DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Nhìn lại 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở Nghệ An
Tin đăng ngày: 12/9/2019 - Xem: 44
 

                                                                             Doãn Trí Tuệv

1. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Thực hiện quyết định số 6593/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2013 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Tính từ 2013 - 2018, đã qua 5 năm thực hiện đề án nói trên, thử nhìn lại 5 năm qua thực hiện đề án chúng ta đã đạt được những kết quả gì đáng ghi nhận. Những tồn tại, yếu kém cần khắc phục và các giải pháp tiếp theo.

Muốn hay không, trong quá trình chỉ đạo thực hiện đề án chắc chắn không thể tránh khỏi những khó khăn, phức tạp do truyền thống sản xuất lạc hậu, manh mún, bảo thủ, ngại khó và do trình độ tổ chức chỉ đạo thực hiện còn nhiều hạn chế.

Chủ trương tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp là tất yếu khách quan để phù hợp với xu thế hiện nay trong cả nước và thế giới, là yêu cầu cấp bách của sản xuất nông nghiệp (SXNN) trong thời kỳ mở cửa hội nhập ra thị trường quốc tế.

Chỉ có tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp thì mới đưa nông nghiệp cả nước nói chung, Nghệ An nói riêng vươn lên cả về năng suất, chất lượng và hiệu quả bằng việc bố trí hợp lý cơ cáu cây và con ở các vùng miền, gắn với việc ứng dụng tốt các tiến bộ KHKT trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa… thì sẽ đưa nông nghiệp phát triển mạnh và bến vững.

2. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

2.1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu

- Tốc độ tăng trưởng giá trị SXNN năm 2018 đạt 4,8%, bình quân cả giai đoạn 2013 - 2018 đạt bình quân 4,52%. Cơ cấu kinh tế nội ngành chuyển dịch theo hướng tích cực; năm 2017, tỉ trọng ngành nông nghiệp chiếm 78,78%, lâm nghiệp 7,42%, ngư nghiệp 13,81%. Trong ngành nông nghiệp thuần chuyển dịch mạnh theo hướng tăng dần tỉ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ.

- Thu nhập đầu người ở khu vực nông thôn tăng 1,42 lần so với năm 2013. Tỉ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn đến hết năm 2018 là 7,54%, giảm 12,24% so với năm 2013.

- Đến hết năm 2018 đã có 181 xã (bằng 42% số xã toàn tỉnh) và 3 huyện, thị đạt chuẩn NTM.

- Tỉ lệ dân ở nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh theo quyết định 51/QĐ-BNN của Bộ NN & PTNT đến hết năm 2017 đạt 79% và năm 2018 đạt 81%.

- Sản lượng lương thực cây có hạt năm 2018 đạt 1,257 triệu tấn, vượt năm 2017 trên 1%. Kết quả này vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề án và nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đề ra.

- Độ che phủ rừng đạt 57,7%, vượt chỉ tiêu đề ra (chỉ tiêu đề ra 55 - 56%).

2.2.Kết quả về tái cơ cấu lại những lĩnh vực cụ thể trong ngành nông nghiệp

a. Lĩnh vực trồng trọt: Trong nhiều kết quả đạt được, có 3 kết quả đáng ghi nhận, đó là:

- Đã tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với đất đai, khí hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất và nhu cầu thị trường. Trong đó đặc biệt được chuyển đổi mạnh từ đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây trồng khác có lợi thế hơn, có giá trị kinh tế cao hơn như: Mía, ngô, lạc, đậu đỗ, rau củ quả… hoặc nuôi trồng thủy sản như tôm, cá…

Từ 2013 - 2018 toàn tỉnh đã chuyển đổi được 8.949 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây khác. Trong số này có 4.721 ha đất 2 vụ lúa và 3.154 đất 1 vụ lúa.

Một trong những điển hình về chuyển đổi cơ cấu cây trồng đem lại hiệu quả lớn, đó là chuyển đổi từ đất 2 vụ lúa kém hiệu quả do không chủ động nguồn nước tưới ở các xã Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái, Nghĩa Đồng. Mỗi xã đã chuyển từ 60 - 100 ha lúa, năng suất lúa bình quân cả năm từ 5 - 7 tấn/ha, sang trồng mía đạt năng suất đạt từ 80 - 110 tấn/ha. Doanh thu do trồng mía cao gấp hơn 2 lần trồng lúa.

- Hình thành nhiều vùng sản xuất lớn có sự liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị với doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, điển hình như: Một số HTX, xã sản xuất lúa gạo có sự liên kết bao tiêu sản phẩm của Tổng Công ty CP vật tư nông nghiệp Nghệ An, Công ty TNHH khoa học công nghệ Vĩnh Hòa. Sản xuất mía đường có sự liên kết với cả 3 Công ty chế biến đường Sông Con, Sông Lam và Nasu Nghệ An bao tiêu hết sản phẩm. Sản xuất chè công nghiệp có sự liên kết với Công ty Đầu tư Phát triển chè Nghệ An bao tiêu hết sản phẩm v.v…

Trên cơ sở quy hoạch và hình thành các vùng sản xuất lớn đã tạo điều kiện để thực hiện ứng dụng nông nghiệp công nghệ cam, mở rộng mô hình cánh đồng lớn được ứng dụng các tiến bộ KHKT tiên tiến. Tính đến nay toàn tỉnh đã có 9.500 ha được sản xuất ứng dụng công nghệ cao về một số cây trồng chủ lực và gần 6000 ha cánh đồng lớn riêng về cây lúa.

- Sản xuất ngành trồng trọt trong 5 năm qua thực hiện cơ cáu lại đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đặc biệt trong đó sản lượng lương thực cây có hạt năm 2018 đạt 1.257.077 tấn, tăng 96.536 tấn so với năm 2013. Thu nhập bình quân/ha đất trồng trọt năm 2018 đạt khoảng 80 triệu đồng, tăng 15,42 triệu đồng/ha so với năm 2013, nhiều cây trồng cho thu nhập trên 1 tỉ đồng/ha/năm như: cam, quýt, chanh leo…

b. Lĩnh vực chăn nuôi

Trong 5 năm qua, ngành chăn nuôi đạt được 3 thành công lớn, đó là:

- Chuyển dịch cơ cấu lại đàn vật nuôi theo hướng tăng quy mô đàn trâu bò ở vùng miền Tây, nhất là bò sữa, bò thịt chất lượng cao, tăng sản lượng thịt hơi xuất chuồng. Đồng thời tăng cường công tác chuyển giao các tiến bộ KHKT, KHCN, xây dựng và nhân rộng các mô hình chăn nuôi có hiệu quả. Tập trung nâng cao chất lượng giống chăn nuôi để cải tạo nhanh cả trọng lượng và chất lượng đàn trâu, bò ở khu vực miền Tây Nghệ An.

- Đổi mới công tác quản lý dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm: Công tác thú y được triển khai có hiệu quả, ngăn chặn và dập tắt kịp thời các ổ dịch phát sinh, phát triển như bệnh tai xanh, lở mồm long móng… Công tác kiểm tra diết mổ và kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm được chỉ đạo thực hiện triệt để.

- Cơ cấu lại phương thức tổ chức chăn nuôi theo hướng chuyển dần từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi quy mô công nghiệp, trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ cao. Thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư vào chăn nuôi, thực hiện liên kết chuỗi giá trị khép kín trong chăn nuôi để cả doanh nghiệp và người chăn nuôi cùng có lợi và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Kết quả lớn nhất sau 5 năm thực hiện tái cơ cấu lại, ngành chăn nuôi đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, đó là: Kết thúc năm 2018 tổng đàn trâu bò đạt 799.000 con, trong đó đàn bò và bò nuôi lấy sữa có 75.000 con.

So với năm 2013, tổng đàn trâu bò tăng 74.645 con. Riêng đàn bò tăng 82.602 con. Trong số này đàn bò và bê nuôi lấy sữa tăng 41.000 con. Trong khi đó đàn trâu giảm, đến năm 2018, tổng số đàn trâu giảm 9.015 con so với năm 2013.

Tổng đàn lợn đến năm 2018 này đạt 920.000 con, giảm so với năm 2013 là 95.000 con. Tổng đàn giảm, nhưng trọng lượng bình quân xuất chuồng từ 55 - 60 kg/con năm 2013, lên 85 - 100 kg/con năm 2018. Vì vậy tổng sản lượng lợn hơi xuất chuồng năm 2013 là 196.546 tấn, tăng lên 230.000 tấn năm 2018 (tăng 17,02%).

Tổng sản lượng sữa năm 2014 đạt 150 triệu lít, đến năm 2018 đạt 250 triệu lít, tăng 66,66%.

Tổng đàn gia cầm đến năm 2018 đạt 22,5 triệu con, tăng hơn năm 2013 là 5,2 triệu con, bằng 30%.

c. Lĩnh vực lâm nghiệp: Tái cơ cấu lại ngành lâm nghiệp vừa qua tập trung vào 4 nội dung chủ yếu sau đây:

- Nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng trên cơ sở tập trung các giải pháp bảo vệ rừng, chăm sóc rừng, mở rộng diện tích trồng rừng gỗ lớn, cây bản địa để tăng giá trị sản phẩm gỗ.

- Nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ thông qua chế biến bằng cách chế biến thành các sản phẩm gỗ xuất khẩu theo nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, tiến tới dừng sản xuất gỗ dăm xuất khẩu.

- Sắp xếp tổ chức lại ngành lâm nghiệp theo Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT/BNN-BNV (Bộ NN & PTNT và Bộ Nội vụ) và quyết định số 44/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nghệ An. Đồng thời hình thành và phát triển các HTX cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ hoạt động thường xuyên.

- Thực hiện liên kết, liên doanh theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp giữa doanh nghiệp lâm nghiệp với các HTX trồng rừng. Khuyến khích đầu tư trong sản xuất và chế biến gỗ bằng công nghệ hiện đại như đã làm ở Nhà máy chế biến gỗ và ván ép MDF của Công ty lâm nghiệp tháng 5, Nhà máy sản xuất gỗ ván sợi MDF ở khu công nghiệp Tri Lễ… Sau 5 năm thực hiện tái cơ cấu lại ngành lâm nghiệp đã đạt được những kết quả tích cực, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2013 - 2018 đạt 7,15%, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp đạt 2.000,8 tỉ đồng, tăng 482,57 tỉ đồng so với năm 2013.

Trong đó đáng lưu ý là: Rừng trồng mới năm 2013 có 15.845 ha, đến năm 2018 diện tích rừng trồng mới lên 19.000 ha, tăng 3.155 ha, bằng 19,9%. Tỉ lệ che phủ của rừng năm 2013 đạt 54,30%, đến năm 2018 đạt 57,7% tăng 3,4%. Khai thác gỗ rừng trồng để phục vụ chế biến và xuất khấu năm 2013 đạt 233.845m3, đến năm 2018 đạt 515.800 m3, tăng 281.955 m3, tăng 205%.

d. Lĩnh vực thủy sản: Tập trung chủ yếu vào 4 nội dung lớn sau:

- Phát triển vùng nuôi tôm, cá công nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, áp dụng quy trình Viet GAP có chứng nhận nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Thực hiện liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm, có kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2018 ước đạt 50.253 tấn, tăng 23,4% so với năm 2013.

- Thực hiện nghiêm việc giảm dần việc đánh bắt, khai thác thủy gần bờ, khuyến khích đánh bắt xa bờ để bảo vệ tài nguyên, nguồn lợi thủy sản quê hương.

Để đánh bắt xa bờ phải có tàu công suất lớn. Đến nay toàn tỉnh đã có 104 tàu đánh cá công suất lớn đi vào hoạt động với tổng công suất 640.817 CV, tăng 270.399 CV so với năm 2013 (công suất bình quân 168,50 CV/tàu, tăng 76,13 CV/tàu so với năm 2013). Tổng sản lượng cá đánh bắt được trong năm 2018 ước đạt 132.474 tấn, tăng 47,08% so với năm 2013.

- Đầu tư đồng bộ vào các cơ sở hạ tầng dịch vụ thủy sản để thúc đẩy môi trường và khai thác nguồn lợi thủy sản, cụ thể đầu tư và nâng cấp mạnh vào các cơ sở sản xuất giống tôm, cá. Xây dựng mới và nâng cấp cảng cá Cửa Hội, Lạch Vạn, khu neo đậu và tránh trú gió bão của tàu thuyền ở Cửa Lò, cảng cá Quỳnh Phương…

- Tổ chức lại hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá. Xây dựng và phát triển các mô hình liên kết liên doanh, gắn với sản xuất, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Với chủ trương này trong giai đoạn 2013 - 2018 đã có nhiều cơ sở chế biến thủy sản lớn được xây dựng và đi vào hoạt động, như: Trung tâm công nghiệp thực phẩm Masan miền Bắc, Nhà máy chế biến cá hộp Royol Foods Nghệ An, Nhà máy chế biến bột cá tại xã Diễn Hùng…

e. Lĩnh vực cơ giới hóa:

Một trong những kết quả vượt bậc, đó là việc đưa cơ giới hóa vào phục vụ sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh. Tính đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh đã có 15.993 máy làm đất đa chức năng, 850 máy gặt đập lúa liên hợp, 495 máy gặt lúa rải hàng, 7427 máy tuốt lúa có động cơ, 1282 máy hái chè, 8652 máy xay xát gạo có động cơ, 100 máy vắt sữa bò, 3808 tàu thuyền đánh bắt cá có tổng công suất 640.817 CV.

Các khâu sản xuất được cơ giới hóa nhanh nhất hiện nay là: làm đất đạt trên 90%, vận chuyển nông thôn hơn 95%, gặt lúa gần 80% (Riêng các huyện đồng bằng 100%), tuốt lúa 96%, vận chuyển riêng cho cây mía 100%...

h. Lĩnh vực phát triển ngành nghề:

Phát triển ngành nghề những năm gần đây có bước phát triển mạnh, tạo điều kiện và góp phần cơ cấu lại lao động ở nông thôn. Từ năm 2013 - 2018, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nghề tăng 14,85%/năm. Đến nay toàn tỉnh đã có 33.271 cơ sở ngành nghề nông thôn, 153 làng nghề (tăng  27 làng nghề so với năm 2013). Hiện nay toàn tỉnh đang có phong trào "mỗi xã có một sản phẩm" từ nay đến năm 2020.

g. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới (NTM)

Chương trình MTQG về xây dựng NTM đã góp phần hoàn thiện cơ sở hạ, nâng cao đời sống cả tinh thần và vật chất cho nhân dân. Tính đến nay, toàn tỉnh:

- Về tiêu chí thu nhập: đã có 318/431 xã đạt tiêu chí số 10 về thu nhập, chiếm 73,8%; tăng 80 xã so với năm 2013.

- Về tiêu chí hộ nghèo: đã có 277/431 xã đạt tiêu chí số 11 về tỉ lệ hộ nghèo chiếm 64,3%; tăng 216 xã so với năm 2013.

- Về tiêu chí lao động có việc làm: đã có 367/431 xã đạt tiêu chí số 12 về lao động có việc làm, tăng 159 xã so với năm 2013.

- Về tiêu chí tổ chức sản xuất: đã có 331/431 xã đạt tiêu chí số 13 về tổ chức sản xuất, chiếm 76,8% tổng số xã và tăng 102 xã so với năm 2013.

- Về tiêu chí hạ tầng thủy lợi: đã có 357/431 xã đạt tiêu chí số 3 về cơ sở hạ tầng thủy lợi phục vụ SXNN, chiếm 82,83% tổng số xã.

Tổng số xã hoàn thành tiêu chí xây dựng NTM toàn tỉnh có 181/431 xã đạt chuẩn NTM, chiếm 41,99% tổng số xã và là tỉnh dẫn đầu phong trào xây dựng NTM của cả nước.

3. NHỮNG TỒN TẠI HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

3.1. Những tồn tại hạn chế:

- Trong quá trình tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp đã tạo được sự chuyển biến trong ngành, nhất là tăng trưởng khá. Nhưng chưa thật sự bền vững, hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích còn thấp.

Thu nhập và đời sống của một bộ phận người nông dân, nhất là vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn còn cao và có sự chênh lệch giữa các vùng miền.

- Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, nhất là việc củng cố và phát triển kinh tế hợp tác theo luật HTX năm 2012 tiến hành còn chậm. Các loại hình kinh tế trang trại, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, thu hút đầu tư tư nhân, phát triển doanh nghiệp, sắp xếp đổi mới các Công ty nông lâm nghiệp tiến hành chậm.

- Số lượng các dự án đầu tư vào nông nghiệp còn rất ít, công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch và dịch vụ chậm phát triển.1.4. Khả năng cạnh tranh các sản phẩm nông nghiệp qua chế biến còn rất thấp. Việc thâm nhập thị trường gặp nhiều khó khăn. Hiện tượng được mùa mất giá vẫn tiếp tục xẩy ra chưa có giải pháp hữu hiệu.

- Khả năng tiếp cận khoa học công nghệ của một số bộ phận còn hạn chế, nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả chưa được nhân rộng nhanh.

- Cơ chế, chính sách trong nông nghiệp chưa thật sự tạo ra sự đột phá mạnh mẽ so với yêu cầu sản xuất và phát triển nông thôn hiện nay.

3.2.Nguyên nhân

- Ruộng đất sản xuất manh mún, chưa có nhiều mô hình tính tích tụ ruộng đất trên quy mô lớn để tổ chức sản xuất nông nghiệp đang gây khó khăn cho việc ứng dụng khoa học công nghệ và cơ giới hóa các khâu từ sản xuất đến thu hoạch, chế biến và bảo quản.

- Trình độ lao động trong nông nghiệp, nông thôn còn quá thấp. Vẫn còn tồn tại lớn tư tưởng sản xuất nhỏ, lạc hậu, bảo thủ, trông chờ, ỉ lại…

-. Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng với vai trò và vị trí của ngành nông nghiệp trong sự phát triển chung của xã hội. Đặc biệt trong bất luận hoàn cảnh nào, nông nghiệp luôn luôn là cái giá đỡ cho sự phát triển của tất cả các ngành trong một xã hội, một quốc gia.

- Công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ còn chậm, chưa tạo ra được sự đột phá mạnh trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.

-Chưa có cơ chế chính sách đủ mạnh để khuyến khích việc ứng dụng các tiến bộ KHKT, công nghệ cao vào SXNN và chính sách khuyến khích các doanh nghiệp và người dân thực hiện liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

4.NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC CƠ CẤU LẠI NGÀNH NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2018 - 2020

a. trồng trọt: Tiếp tục điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Ưu tiên những cây trồng có sản phẩm phù hợp với lợi thế và nhu cầu thị trường, thích hợp với biến đổi khí hậu để mở rộng sản xuất.

Tập trung phát triển vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung trên quy mô lớn và tổ chức theo chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.

Khuyến khích phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao và sử dụng các cây trồng có chất lượng sản phẩm cao, năng suất lúa, hiệu quả kinh tế cao để gia tăng hiệu quả sản xuất.

b. Về chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, xa khu dân cư. Đồng thời duy trì chăn nuôi hộ gia đình theo phương thức chăn nuôi tiên tiến nhất. Phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc, nhát là bò sữa ở vùng miền Tây.

Tập trung cải tạo đàn bò giống theo hướng tăng tỉ lệ giống vừa năng suất cao, vừa có chất lượng thịt phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.

Phát triển mạnh sản xuất theo chuỗi liên kết giá trị gắn với thương hiệu sản phẩm.

Tổ chức lại hệ thống giết mổ đảm bảo ATVSTP, vệ sinh môi trường, giám sát và quản lý dịch bệnh có hiệu quả.

c. Về lâm nghiệp: Quản lý sử dụng bền vững, hiệu quả rừng tự nhiên; Thực hiện nghiêm chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên.

Bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái. Phát triển mạnh mô hình nông lâm kết hợp để vừa giữ rừng, vừa làm nông nghiệp ngay trên đất và cây rừng.

Nâng cao hiệu quả kinh tế trồng rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội, trồng rừng gỗ lớn, gỗ quý và lâm sản ngoài gỗ, nhất là dược liệu.

Phát triển các vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến gỗ. Tổ chức sản xuất lâm nghiệp theo chuỗi giá trị. Nhân rộng mô hình hợp tác trong lâm nghiệp.

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp trên 7%/năm, tỉ lệ che phủ rừng năm 2020 đạt 57,8%.

d.Về thủy sản:

Đẩy mạnh khai thác đánh bắt xa bờ, đầu tư và hiện đại hóa trang thiết bị chế biến và bảo quản thủy hải sản.

Liên kết chuỗi giá trị giữa khai thác, cung ứng dịch vụ hậu cần và thu mua, chế biến thủy sản với bảo vệ và phát triển nguồn lợi.

Chú trọng phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững, đa dạng hóa đối tượng và phương thức nuôi phù hợp với lợi thế của từng địa phương. Tập trung thâm canh theo quy trình sản xuát tiên tiến nhất để đem lại hiệu quả kinh tế cao.

e. Công nghiệp chế biến, cơ giới hóa, bảo quản sau thu hoạch và phát triển thị trường

Khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, nhất là lĩnh vực chế biến gắn với vùng nguyên liệu. Ưu tiên chế biến ứng dụng công nghệ cao.

Phát triển công nghiệp phù trợ, tăng cường ứng dụng cơ giới hóa trong tất cả các khâu từ sản xuất đến chế biến hoàn chỉnh để gia tăng giá trị sản xuất.

Phát triển mạnh ngành nghề, làng nghề gắn liền với bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.

Tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm hàng hóa ra thị trường trong và ngoài nước.

h. Cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới:

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp và tiến hành xây dựng NTM là hai việc làm gắn kết với nhau, đồng thời cùng tiến hành với mục tiêu chung là: Đổi mới hình thức tổ chức ở nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng vững mạnh để tập trung phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân, nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng NTM tại địa phương./.

 

 

 

 

 

Diễn đàn khác:
Không thể im lặng trong phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (11/10/2019)
Tác động của sự bùng nổ thông tin truyền thông đến nhận thức xã hội của người dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An (11/10/2019)
Phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và các hướng công nghệ ưu tiên ở nước ta trong bối cảnh mới hiện nay (25/9/2019)
Nhìn lại 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở Nghệ An (12/9/2019)
Phải chăng hoạt động của vị trạng nguyên người Nghệ đã để lại dấu ấn trong câu thơ của đức vua Trần Nhân Tông? (12/9/2019)
Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, sự cần thiết thành lập khu dữ trữ tự nhiên Puxailaileng miền Tây Nghệ An (12/9/2019)
Bàn tròn tháng 8: 70% bài thi lịch sử dưới điểm trung bình: Nguyên nhân và Giải pháp (9/9/2019)
Vai trò của Bảo tàng trong giáo dục lịch sử đối với học sinh phổ thông (9/9/2019)
Bác Hồ đã dạy "Dân ta phải biết sử ta" (9/9/2019)
Việt Nam trong cục diện kinh tế thế giới (21/8/2019)
Báo chí và mạng xã hội - Cạnh tranh hay hợp lực? (9/7/2019)
Nho giáo và chữ Lễ có ‘trói buộc con người’ không? (27/6/2019)
Đã đến lúc phải đổi mới trong nghiên cứu KHXH&NV (27/6/2019)
“Vai trò của báo chí trong truyền thông về chuẩn mực văn hoá ứng xử”: Ở góc độ này, báo chí làm còn yếu (18/6/2019)
Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (3/6/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 353 | Tất cả: 1,873,818
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp