ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện - Người được lập đền thờ khi còn sống
Tin đăng ngày: 9/9/2019 - Xem: 93
 

Quảng Phước

Ban Quản lý Di tích tỉnh Nghệ An

Lập đền thờ phụng những người có công với dân với nước là một việc làm thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay. Dân gian có câu “có công dân lập đền thờ, có tội dân đái ngập mồ thối xương” điều đó thể hiện rõ quan điểm “công tội phân minh” của nhân dân ta, có công thì dân kính trọng, có tội thì dân khinh bỉ. Hi hữu có những trường hợp được nhân dân lập đền thờ khi đang còn sống như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thức Tự… Đền thờ khi người đó còn sống được gọi là “sinh từ”. Việc một người được dân chúng lập “sinh từ” là việc “hiếm có xưa nay”. Rất nhiều người được lập đền thờ sau khi đã chết nhưng số người được lập đền thờ sống thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện là một trong những người có được vinh dự như vậy. Ông được dân làng khắc bia ghi công, lập đền thờ khi còn sống. Sau khi chết được suy tôn là phúc thần và triều đình ban tặng sắc phong giao cho dân xã phụng sự.  

Upload Long ngai, bài vị của ông Nguyễn Văn Viện tại nhà thờ

Theo các tài liệu lưu tại di tích như gia phả(1), văn bia, văn cúng và một số tài liệu khác cho biết: Ông Nguyễn Văn Viện sinh vào khoảng đầu thế kỷ XVIII, là hậu duệ đời thứ 2 của họ Nguyễn Văn làng Hoành Sơn, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương. Từ nhỏ, ông Nguyễn Văn Viện đã là người thông minh, ham học, gia đình lại có điều kiện khá giả nên ông được cha mẹ cho học hành đến nơi đến chốn. Lớn lên ông tinh thông cả nho y lý số, gia phả họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn ghi lại như sau: “Ông Nguyễn Văn Viện thông minh học giỏi, nho y lý số đều thông(2). Sau một thời gian dùi mài kinh sử, ông dự kỳ thi Hương và trúng Sinh đồ. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Huyện thừa(3) huyện Trung Sơn(4) (huyện Quế Phong ngày nay). Một thời gian sau, ông được “thăng tiến chức Cẩn sự tá lang Đồng Tri phủ phủ Trường Khánh(5)  tước Phúc Lâm bá, hàm Hiển cung Đại phu”(6). Bia đá dựng tại Sinh từ của ông lập năm Quý Dậu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14 (1753) cũng chép “làng ta có ông Nguyễn Văn Viện, làm chức Đồng Tri phủ ở phủ Trường Khánh”.   

Làm quan to nhưng ông Nguyễn Văn Viện không cậy thế, hách dịch, cường quyền. Vợ chồng ông sống rất chan hòa, gần gũi với nhân dân, thường tìm cách giúp đỡ mọi người ổn định cuộc sống, xây dựng xóm làng cường thịnh. Bia đá lưu tại di tích có đoạn chép như sau: “Vợ chồng quan Đồng Tri phủ là dòng dõi danh giá, bậc trưởng giả hiếu hữu trong làng, gia đình làm việc nghĩa, một lòng giúp xóm làng phồn thịnh, tài vật bao dung, tính chẳng cầu cạnh người khác, thành kính thờ thần, động tịnh tấm lòng như tại”. Không những vậy, ông còn là người hành hiệp trượng nghĩa, cứu bần chửng tế khắp cả Nghệ Tĩnh, gia phả còn ghi như sau: “Khoảng niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786), đại hạn sâu keo, dân bị chết đói… ông xuất tiền mua lương thực cấp phát cứu đói… hoặc khi cùng người nhà là Nguyễn Viết Oánh đi dạo khắp hai xứ Nghệ Tĩnh thấy những kẻ chết đói ở đường, mua hòm và vải chôn cất, hỏi biết xã thôn họ tên chép vào trong sổ, đem về rước sư lập đàn chay siêu độ”(7). Ông luôn sẵn sàng giúp mọi người bằng một tấm lòng chân tình như đối với người thân của mình. Gặp những năm mất mùa, đói kém dân làng không có tiền để nộp thuế, ông đã bán ruộng để có tiền nộp thuế thay cho cả làng “Có năm đồng ruộng bị ngập lụt, người dân mất mùa, đói kém ông đã bán ruộng của Bà Cả ở thôn Trung Thượng lấy 100 quan tiền để nạp thay thuế lệ cho người dân”(8). Những việc làm ấy khiến dân làng hết sức cảm kích.  

 Làng Hoành Sơn thường bị hỏa hoạn gây thiệt hại lớn về người và của khiến dân làng hết sức lo lắng. Ông Nguyễn Văn Viện là người học rộng, thông hiểu cả“nho y lý số” nên am tường phong thủy, ông đã cúng 5 mẫu tư điền để trồng cây trấn yểm long mạch nhằm hóa giải nạn hỏa hoạn, về sau nhân dân thường gọi khu vực đó là “Vệ Tam Bảo”(9). Theo gia phả họ Nguyễn Văn cho biết: “Thôn ngài ở thường bị hỏa tai, cứ ba năm phát một lần, nhà dân cháy sạch, ông xuất năm mẫu tư điền, trồng trọt cây cối, gọi là vệ Tam Bảo, ý để ngáng hỏa tai, lại đào ngòi dèm nước sinh thủy quanh quẩn trước mặt dân cư, ý muốn cho dân thôn trù phú. Lại đắp bờ lũy từ vệ Tam Bảo đến bờ đê hói trồng các bụi tre xanh để trấn nạn hỏa tai, từ ấy dân làng mới có nhà cửa yên ổn”(10). Quả nhiên, sau khi cây cối được trồng xong thì nạn hỏa hoạn không còn tiếp diễn khiến cho nhân dân yên tâm phấn khởi làm ăn, cuộc sống yên ổn, xóm làng ngày thêm trù phú. Không những trồng cây để ngăn hỏa tai trong làng, gia phả còn cho biết thêm, ông đã thuê người trồng cây da dọc đường thiên lý từ cung Voi (Hà Tĩnh) đến Tĩnh Gia (Thanh Hóa) để người đi đường có nơi trú chân nghỉ ngơi những lúc mưa nắng. 

Không chỉ là một vị quan thanh liêm, giản dị, đức độ, giàu lòng nhân ái mà ông còn là một người rất chú trọng việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Ông cùng gia đình đã hằng tâm công đức xây đình làng Hoành Sơn để làm nơi thờ Thành Hoàng làng(11) và là nơi dân làng hội họp, xây dựng đền Cả(12) để thờ thần, nơi gửi gắm tâm linh của cả làng. Điều này được gia phả chép như sau: “Lại làm ba gian đền, cấp ruộng học điền, lập một tòa đình, cúng đồ tế khí”(13). Đồng thời, để có kinh phí cho thờ cúng ở các đền miếu, giúp dân làng không phải đóng góp, ông đã cúng ruộng, ao cho làng làm “tế điền” lấy hoa lợi phục vụ vào các ngày lễ, tết “hàng năm cúng tế xôi thịt thì phải đặt tế điền, ao cá để tiện việc cúng cấp lâu dài”(14). Theo bản hương ước của làng(15) đang được lưu tại di tích thì ông còn có công trong việc biên soạn điều lệ (hương ước) của làng. Thấy dân tình đi lại khó khăn, ông đã xuất tiền sửa sang cầu quán, đường sá giao thông, gia phả họ chép như sau: “Trước vâng phúc nhà, sau nối chi cha, sửa sang cầu quán…”.  

Để tri ân công đức của ông, nhân dân làng Hoành Sơn đã xây dựng Sinh từ, lập bia đá ghi công lao tại núi Cấm. Việc ông được dân làng xây dựng Sinh từ chứng tỏ công đức của ông đối với quê hương, làng xóm vô cùng lớn lao. Đây cũng là việc làm “xưa nay hiếm”. Bia đá được làm từ đá xanh, cao 1,5m (bao gồm cả đế) được cấu tạo bởi 2 phần đế bia (cao 0,3m, rộng 0,82m, dày 0,26) và thân bia (cao 1,2m, rộng 0,78m,) trán bia hình bán nguyệt. Nội dung bia đá như sau(16)

Làng Hoành Sơn, xã Trường Mỹ, tổng Thuần Trung, huyện Nam Đường, phủ Anh Đô, Quan viên thiên hộ Nguyễn Văn, Hương lão Nguyễn Kim Tửu, Phan [], Đội trưởng Nguyễn Đình Cửu, Sinh đồ Nguyễn Công Đại, Bách hộ Trương Văn Thông, Xã trưởng Nguyễn Thự, Trùm tổng tri Phan Bân, Cai hợp Nguyễn Doãn Cung, Phó sở Nguyễn Đức Lung, Thủ hợp Nguyễn Doanh, Nhiêu phu Nguyễn Đình Diễn, Đội trưởng Nguyễn Đoan, Nhiêu nam Nguyễn Doãn Tiêm, Khán thủ Nguyễn Đức Dật, Từ đường: Nguyễn Đình Truân, Nguyễn Viết Oánh, Nguyễn My; Hộ hạng: Phan Vực, Phan Chư, Trương Văn Huy, Trương Văn Niêm; Trùm trưởng Trương Văn Trí, cùng toàn thể trên dưới trong làng.

Kính nghe: Làm thiện ở người, phúc thiện ở trời, máy tạo hóa lồng lộng, cảm đức của thần, hưởng ơn của thần, nay làm việc báo đáp rất thành kính sâu xa. Làng ta có ông Nguyễn Văn Viện làm chức Đồng Tri phủ ở phủ Trường Khánh, chính thất là Trần Thị Cảnh, kế thất là Nguyễn Thị Duyên, con trai Nguyễn Đạt Thao, Nguyễn Đạt Ổi, Nguyễn Đạt Lỗi, Nguyễn Đạt Trang, con gái Nguyễn Thị Thích/Đích.

Nay làng ta nghĩ rằng vợ chồng quan Đồng Tri phủ là dòng dõi danh giá, bậc trưởng giả hiếu hữu trong làng, gia đình làm việc nghĩa, một lòng giúp xóm làng phồn thịnh, tài vật bao dung, tính chẳng cầu cạnh người khác, thành kính thờ thần, động tịnh tấm lòng như tại. Khắp trong làng xóm già trẻ đều nhờ ơn, xử sự trong hương thôn đều theo việc thiện đến cùng, phân phát tiền tài chẳng hề keo lận. Muốn xiển dương sự linh nghiêm của thánh thần thì trước phải xây dựng đền miếu to rộng. Muốn hàng năm cúng tế xôi thịt thì phải đặt tế điền, ao cá để tiện việc cúng cấp lâu dài. Một lòng chí thành nên làm vậy, trăm phúc do đó mà bền vững, lại sinh con trai, nhiều lần ứng mộng hùng bi(17). Tự cầu nhiều phúc truyền đời cho con cháu lâu dài chẳng phải là do thân làm việc thiện đó sao. Gia đình hòa thuận với xóm làng. Do vậy, làng ta nhớ đến công lao và đức độ của ông, nghĩ đến việc báo đáp, đồng lòng yêu mến, cùng bầu [vợ chồng ông] làm Hậu thần để [sau này] phụng sự, nhất nhất đều theo nghi thức. Cho nên lập bia đá này để lưu truyền muôn đời. 

Vậy nên lập bia. 

Làng ta giao ước cúng tế giỗ chạp các tiết như sau: 

Hễ hàng năm có ba lễ giỗ của chồng vợ. Mỗi giỗ lễ vật gồm lợn, xôi, trầu, rượu chuẩn giá cổ tiền hai quan năm mạch. Trong ngày ấy, [chức dịch] khăn áo chỉnh tề, lễ vật tinh khiết, buổi sáng tới nhà thờ họ làm văn kính tế, tế xong lễ vật hoàn lại cho làng, còn thủ lợn biếu gia trưởng để thể hiện sự trọng nghĩa.  

Bản thôn lập Am đường hai gian, bia đá một tòa ở xứ Cồn Lan. Về sau Am đường che bia bị hư nát, làng ta xây dựng sửa sang lại. Hễ mỗi năm hai xã và hàng năm mỗi lễ tiết ra miếu, làng ta kính tế sáu bàn. Còn như hai lễ Thường tân (cúng cơm mới) và trần y (thay áo) thì tùy theo ít nhiều [của từng năm]. Hễ đến ngày tế lễ [chức dịch] đều phải khăn áo chỉnh tề đến Am đường làm văn kính tế, tế xong lễ vật hoàn lại cho làng.

Gian bên trái của đình làng thiết một bàn thờ, hàng năm xuân tiết lệ làng có ca hát, các chức dịch của làng phải khăn áo chỉnh tề cùng đến Am đường rước hương án [Hậu thần] về đình để phụng sự. Còn như các tiết tế tự không có ca hát và lễ tháng sáu thì phụ nhập [vị hiệu Hậu thần] vào sau chúc văn, lại kính tế ở nhà thờ họ một cỗ [biếu lại] cho con cháu được dùng để báo đáp cội nguồn.   

Làng ta bầu [vợ chồng ông] làm Hậu thần để thờ cúng, không biết gì báo đáp hơn, ông bèn lấy một phần ruộng tư, ao hồ và cả các đồ tế khí để cúng cho làng lưu dùng vào việc tế tự.

Ruộng, ao ở các xứ, số sào mẫu liệt kê như sau:

- Xứ Đồng Cựa sáu thửa: một thửa sáu sào, một thửa ba sào, hai thửa liền nhau một mẫu, một thửa hai sào, một thửa sáu sào.

- Xứ Hạ Tra bốn thửa: hai thửa hồ liền nhau sáu sào, một thửa dưới hồ một sào, một thửa trên hồ hai sào.

- Xứ Ma Lậm 11 thửa: một thửa sáu sào, một thửa bốn sào, một thửa sáu sào, một thửa một mẫu, một thửa [] sào, một thửa bốn sào, hai thửa liền nhau tám sào, một thửa bốn sào, một thửa ba sào, một thửa một mẫu.

- Xứ Cây Thánh ba thửa ao: một thửa ba sào hồ, một thửa năm sào hồ, một thửa bốn sào hồ.

- Cúng cho thầy là Quốc tử giám Giám sinh Nguyễn Sỹ Huyên tiên sinh được liệt vào hàng tiên hiền để phụ thờ ở đền, xứ Phúc Trai ba sào ruộng.

- Cúng cho cha là Quan viên tử được phong tặng chức Mậu lâm lang Thiếu khanh, tên tự là Trung Thường được liệt vào hàng tiên hiền để phụ thờ ở đền, xứ Ma Lậm sáu sào ruộng.

- Cúng cho bản phân 03 sào ruộng ở xứ Phúc Trai để phụ tế tiên hiền ở đền.

Ở trên là số ruộng và ao ở các xứ cúng cho làng, tổng cộng 40 mẫu.

- Cúng nhà thánh một gian để thờ Thánh Sư(18). Cúng đền ba gian để thờ thần.

- Cúng một chiếc chiêng Ai Lao nhỏ, giá cổ tiền là 18 quan; một chiếc Thanh la giá cổ tiền 4 quan; 12 chiếc Long bàn và đài trản, tranh trướng họa đồ đầy đủ.

Ở trên là làng ta bầu [vợ chồng ông] làm Hậu thần để thờ phụng cúng tế vào các dịp lễ tiết. Sau đó, ông lại cúng thêm ruộng, ao và các đồ tế khí, một là dùng để tế tự thần thánh, một là dùng để tế tự giỗ chạp Hậu thần. Hai bên thuận tình lập bia ký kết cho rõ. Những việc phải tuân thủ lâu dài không quên. Nếu về sau trong làng có người nào mở miệng nói bán số ruộng này, hoặc cầm bút kết lập văn khế, hoặc xuất tiền ra mua, hoặc bỏ phế việc tế tự các tiết, hoặc bỏ Am đường hư nát, xin kính nguyện trên chư vị thần linh, thổ địa linh quan, sơn lâm đồng điền các xứ thông tri chứng giám, quyết không dung tha. Số ruộng này con cháu không được tranh nhận.

Ngày tốt mùa xuân năm Quý Dậu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14 (1753) lập văn bia. 

Sắc mục Nguyễn Công đại ký. Trên dưới cả làng tất cả đều ký.

Văn bia này vừa là văn bản ghi lại những đóng góp của ông Nguyễn Văn Viện cho quê hương và ca ngợi công đức của ông. Đồng thời cũng vừa là bản giao ước, cam kết của dân làng đối với việc thờ cúng vợ chồng ông Nguyễn Văn Viện sau khi ông bà qua đời. Những giao ước đó được ghi rất rõ trong nội dung văn bia. Cụ thể, ngoài việc được thờ chính tại Am đường (sau này Am đường được gọi là đền Hai - đền đã bị hư hỏng, nền đền hiện đã bị chia cho dân ở) thì tại “Gian bên trái của đình làng thiết một bàn thờ, hàng năm xuân tiết lệ làng có ca hát, các chức dịch của làng phải khăn áo chỉnh tề cùng đến Am đường rước hương án [Hậu thần] về đình để phụng sự”. Đối với những lễ tiết khác không có ca hát thì vị hiệu của ông được viết vào chúc văn để thỉnh về cùng hâm hưởng với Thành hoàng. Hàng năm đến ngày giỗ của ông và hai bà vợ, chức dịch phải khăn áo đến làm lễ, lễ vật cũng được quy định cụ thể về chủng loại (lợn, xôi, trầu, rượu) và giá tiền (2 quan 5 mạch cổ tiền)… Đặc biệt, trong văn bia còn nói rất rõ số ruộng ông đã cúng cho làng thì con cháu không được tranh chấp, dân làng cũng phải giữ lại làm ruộng công, nếu ai có ý nghĩ hoặc hành động mua bán, đổi chác số ruộng đó, hoặc phá hoại Am đường (đền thờ) của ông thì bị trời tru đất diệt, quỷ thần bắt tội.

UploadVăn bia ghi chép công lao của ông Nguyễn văn Viện (lập năm 1753)     

Ông mất vào ngày 18/8 âm lịch (không rõ năm), thi hài được an táng tại Cồn Giếng, xã Trường Mỹ. Sau khi mất, Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện thường linh ứng giúp dân độ thế nên dân làng suy tôn ông làm phúc thần và lập bản tấu xin triều đình ban sắc phong thần. Hiện nay, tại di tích còn lưu giữ 3 đạo sắc phong thần như sau:

Đạo thứ nhất:

Phiên âm:

Sắc Nghệ An tỉnh, Lương Sơn huyện, Trường Mỹ xã phụng sự Phúc Lâm bá Quỳ Sơn chi Thần. Nẫm trứ linh ứng, hướng lai vị hữu dự phong. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, trứ phong vi Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần. Chuẩn y phụng sự. Thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân.

Khâm tai.

Thành Thái nhị niên, nhị nguyệt nhị thập nhật.

             (Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc cho xã Trường Mỹ, huyện Lương Sơn, tỉnh Nghệ An thờ phụng thần Phúc Lâm bá Quỳ Sơn. Thần linh ứng đã lâu nhưng từ trước đến nay chưa được phong tặng. Cho nên, nay trẫm cả vâng mệnh sáng, xa nghĩ ơn thần, trứ phong là thần Dực bảo Trung hưng Linh phù. Chuẩn cho thờ phụng như cũ. Thần hãy che chở, giúp đỡ, bảo vệ cho dân ta.

Kính thay.

Ngày 20 tháng 2 Thành Thái năm thứ 2 (1890)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Đạo thứ hai: (bản sao, phong chung cho 4 vị thần: Cao Sơn Cao Các, Cao Sơn Cao Các Phật Sơn, Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện, Lạc Hiên Nguyễn Văn Trí)

Phiên âm:

Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Lương Sơn huyện, Trường Mỹ xã tòng tiền phụng sự Hiệu linh Đôn tĩnh, Hùng tuấn Trác vĩ, Dực bảo Trung hưng, Cao Sơn Cao Các Thượng đẳng thần; Tú nghi Dực bảo Trung hưng Cao Sơn Cao Các Phật Sơn Đương cảnh Thành Hoàng chi thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù Phúc Lâm bá Quỳ Sơn chi thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù, Quỳ Phong, Điện Dân Tích Khánh Linh Ứng, Tường sinh Lạc Hiên chi thần. Tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kỳ phụng sự. Duy Tân nguyên niên tấn quang đại lễ, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự. Dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.

Khâm tai.

Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo) 

Dịch nghĩa:

Sắc chỉ cho xã Trường Mỹ, huyện Lương Sơn, tỉnh Nghệ An theo như trước thờ các thần: Hiệu linh Đôn tĩnh, Hùng tuấn Trác vĩ, Dực bảo Trung hưng, Cao Sơn Cao Các Thượng đẳng thần; Tú nghi Dực bảo Trung hưng Cao Sơn Cao Các Phật Sơn Đương cảnh Thành Hoàng Tôn thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù Phúc Lâm bá Quỳ Sơn Tôn thần; Dực bảo Trung hưng Linh phù, Quỳ Phong, Điện Dân Tích Khánh Linh Ứng, Tường sinh Lạc Hiên Tôn thần. Các thần đã được ban cấp sắc phong chuẩn cho thờ phụng. Năm Duy Tân thứ nhất (1907) đại lễ đăng quang, đã ban chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, lễ lớn nâng thêm phẩm trật. Đặc chuẩn cho thờ phụng như cũ. Dùng để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà tỏ rõ điển thờ.

Kính thay!

Ngày 11 tháng 8 niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 (1909)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Đạo thứ 3

Phiên âm:

Sắc Nghệ An tỉnh, Anh Sơn phủ, Trường Mỹ xã, Hoành Sơn thôn tòng tiền phụng sự nguyên tặng Linh phù Dực bảo Trung hưng Phúc Lâm bá Quỳ Sơn Linh ứng tôn thần. Hộ quốc tí dân, nẫm tác linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trị trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, trứ gia tặng Đoan túc Tôn thần. Đặc chuẩn phụng sự. Dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.

Khâm tai!

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc cho làng Hoành Sơn, xã Trường Mỹ, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo như trước thờ phụng vị thần vốn được tặng là Linh phù Dực bảo Trung hưng Phúc Lâm bá Quỳ Sơn Linh ứng tôn thần. Thần phù giúp đất nước, che chở nhân dân, linh ứng đã lâu. Cho nên nay đúng dịp đại lễ mừng thọ 40 tuổi của trẫm, đã ban chiếu báu tỏ rõ ân sâu, lễ lớn tăng thêm phẩm trật, trứ tặng thêm là Đoan túc Tôn thần. Đặc chuẩn cho thờ phụng. Dùng để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà tỏ rõ điển thờ.  

Kính thay!

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Upload

Sắc phong cho ông Nguyễn Văn Viện Ngày 20 tháng 2 năm Thành Thái thứ 2 (1890)

Những giao ước khắc trong bia đá được con cháu dòng họ và dân làng tuân thủ nghiêm túc. Hàng năm đến ngày giỗ của ông, chức sắc trong làng đều biện lễ đến đền thờ và nhà thờ họ Nguyễn Văn để cúng giỗ. Theo quy ước, làng cúng trước họ cúng sau. Lễ giỗ của ông được duy trì liên tục từ xưa đến nay chưa bao giờ bị gián đoạn, kể cả những năm kháng chiến ác liệt. Hiện nay, tại nhà thờ còn lưu giữ chiếc cân cổ (đòn cân bằng gỗ, quả cân bằng đá hình chiếc khánh) dùng để cân xôi, thịt trong những dịp tế lễ. Mãi đến thời cải cách ruộng đất và bài trừ mê tín dị đoan thì số tế điền công thổ của làng mới bị chia cho tư nhân, đền thờ của ông cũng bị phá bỏ, lấy đất chia cho dân ở. Con cháu dòng họ đã rước long ngai, bài vị, sắc phong, bia đá và các đồ tế khí về nhà thờ họ để lưu giữ.  

“Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, vật đổi sao dời, có thể những công trình do ông xây dựng đã bị phá hủy, hư hỏng không còn nữa nhưng công đức của ông đối với nhân dân vẫn còn mãi muôn đời. Điều đó lí giải vì sao ông được lập “sinh từ”, được tôn làm tiên hiền của làng và nhân dân đến nay vẫn truyền tụng về công đức của ông, như cách để giáo dục con cháu noi gương. Thiết nghĩ, việc khôi phục đền thờ của ông là việc làm hết sức cần thiết và đó là nỗi niềm đau đáu của những người con họ Nguyễn Văn cũng như dân làng Hoành Sơn. Việc làm này thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, truyền thống tri ân đối với các bậc tiền nhân có công với dân với nước. Và hơn nữa, đó cũng là địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh của làng xã, nơi gửi gắm niềm tin, ước vọng được thần linh che chở, phù hộ cho cuộc sống được ấm no, hạnh phúc.

 

 Chú thích

  1. Gia phả bằng chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn do ông Nguyễn Văn Diệu sao lại vào ngày 15 tháng 6 năm Canh Ngọ niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930).
  2. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 7.
  3. Huyện thừa giúp việc cho tri huyện, hàm tòng thất phẩm.
  4. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 7.
  5. Phủ Trường Khánh nay thuộc tỉnh Lạng Sơn.
  6. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 7.
  7. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 8.
  8. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 9.
  9. Vệ là tiếng địa phương chỉ khu đất cao ráo.
  10. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 8.
  11. Thành hoàng làng được thờ tại đình Hoàng Sơn là Cao sơn Cao các có vị hiệu “Tú nghi Dực bảo Trung hưng Cao sơn Cao các Phật Sơn Đương cảnh Thành Hoàng Tôn thần”.
  12. Đền Cả thờ thần Cao sơn Cao các có vị hiệu: “Hiệu linh Đôn tĩnh, Hùng tuấn Trác vĩ, Dực bảo Trung hưng, Cao sơn Cao các Thượng đẳng thần”.
  13. Gia phả chữ Hán của dòng họ Nguyễn Văn, làng Hoành Sơn được dịch sang Quốc ngữ năm 1938, trang 9.
  14. Bia đá lưu tại di tích.
  15. Hương ước của làng bằng chữ Hán, được biên soạn vào năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748).
  16. Nguyên văn bia đá bằng chữ Hán, bia khắc chữ cả hai mặt, còn nguyên vẹn, hiện đang lưu giữ tại nhà thờ họ Nguyễn Văn làng Hoành Sơn, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương.
  17. “Ứng mộng hùng bi” nghĩa là sinh con trai.
  18. Thánh sư tức Khổng Tử.
Đất và người xứ Nghệ khác:
Văn thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (5/11/2019)
Người một đời tâm huyết với xứ Nghệ (5/11/2019)
PGS. Ninh Viết Giao - Người nặng lòng với văn hóa dân gian xứ Nghệ (5/11/2019)
NGUYỄN CẢNH HOAN(1) (23/10/2019)
Về Hưng Tân nghe hát Ví, Giặm (11/10/2019)
Nguyễn Trung Phong - Người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm (11/10/2019)
Khám phá hang động Thằm Viên nơi biên giới miền Tây Nghệ An (25/9/2019)
Khám phá ngôi đình cổ 300 năm tuổi ở xứ Nghệ được dựng chỉ trong 1 đêm (14/9/2019)
Nhà thơ dân gian Trần Hữu Nghiêm (12/9/2019)
Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện - Người được lập đền thờ khi còn sống (9/9/2019)
Những hình ảnh quý hiếm về cảng Bến Thủy sầm uất gần một thế kỷ trước (7/9/2019)
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 241 | Tất cả: 1,917,972
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp