm nhục “của một ông quan lớn” qua “bài thơ” ông viết để đả kích Lời mẹ dặn của Phùng Quán. Đó là một bài văn vần: Lời mẹ dặn - thật hay không? (ký tên Trúc Chi) mà tác giả của nó hầu như đã tự chứng tỏ không có tri thức tối thiểu về đặc trưng loại hình văn hóa của nghệ thuật ngôn từ, cho nên không có khả năng hiểu được tác phẩm nghệ thuật Lời mẹ dặn - “Một trong những bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX(17). Mà cũng có thể do bản chất dối trá, cố tình xuyên tạc bài thơ Lời mẹ dặn bằng lời lẽ dung tục, tầm thường, vô văn hóa. Sự thật về bản chất của nhân vật này cuối cùng cũng bị phơi trần như một kẻ phản bội Tổ quốc và Nhân dân phải bỏ trốn khỏi đất nước đi “lánh nạn” ở nước ngoài. Đây là một trong những người chửi bới Chống tham ô lãng phíLời mẹ dặn một cách sai lầm, tàn nhẫn nhất. Có bạn sau này cho họ là “những người cực đoan”. Tôi nghĩ chưa hẳn, mà thể chính họ đã sa vào tha hóa, kể cả tha hóa quyền lực, có thể họ thuộc loại đối tượng bị phê phán trong tác phẩm của Phùng Quán. Giữa người nghệ sĩ chống tham nhũng theo lời dạy của lãnh tụ với kẻ tham nhũng hoặc bao che, bảo vệ tham nhũng: chọn ai để kỷ luật, để xử lý? Đó là một lựa chọn phải sử dụng chuẩn mực văn hóa để khu biệt.

Hai bài thơ Chống tham ô lãng phíLời mẹ dặn sau ba mươi năm không trở thành một ký hiệu nghệ thuật dĩ vãng, chưa hề là một hiện tượng văn học quá khứ. Năm 1986, Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quyết sách “nhìn thẳng vào sự thật”, một trong những quyết sách của Đổi mới đã và đang mang lại sự phát triển hợp quy luật trên đường phấn đấu cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Tuy vậy, thế lực “giặc nội xâm”, tham nhũng, lãng phí, quan liêu cũng ngày càng cản trở cuộc tiến bộ của đất nước. Nó không chỉ do di căn xã hội cũ mà còn do cả những bệnh căn mới phát trong nền sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường buổi ban đầu. Chủ trương công khai, minh bạch hóa mọi hoạt động của chính phủ, quyết tâm của lãnh đạo trung ương chống tham nhũng, lãng phí quan liêu vừa qua đã chứng tỏ nhu cầu bức thiết của nhân dân về Sự thật trên mọi hoạt động của đất nước (ngoài các bí mật quốc gia do Hiến pháp và Pháp luật quy định). Đó là một nhu cầu, một khát vọng văn hóa trong một xã hội dân chủ: Văn hóa của Sự thật.

Hành trình về phía Sự thật của tác phẩm Phùng Quán vẫn mãi là hành trình văn hóa của văn học nghệ thuật chân chính ở thời đại chúng ta. Đương nhiên, do sự phát triển tiến bộ của tư duy nghệ thuật đương đại, văn hóa của Sự thật trong văn học thời ta sống có thể được biểu hiện sâu sắc, năng động hơn với nhiều chiều kích nghệ thuật đa dạng, phong phú, tinh tế hơn. Nhưng xét từ bản lĩnh và nhân cách văn hóa của người nghệ sĩ thì tâm niệm của Phùng Quán về văn hóa của sự thật càng ngày càng được khẳng định vững vàng hơn vì “Đã đi với nhân dân/Thì thơ không thể khác” (thơ Phùng Quán). Văn nghệ xa rời nhân dân, không đi với nhân dân là văn nghệ đã tự từ bỏ vai trò chủ thể văn hóa của mình trong đặc trưng loại hình của hoạt động văn học nghệ thuật.

Từ một lời dặn lại của Bác Hồ trong Di chúc thiêng liêng, rất tự nhiên cứ liên tưởng theo logic về những bài viết, bài nói của Bác từ ngày đầu của chế độ mới đến trước khi Bác viết Di chúc báo động, cảnh cáo, phê phán chủ nghĩa cá nhân mà bệnh chứng trầm trọng là tham nhũng, lãng phí, quan liêu… “những hiểm họa đang rình phục Tổ quốc và Nhân dân tôi” (lời Phùng Quán). Từ đó nghĩ về sứ mệnh và sự dấn thân chiến đấu của người nghệ sĩ và văn học nghệ thuật chân chính trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm” ngày nay và tự nhận thức mình có một phần trách nhiệm.

 

Chú thích

(1). Trong sách Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.9.

(2). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.11, 12, 13.

(3). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.14, 15.

(4). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.16, 17, 18, 19.

(5). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.20.

(6). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, từ tr.33 đến tr.38.

(7). Sđd, Nxb Chính trị Quốc gia. H, 2008, tr.36.

(8). Hồ Chí Minh toàn tập - tập 4 - Nxb Sự thật. H, 1984, tr.7.

(9). Trong sách Về đạo đức cách mạng, Nxb Sự thật.H, 1976, tr.156.

(10). Hồ Chí Minh toàn tập - tập 4 - Nxb Sự thật. H, 1984, tr.19.

(11). Hồ Chí Minh toàn tập - tập 4 - Nxb Sự thật. H, 1984, tr.36.

(12). Hồ Chí Minh toàn tập - tập 4 - Nxb Sự thật. H, 1984, tr.470, 471.

(13), (14). Hồ Chí Minh: Bài viết năm 1952, in lại trong sách Về đạo đức cách mạng, Nxb Sự thật.H, 1976, tr.49 và 46, 47, 48.

 (15). Ba phút sự thật, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2007, từ tr.51 đến tr.55.

(16). Ngô Minh, trong sách, Phùng Quán còn đây (NXB Văn nghệ Tp. HCM, 2007), tr.326, 327, 328.

(17). Dẫn theo Ngô Minh Phùng Quán còn đây (sđd), tr.326.

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Trao đổi thêm về một số ký hiệu nghệ thuật trong các tác phẩm viết về Tây Nguyên (6/12/2019)
Điện ảnh tài liệu Việt Nam và những câu chuyện làm phim về Bác Hồ (29/11/2019)
Đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học trong giai đoạn hiện nay (11/10/2019)
Đi tìm không gian mới cho Ví, Giặm (11/10/2019)
Ngọn nguồn thực tiễn của một lời Bác Hồ dặn trong Di chúc (7/10/2019)
Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 tới hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (25/9/2019)
Thử bàn về vai trò của Phật giáo trong thời đại công nghiệp 4.0 (9/9/2019)
Để bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa của địa danh Bến Thủy (7/9/2019)
Công tác tập huấn du lịch cộng đồng cho người dân miền Tây Nghệ An (12/8/2019)
“Nghệ An cần thống nhất cách hiểu và xác định sản phẩm đặc sản của mình” (12/8/2019)
Nghệ An cần phải xây dựng và phát triển một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực, hướng tới ba mục tiêu “khối lượng lớn, chất lượng cao và thương hiệu mạnh” (12/8/2019)
Bảo tồn và phát triển sản phẩm đặc sản của Nghệ An (7/8/2019)
Vì sao du lịch Nghệ An phát triển chưa tương xứng với tiềm năng (1/8/2019)
Bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống và sự tiếp nhận văn minh - Nhìn từ lễ tục cưới hỏi hiện nay (9/7/2019)
Hình tượng người đi đường và bài học triết lý về đường đời… (Đọc Tẩu lộ của Hồ Chí Minh, Ngữ văn 8, tập hai, Nxb Giáo dục) (10/6/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,419 | Tất cả: 1,964,959
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp