ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Nhà thơ dân gian Trần Hữu Nghiêm
Tin đăng ngày: 12/9/2019 - Xem: 155
 

          Trần Ngưỡng

Upload

Vẻ đẹp Quỳnh Lưu, quê hương của nhà thơ Trần Hữu Nghiêm (ảnh: nguồn báo Nghệ An)

Mỗi vùng miền của đất nước Việt Nam thảy đều có làn điệu dân ca, hát ru con đặc sắc riêng. Từ các dân tộc miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, đến đồng bằng Bắc bộ, Nam bộ, bắc Trung bộ, nam Trung bộ...Ở mỗi địa phương lại hình thành những lời bài hát riêng cho những làn điệu hát dân ca, hát ru đó. Ở Xứ Nghệ làn điệu hát ru con là hát ví, hát giặm. Ở xã Tam Lễ xưa, nay là xã Quỳnh Châu phía Tây huyện Quỳnh Lưu những bài hát ru con bằng làn điệu ví, dặm là các bài thơ, bài vè của một tác giả: Trần Hữu Nghiêm. Các bài thơ hát ru con đó đã lan tỏa ra nhiều vùng khác trong huyện.

Ông Trần Hữu Nghiêm (1900-1974) sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học, làm nghề thuốc Bắc tại làng Tam Lễ, xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vùng Tam Lễ xưa kia được coi là " thâm sơn cùng cốc", nơi "rừng thiêng nước độc". Một tác giả đã từng viết về quê mình:

          Nước lũ chảy tung bốn phía

          Nẻo về phía nào cũng truông

          Trông về hướng nào cũng rú.

Với truyền thống của gia đình, ông Trần Hữu Nghiêm ngày nhỏ đã ham mê thơ phú, văn nghệ; song, trong điều kiện một vùng quê núi rừng heo hút, cách trở giao thông, nên việc tiếp cận với văn học rất khó khăn phần nào đã hạn chế nhiều đến sự phát triển tài năng của ông.

Được cha truyền dạy cho những bài học đồng ấu đầu tiên cũng như kiến thức văn học từ thời còn để chỏm, cộng thêm trí thông minh và sự đam mê học hỏi, đọc sách; nên ông Trần Hữu Nghiêm sớm trở thành một tác giả làm thơ dân gian nổi tiếng trong xã, trong huyện. Ông làm thơ (dân địa phương gọi là đặt truyện) như là một năng khiếu bẩm sinh, với bao nhiêu giai thoại xung quanh việc sáng tác thơ, hát phường vải của ông. Ông là tay "thầy gà" cừ khôi của các phường hát ghẹo (hát phường vải) trong vùng. Buổi hát phường vải nào mời ông tham dự là buổi đó sôi nổi, thi vị lắm. Ông ứng biến những câu thơ tại cuộc vui nhanh và rất hóm.

Người lớn kể lại rằng: Một hôm ông còn đang giã gạo (kiểu giã gạo bằng chày đạp ở quê ông) thì có một cô gái trong làng đến nhờ ông làm cho một bài thơ để gửi cho người chồng đi xa có biểu hiện nhạt tình với vợ. Cô gái xin nhận giã gạo giúp ông, để ông làm thơ cho mình. Và khi cối gạo giã vừa xong thì bài thơ cũng hoàn thành. Đó là bài thơ: Gửi chồng ở Cao Miên. Khi đọc xong bài thơ, cô gái mừng quá cảm ơn ông rối rít. Nhờ bức thư tình bằng thơ đậm đà tình cảm đó mà tình yêu của hai người lại thắm thiết như xưa. Ông giữ chức vụ Lý trưởng, Hương bộ của xã;  mỗi lần đi họp huyện, từ quê phải đi bộ đến huyện lỵ cách xa 15-20 km, nhưng họp xong thế nào ông cũng dành ra vài bốn ngày đi đọc thơ, bình thơ, hát phường vải với bạn bè ở Làng Quỳnh, Như Bá, Ngọa Trường và Phú Nghĩa- Phú Nghĩa là một làng văn hóa dân gian đặc sắc. Có lúc hứng lên, ông vào tận Nam Đàn, Nghi Xuân (Hà Tĩnh) để được thỏa chí sự yêu thích của mình.  Thế mới có chuyện, ông bị bố mình cho một bài học nhớ đời vì làm chức sắc của làng của xã mà nhiều khi đi đọc thơ, bình thơ quên cả công việc chung. Nghe đâu ông cũng đã có một mối tình đẹp với một cô gái làng Phú Nghĩa, xinh xắn, hát hay đã rất mê thơ ông.

Trong gia đình ông có hai người em cũng làm thơ và yêu thơ là ông Trần Hữu Thanh và ông Trần Hữu Thợi. Hiện còn lưu giữ một số bài thơ, câu đối của hai ông. Có những đêm mấy anh em ngồi đọc thơ, đàm đạo văn chương say sưa cho đến tàn canh.

Là một nhà thơ dân gian, nhưng ông Trần Hữu Nghiêm cũng có nhiều biệt tài riêng như bẫy chim, đơm đó bắt cá khe, thả diều, săn thú. Săn thú vừa có sản phẩm thịt vừa giúp dân bảo vệ tính mạng, mùa màng, của cải khỏi bị thú dữ phá hoại. Nhà ông có mấy vàng lưới săn và một phường săn khá mạnh. Nên từ thực tiễn đó mà ông có bài thơ: Tam Lễ săn khái. Những năm của thập niên 40, 50 và đầu thập nên 60 của thế kỷ XX, khi cuộc chiến tranh bằng không quân của giặc Mỹ ở miền Bắc chưa xẩy ra, thì mỗi chiều hè, khi gió nam nồm thổi là diều của ông và các bạn trong thôn, trong xã bay vút  lên trời cao, tiếng sáo du dương, trầm bỗng như làm vợi bớt đi cái oi nồng nắng gió ngày hè và cũng là hình ảnh của một làng quê thân thương, yên ả, thanh bình.

Những bài thơ, bài vè của ông Trần Hữu Nghiêm mộc mạc, dung dị, sinh động đã rất tự nhiên nhập vào những làn điệu hát ví, hát dặm ngọt ngào của các bà, các mẹ, các chị ru cháu, ru con, ru em; đã nuôi lớn những tâm hồn tuổi thơ của nhiều thế hệ của quê hương. Nhiều bài thơ, bài vè đó được các anh chị thanh niên làm nền cho các buổi hát phường vải... Và cũng với hình thức xuất bản độc đáo như vậy nên thơ ông có sức hấp dẫn và được lưu truyền rộng rãi trong công chúng một thời gian khà dài.

Ngày nay, các bà, các mẹ, các chị  rất ít người hát ru con trẻ bằng những bài thơ, bài vè, ca dao, các làn điệu dân ca. Do đó những tác phẩm thơ của ông Trần Hữu Nghiêm cũng dần dà bị quên lãng theo năm tháng và hiện tại chỉ còn lưu lại trong trí nhớ của những người cao tuổi. Để lưu giữ những tác phẩm của người bác kính yêu, hai người cháu của ông đã phối hợp với nhau, đi tìm gặp những người cao tuổi trong thôn, trong xã để sưu tầm thơ ông, và đã biên soạn được một tập thơ: Thơ Trần Hữu Nghiêm. Tập thơ được Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành năm 2007. Sau khi Tập thơ xuất bản, được con cháu và những người yêu thơ trong thôn, trong xã đón nhận rất nhiệt thành. Rất tiếc là nhiều bài thơ Đường luật, bài phú, câu đối của ông đã thất truyền.

Thơ ông Trần Hữu Nghiêm thường mở đầu bằng một số câu lục bát tùy theo tâm thế, diễn biến của câu chuyện và sau đó là thể thơ ngũ ngôn. Cũng có một số bài làm theo thể thơ 4 chữ, 7 chữ, 8 chữ và thơ Lục bát. Thơ viết ở thể Ngũ ngôn là những bài thơ, bài vè truyền thống của các tác giả ở nông thôn hồi bấy giờ. Viết theo thể lục bát kết hợp ngũ ngôn với dụng ý dễ nhớ, dễ thuộc và cũng để những người sử dụng hát các làn điệu dân ca ví dặm. Thơ ông Trần Hữu Nghiêm là sự phản ảnh sinh động của một vùng nông thôn Việt Nam trước và sau cách mạng tháng 8/1945. Nội dung chủ yếu là ca ngợi tinh thần thượng võ, tinh thần đoàn kết trong làng, trong xã để đấu tranh chống và khắc phục thiên tai địch họa; nói về đạo nghĩa ở đời, lên án nhưng thói hư tật xấu trong xã hội; đồng thời dũng cảm tố cáo sự bóc lột tàn nhẫn của chủ đồn điền Pháp đóng trên địa bàn xã. Những bài thơ viết sau Cách mạng tháng tám tập trung vào các chủ đề: Tố cáo giặc Pháp ném bom giết hại dân lành; ủng hộ kháng chiến; ca ngợi các chiến sỹ quân đội chịu đựng gian khổ, hy sinh chiến đấu ngoài mặt trận, ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh...

Về nghệ thuật, tác giả khéo sử dụng các điển tích, thành ngữ, lối ví von, liên tưởng, đối ý, đối chữ làm cho ý thơ, câu thơ sinh động, thâm thúy. Có thể dẫn ra một số câu tiêu biểu như:

Ai quay máy vận tàu/ Mà chạy Tần sang Sở. Lời thề hẹn non sông/ Nghĩa Phan - Trần giao ước. Rồi: Cù lao chi đức; phu phụ chi tình; Bách niên hồ thủ ...

          Có những câu thơ giàu hình tượng và khá hay:

          Thiếp có chàng như ruộng có bờ

          Để khuya sớm giữ gìn non nước

                             (Thư gửi chồng ở Cao Miên)

          Gợt ngọn đèn trong bóng ngẩn ngơ

          Muốn trò chuyện tờ mờ vách ngọc

          Nghe gà gáy mà lòng tơ tưởng dục

          Lắng bên tai  như gẩy khúc sầu trường

                             (Gửi chồng đi lính nước nhà)

          Nước nhà gặp  buổi can qua

          Thương người chiến sỹ đường xa dặm ngàn

                                       (Nước nhà gặp buổi can qua)

Bài thơ thành công nhất của ông là bài Tam Lễ săn khái; kể về một cuộc vây bắt hổ dữ từ trong rừng về quấy phá thôn xóm; bài thơ đã được giới thiệu trên Tạp chí Văn nghệ Nghệ Tĩnh, tuyển in trong tuyển tập: Dân ca Nghệ Tĩnh và tuyển tập: Thơ Quỳnh Lưu bốn thế kỷ;  Bài Đơn kiện giặc Pháp ném bom chợ Ngò, được in ở bản tin Quỳnh Lưu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Với những đóng góp của ông Trần Hữu Nghiêm cho văn học dân gian tỉnh nhà, ông được công nhận là Nghệ nhân dân gian và được Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An vinh danh: Nhân vật Xứ Nghệ.

                                                          9/2018

    

 

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Tôn sư, trọng đạo và phong trào hiếu học xưa - nay trên vùng đất lúa (6/12/2019)
Bộ toàn thư về Quỳnh Lưu (6/12/2019)
Quá trình hình thành chợ Cầu Giát (5/12/2019)
Bảo vệ, khai thác và phát triển tốt cây dược liệu ở Nghệ An (5/12/2019)
Giáo sư Hà Văn Tấn và những trăn trở còn lại (3/12/2019)
Dòng họ quan trạng trên đất Yên Thành (3/12/2019)
Nguyễn Sỹ Sách - Một chiến sĩ cộng sản kiên trung (3/12/2019)
Đồng chí Nguyễn Duy Trinh với cách mạng Việt Nam và quê hương Nghệ An (3/12/2019)
Thử nghiệm tour du lịch nông nghiệp khởi nghiệp ở miền Tây Nghệ An (29/11/2019)
Văn thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (5/11/2019)
Người một đời tâm huyết với xứ Nghệ (5/11/2019)
PGS. Ninh Viết Giao - Người nặng lòng với văn hóa dân gian xứ Nghệ (5/11/2019)
NGUYỄN CẢNH HOAN(1) (23/10/2019)
Về Hưng Tân nghe hát Ví, Giặm (11/10/2019)
Nguyễn Trung Phong - Người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm (11/10/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 226 | Tất cả: 1,958,474
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp