DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Bác Hồ đã dạy "Dân ta phải biết sử ta"
Tin đăng ngày: 9/9/2019 - Xem: 416
 

Trương Quế Phương

Để học tập và phát huy truyền thống đấu tranh của ông cha ta trong cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc, sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh (19-5-1941), ngày 1-8- 1941 ngày tuyên truyền của Đảng), Bác Hồ đã viết tác phẩm “Lịch sử nước ta” để làm tài liệu tuyên truyền cho cán bộ Việt Minh. “Lịch sử nước ta” sáng tác theo thể thơ lục bát, gồm 210 câu đã trở thành cẩm nang của cán bộ Việt Minh trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ đi xa (1969 - 2019), khi toàn Đảng, toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động: Học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài viết này xin cung cấp thêm một số tài liệu lịch sử về những lời dạy của Người, đối với mỗi người dân đất Việt.

*    *   *

Sau 30 năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, mùa Xuân năm 1941, Bác Hồ đã trở về Pác Bó, Cao Bằng, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Bác rất chú trọng công tác tuyên truyền, nên đã cho ra tờ báo “Việt Nam độc lập”. Vào ngày 1-8-1941, ngày kỷ niệm 11 năm thành lập Ban tuyên truyền của Đảng, Bác đã viết tác phẩm Lịch sử nước ta (1)  do cơ quan Việt Minh Tuyên truyền Bộ xuất bản vào tháng 2 - 1942. Mục đích Bác Hồ viết báo Việt Nam độc lậpLịch sử nước ta cốt làm cho dân ta noi gương cha ông, đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật, giành tự do, độc lập cho dân tộc Việt Nam. Kẻ thù chính của Việt Nam là phát xít Nhật, Pháp và bọn tay sai. Tố cáo tội ác dã man, kịp thời vạch trần những âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù trên mọi lĩnh vực. Công tác tuyên truyền nhằm khích lệ tinh thần yêu nước của toàn dân, cổ vũ, động viên mọi người hăng hái tham gia vào các Hội cứu quốc: Nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, thanh niên cứu quốc, nhi đồng cứu quốc, phụ lão cứu quốc. Tuyên truyền về tác phẩm lịch sử nước ta còn có tác dụng tốt trong việc giáo dục tinh thần yêu nước, phát huy lòng tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc cho cán bộ và nhân dân, hiểu đúng tinh thần, chủ trương của Mặt trận Việt Minh. Từ đó mà động viên sức người, sức của và tinh thần đoàn kết toàn dân, hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh, chớp thời cơ để giành độc lập cho Tổ quốc.

Diễn ca Lịch sử nước ta được Hồ Chí Minh viết với mục đích làm tài liệu học tập cho cán bộ Việt Minh trong các lớp huấn luyện ở chiến khu thời kỳ Mặt trận Việt Minh. Theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, tập diễn ca Lịch sử nước ta là tài liệu rất quý cho công tác tuyên truyền và phổ biến rộng rãi cho nhân dân cả nước ta, từ nông thôn đến thành thị, từ trẻ em chăn trâu bò đến các cụ phụ lão. Nó có tác dụng to lớn trong việc giáo dục và động viên mọi người học tập và phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, góp phần chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc vào tháng Tám năm 1945.

Để cho Tập diễn ca Lịch sử nước ta được tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong nhân dân, khi đại đa số nhân dân ta còn mù chữ, Bác Hồ đã sử dụng phương pháp phổ biến và tuyên truyền miệng. Tuyên truyền bằng miệng là người này nghe xong rồi nói lại cho người khác nghe. Chỗ nào chưa hiểu cũng dùng miệng nói lại để giải thích cho người nghe hiểu. Thời kỳ Mặt trận Việt Minh, cán bộ làm công tác tuyên truyền còn rất ít ỏi, nhiều người chưa biết đọc, biết viết. Vì yêu nước, kính phục Hồ Chí Minh mà đi theo Mặt trận Việt Minh để đánh Pháp, đuổi Nhật. Bác Hồ muốn viết bằng thơ lục bát để mọi người dễ học, dễ thuộc để rồi nhân rộng thêm đội ngũ cộng tác viên bằng miệng. Người này truyền cho người khác và mọi người cùng thuộc và một sự rất tự nhiên là chính những người đi đọc cho người khác nghe đã nhớ và thuộc hàng trăm câu thơ Lịch sử nước ta của Bác Hồ. Nghiễm nhiên họ đã trở thành một cộng tác viên tuyên truyền của cách mạng. Phương pháp tuyên truyền miệng này rất có hiệu quả. Ngay từ những năm đầu mới thành lập (1930), Ban tuyên truyền của Đảng được coi trọng số một. Phương pháp tuyên truyền miệng được phổ biến rất hiệu quả. Đại hội Đại biểu Tỉnh Đảng bộ Nghệ An lần thứ Nhất (tháng 10- 1930), Trưởng Ban tuyên truyền là Thường vụ Tỉnh ủy (đồng chí Hoàng Trần Thâm) đứng vị trí thứ hai, sau Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Tiềm. Đến khi đồng chí Hoàng Trần Thâm đi tuyên truyền trong cuộc mít tinh ở Hạnh Lâm bị địch bắn trọng thương, lần lượt các đồng chí Hoàng Văn Tâm, Đặng Chánh Kỷ lên thay. Những bài thơ “Bài ca cách mạng” được tuyên truyền phổ biến rộng rãi khắp các huyện, khích lệ tinh thần đấu tranh của nhân dân, góp phần làm nên cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh long trời chuyển đất.

Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống và phát huy hiệu quả tuyên truyền bằng thơ của cha ông. Người đã soạn ra tài liệu tuyên truyền bằng thơ lục bát có nội dung theo biên niên của lịch sử nước ta. Theo dòng lịch sử, Bác đã ca ngợi những trang sử vẻ vang của dân tộc từ thời Hồng Bàng dựng nước đến năm 1942, khi tác phẩm ra đời. Người ca ngợi sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc của các anh hùng hào kiệt. Bác Hồ khẳng định truyền thống quý báu của dân tộc ta là: yêu nước và đoàn kết. Truyền thống đó đang được nhân dân ta phát huy trong giai đoạn chống Pháp với những tấm gương anh hùng tiêu biểu. “Lịch sử nước ta” của Bác Hồ có tác dụng to lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, góp phần cổ vũ nhân dân đoàn kết, hăng hái tham gia cách mạng và tăng thêm lòng tin vào thắng lợi của cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Sau đây là một số trích đoạn trong Lịch sử nước ta:

“Dân ta phải biết Sử ta,/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam./ Kể năm hơn bốn ngàn năm,/  Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa./ Hồng Bàng là tổ nước ta./ Nước ta khi ấy gọi là Văn Lang./ Thiếu niên ta rất vẻ vang,/ Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời./ Tuổi tuy chưa đến chín mười,/ Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương./ An Dương Vương thế Hùng Vương / Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân./ Nước Tàu cậy thế đông người,/ Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam,/ Quân Tàu nhiều kẻ tham lam./ Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?/ Hai Bà Trưng có đại tài,/ Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,/ Ra tay khôi phục giang san,/ Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta./... Phụ nữ ta chẳng tầm thường,/ Đánh Đông dẹp Bắc làm gương để đời,/...   (2).                                                   

Sau thắng lợi, vì không biết đoàn kết, nước ta lại bị các thế lực phương Bắc xâm lược. Nhờ có Lý Bôn, văn võ song toàn, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân Tàu, lập nên triều đại nhà Lý. Năm 722, vì thương dân chịu cảnh lầm than, Mai Thúc Loan lại dấy cờ khởi nghĩa, xây thành Vạn An ở núi Đụn, Nam Đàn, đánh đuổi quân xâm lược nhà Đường, lên làm vua xưng vương là Mai Hắc Đế. Năm 939 “Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,/ Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm”. Thời kỳ đất nước loạn 12 sứ quân, nhờ có Đinh Bộ Lĩnh cầm quân dẹp loạn, lên ngôi Hoàng đế lập nên triều đại nhà Đinh. Kế tiếp các thời đại từ Đinh, đến Lê sang Lý, Trần và hậu Lê, thời nào đất nước ta cũng có hào kiệt, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc, giành độc lập cho nước nhà. Hồ Chí Minh đã viết những vần thơ lục bát, ca ngợi những chiến công oanh liệt của các anh hùng: “Lý Thường Kiệt là hiền thần,/ Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành./ Tuổi già phỉ chí công danh,/ Mà lòng yêu nước trung thành không phai... Nhà Trần thống trị giang san,/ Trị yên trong nước, đánh tan giặc ngoài… Dân ta nào có chịu hèn,/  Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu./ Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,/ Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,/ Mênh mông một giải Bạch Đằng,/ Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh…”.

Nhà Trần trị vì thiên hạ được 12 đời, đến Trần Phế Đế thì suy vong. Hồ Quý Ly lên ngôi, tuy có nhiều cải cách đất nước, nhưng thế lực chưa đủ mạnh, bọn xâm lược nhà Minh lại kéo sang xâm chiếm nước ta. Giữa thế kỷ 15, Lê Lợi đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa:

 “… Mười năm sự nghiệp hoàn thành,/ Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan./ Vì dân hăng hái kết đoàn,/ Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng./ Vua hiền có Lê Thánh Tông,/ Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành…”. Khi nhà Mạc suy vong, vua Lê, chúa Trịnh tranh nhau bá quyền, Hồ Chí Minh đã viết:

Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,/ Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng./ Dân gian có kẻ anh hùng,/ Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,/... Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,/  Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,/ Ông đà chí cả mưu cao,/ Dân ta lại biết cùng nhau một lòng/ Cho nên Tàu dẫu làm hung,/ Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà....”.   

Khi bị nghĩa quân Tây Sơn đuổi, Gia Long nhà Nguyễn đã bạc nhược cầu cứu quân Pháp, với mộng tưởng giữ được ngai vàng đã mục rỗng. Việc làm đê hèn của Nguyễn Ánh đã mở đường cho thực dân Pháp vào xâm lược nước ta. Sự kiện lịch sử mất nước đó được Bác Hồ khái quát bằng mấy câu thơ với bao uất hận và oán trách:

Nay ta mất nước thế này/ Cũng vì Vua Nguyễn rước Tây vào nhà,/ Khác gì cõng rắn cắn gà,/ Rước voi dày mả, thiệt là ngu si./ Từ năm Tân Hợi trở đi,/ Tây đà gây chuyện thị phi với mình… Năm Tự Đức thập nhất niên,/ Nam kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây./ Hăm lăm năm sau trận này,/ Trung kỳ cũng mất, Bắc kỳ cũng tan/ Ngàn năm gấm vóc giang san,/ Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!/ Tội kia càng đắp càng đầy,/ Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng… ”.   

Bất bình với sự bạc nhược bán nước cầu vinh của vua quan triều Nguyễn, một số quan lại thanh liêm, yêu nước thương dân đã đứng lên theo Hịch Cần vương của Vua Hàm Nghi, rời kinh thành, phất cờ khởi nghĩa. Truyền thống yêu nước đấu tranh chống thực dân Pháp của dân tộc ta được Bác Hồ chứng minh qua các phong trào đấu tranh từ Văn thân, Cần vương đến Đông du do cụ Phan Bội Châu khởi xướng. Bằng những câu thơ lục bát dễ nhớ, dễ thuộc, Bác Hồ ngợi ca bao anh hùng liệt sĩ trong từng giai đoạn lịch sử đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống Pháp, tô đẹp thêm trang sử vàng dân tộc:

Nước ta nhiều kẻ tôi trung,/ Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương./ Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,/ Cùng thành còn mất làm gương để đời./ Nước ta bị Pháp cướp rồi,/ Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;/ Trung kỳ đảng Phan Đình Phùng,/ Ra tay đánh Pháp vẫy vùng một phương./ Mấy năm ra sức Cần vương,/ Bọn ông Tán Thuật nối đường Hưng Yên,/ Giang san độc lập một miền,/ Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành./ Anh em khố đỏ khố xanh,/ Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,/… Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An, Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu./ Nam kỳ im lặng đã lâu,/ Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây./ Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!/ Kéo cờ khởi nghĩa đánh Tây bạo tàn./ Xét trong lịch sử Việt Nam,/ Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng./ Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,/ Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên….”. 

Bằng những vần thơ xúc động lòng người, Bác Hồ đã phân tích giảng giải cho nhân dân ta hiểu vì sao bị mất nước và bây giờ phải làm gì để cứu nước khi thời cơ đã đến:

Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,/ Vì ta chỉ biết lo yên một mình./ Để người đè nén xem khinh,/ Để người bóc lột ra tình tôi ngươi !/ Bây giờ Pháp mất nước rồi,/ Không đủ sức, không đủ người trị ta./ Giặc Nhật Bản thì mới qua,/ Cái nền thống trị chưa ra mối mành./ Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,/ Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà./ Ấy là nhịp tốt cho ta/ Nối lên khôi phục nước nhà tổ tông./ Người chúng ít, người mình đông,/ Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên./ Hỡi ai con cháu Rồng Tiên! Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau./ Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,/ Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn./ Người giúp sức, kẻ giúp tiền,/ Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta./ Trên vì nước, dưới vì nhà,/ Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh/ Chúng ta có hội Việt Minh,/ Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh,/ Mai sau sự nghiệp hoàn thành,/ Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng,/ Dân ta xin nhớ chữ đồng:/ Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!”.

Sau khi đã viết xong Lịch sử nước ta vào dịp Tết năm Nhâm Ngọ (1942), trước khi cho phát hành phổ biến diễn ca Lịch sử nước ta, Hồ Chí Minh đã viết bài đăng lên Báo Việt Nam độc lập(3) số 117 ra ngày 1-2-1942 với nội dung“Nên học sử ta”:

“Dân ta phải biết sử ta,/  Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” (1)- Dân ta phải biết sử ta, sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yêu dân trị nước tiếng để muôn đời.

 2) Trước khi vua Gia Long bán nước ta cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập. Đời nào cũng có người anh hùng mưu cao võ giỏi đứng ra đoàn kết nhân dân đuổi giặc cứu nước.

Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi  và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập.

Người già như ông Lý Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn đánh Đông dẹp Bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân.

Thiếu niên như Đổng Thiên Vương chưa đến 10 tuổi mà đã ra tay cứu nước, cứu nòi. Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên.

Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang san.

Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa. Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta được tự do, độc lập, lẫy lừng Á Đông.

Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều; con Lạc cháu Hồng hóa làm trâu ngựa.

Từ đó đến nay, biết bao nhiêu người oanh liệt đứng lên khởi nghĩa đánh Tây như ông Phan Đình Phùng, ông Hoàng Hoa Thám vân vân.

3)-  Sử ta dạy cho ta bài học này:

Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do.

Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.

Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây - Nhật, khôi phục lại độc lập, tự do”.

Nhờ có tác phẩm Lịch sử nước ta của Bác Hồ mà công tác tuyên truyền thời kỳ Việt Minh đạt đến đỉnh cao. Bài diễn ca trên 200 câu mà không chỉ có cán bộ Việt Minh thuộc mà dân ta từ trẻ đến già thời kỳ ấy đã truyền miệng cho nhau, ai cũng thuộc. Diễn ca Lịch sử nước ta của Bác Hồ đã vượt cả thời gian và không gian, truyền vào tận các nhà tù như Nhà lao Vinh, ngục Kon Tum, Buôn Ma Thuột, Côn Đảo,… tiếp thêm sức mạnh và niềm tin cho các chiến sĩ cộng sản bền gan tranh đấu. Bởi ý nghĩa trên mà cho đến nay,  Lịch sử nước ta của Bác Hồ muôn và kính yêu vẫn còn nguyên giá trị trong công tác tuyên truyền.

 

Chú thích 

(1). Kèm theo Bộ Tuyên truyền của Việt Minh xuất bản và phát xuống cơ sở vào tháng 2-1942.  Hiện nay Bảo tàng cách mạng Việt Nam đang lưu giữ một số bản in cuốn lịch sử nước ta xuất bản vào những 1942, 1947 và 1949. Các bản in sau được Bác Hồ chỉnh sửa và bổ sung.

(2) -  Hồ Chí Minh toàn tập. T3. 1930- 1945. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà nội 2000. Tr 221.

(3) - Đăng trên Báo Việt Nam độc lập, số 117, ngày 1-2-1942. Có đối chiếu Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 38. NXB Khoa học Xã hội năm 2000.    

 

Diễn đàn khác:
Không thể im lặng trong phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (11/10/2019)
Tác động của sự bùng nổ thông tin truyền thông đến nhận thức xã hội của người dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An (11/10/2019)
Phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và các hướng công nghệ ưu tiên ở nước ta trong bối cảnh mới hiện nay (25/9/2019)
Nhìn lại 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở Nghệ An (12/9/2019)
Phải chăng hoạt động của vị trạng nguyên người Nghệ đã để lại dấu ấn trong câu thơ của đức vua Trần Nhân Tông? (12/9/2019)
Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, sự cần thiết thành lập khu dữ trữ tự nhiên Puxailaileng miền Tây Nghệ An (12/9/2019)
Bàn tròn tháng 8: 70% bài thi lịch sử dưới điểm trung bình: Nguyên nhân và Giải pháp (9/9/2019)
Vai trò của Bảo tàng trong giáo dục lịch sử đối với học sinh phổ thông (9/9/2019)
Bác Hồ đã dạy "Dân ta phải biết sử ta" (9/9/2019)
Việt Nam trong cục diện kinh tế thế giới (21/8/2019)
Báo chí và mạng xã hội - Cạnh tranh hay hợp lực? (9/7/2019)
Nho giáo và chữ Lễ có ‘trói buộc con người’ không? (27/6/2019)
Đã đến lúc phải đổi mới trong nghiên cứu KHXH&NV (27/6/2019)
“Vai trò của báo chí trong truyền thông về chuẩn mực văn hoá ứng xử”: Ở góc độ này, báo chí làm còn yếu (18/6/2019)
Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (3/6/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 234 | Tất cả: 1,917,965
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp