KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Hồ Chí Minh về văn hóa - văn nghệ
Tin đăng ngày: 9/9/2019 - Xem: 71
 

GS. Phong Lê

Tháng 6 năm 1919, ở Paris, bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam có tên ký là “Nguyễn Ái Quốc - thay mặt những người An Nam yêu nước” - “Groupes des patriotes Annamites”, gồm 8 điểm, trong đó có 4 điểm đòi quyền tự do cho người An Nam: “3. Tự do báo chí và ngôn luận; 4. Tự do lập hội và hội họp;  5. Tự do di cư và đi ra nước ngoài; 6. Tự do mở trường và thành lập ở tất cả các tỉnh những trường dạy kỹ thuật và nghề nghiệp cho người bản xứ theo học”.

Đây chỉ là mấy yêu cầu tự do tối thiểu nằm trong một phạm trù tự do rộng lớn, gắn với Độc lập cho dân tộc và Hạnh phúc cho nhân dân, làm thành bộ ba: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, trên cơ sở nền Dân chủ - Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ được thực hiện trọn vẹn sau Cách mạng tháng Tám - 1945 mà Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập, lãnh đạo và là vị Chủ tịch đầu tiên.

Và như vậy nói đến sự nghiệp viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh bắt đầu từ năm 1919 thì đó là nói đến 50 năm viết, cho đến năm 1969 - năm Người qua đời, với hai giai đoạn:

  1. Từ 1919 đến 1945.
  2. Từ 1945 đến 1969.

Ở giai đoạn thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc, và sau đó là Hồ Chí Minh, có một sự nghiệp viết trong tư cách một chiến sĩ cách mạng có ý thức sử dụng “vũ khí của tiếng nói” để thực hiện sứ mệnh lịch sử cao nhất và duy nhất là độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Một sự nghiệp viết bắt đầu bằng hai loại chữ: Pháp và Việt, nhằm vào hai đối tượng: một là thực dân Pháp và chính quyền tay sai Nam triều; và hai là nhân dân lao khổ trên toàn thế giới, trong đó có người An Nam. Với kẻ thù, thì đó là sự cảnh tỉnh; với nhân dân bản xứ và người nghèo khổ trên khắp thế giới thì đó là sự thức tỉnh. Cảnh tỉnhthức tỉnh - đó là hai mục tiêu lớn trong sự nghiệp viết, trước hết là báo chí, và sau đó là văn học của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ 1919 đến 1945. Một sự nghiệp viết, bắt đầu từ Yêu sách của nhân dân Việt Nam (1919), báo Le Paria, kịch Con rồng tre, những truyện ngắn, tiểu phẩm đăng trên các báo tiếng Pháp ở Paris những năm đầu thập niên 1920, và Bản án chế độ thực dân Pháp, in ở Paris (1925).

Tiếp đó là Đường Kách mệnh (1927) và Nhật ký chìm tàu (1931) bằng tiếng Việt bị cấm và tịch thu.

Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, sau 30 năm xa xứ; và trong 4 năm mở đầu thập niên 1940 là sự dồn tụ một sự nghiệp viết trên nhiều thể, loại như văn, thơ, diễn ca, chính luận, trong đó rất quan trọng là thơ tiếng Việt trên 30 bài được gọi là Bài ca Việt Minh đăng trên báo Việt Nam độc lập; diễn ca Lịch sử nước ta, 208 câu; Ngục trung nhật ký - 135 bài thơ chữ Hán; nhiều thư kêu gọi và hiệu triệu quốc dân đánh Pháp, đuổi Nhật, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa; và cuối cùng là Tuyên ngôn độc lập.

Như vậy là hơn 25 năm trước 1945, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã để lại một sự nghiệp viết trên ba loại chữ: Pháp, Hán, Việt, nhằm hướng tới một mục tiêu cao nhất và duy nhất là Độc lập cho dân tộc, Tự do và Hạnh phúc cho nhân dân... Hơn hai mươi lăm năm viết (1919-1945), trong 30 năm xa xứ (1911-1941), nhà cách mạng và lãnh tụ vĩ đại của dân tộc đã để lại cho nhân dân Việt Nam một di sản báo chí, văn chương vô cùng quý giá, trong đó có những tác phẩm đứng ở đỉnh cao nhất các giá trị của văn minh và nhân đạo. Đó là Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Ngục trung nhật ký (1943) và Tuyên ngôn độc lập (1945).

Cần một lược kể như trên để nói một sự thật, đúng hơn, một chân lý đơn giản: Trong thân phận một người dân mất nước; một nước Việt Nam mất tên gọi trên bản đồ; một thanh niên đi tìm đường phải thay tên đổi họ nhiều chục lần; phải làm đến 12 nghề để kiếm sống; phải trải một hành trình 30 năm xa xứ, với hai lần bị bắt, hai lần bị án tù, hai lần có tin chết, chắc chắn Nguyễn không có chút tự do nào trong hoạt động và kiếm sống. Thế mà Nguyễn đã rất tự do trong cả một sự nghiệp viết rất đồ sộ; và với sự nghiệp đó Nguyễn đã thành người đặt nền móng và kết tụ những tinh hoa cho nền văn chương và báo chí Việt Nam thế kỷ XX.

Ba mươi năm xa xứ. Hơn hai mươi lăm năm viết. Viết - đã trở thành một phương thức cho hoạt động cách mạng. Một vũ khí của tiếng nói. Với Nguyễn, viết không phải để lưu lại một sự nghiệp văn chương, như bất cứ nhà thơ, nhà văn nào khác trong lịch sử và cùng thời. Nếu có một sự nghiệp thì đó là chủ quyền của Tổ quốc - còn trong nô lệ, là lợi ích của nhân dân - còn rất lầm than “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi. Đó là tất cả những gì tôi biết. Đó là tất cả những gì tôi hiểu”. Quên mình đi trong một sự nghiệp lớn, trong đó có động thái viết, Bản án... ấn hành bằng tiếng Pháp ở Paris năm 1925 phải đến 1946 mới xuất hiện ở Việt Nam, và đến 1960 mới được dịch ra tiếng Việt. Nhật ký chìm tàu (1931) với dòng chữ “phi mại phẩm” (không phải để bán) ở trang bìa, viết bằng hai loại chữ: Nôm và Quốc ngữ bị cấm ngay sau khi được chuyền tay ở xứ Nghệ. Ngục trung nhật ký (1943) được viết trong 14 tháng ở các nhà lao Quảng Tây - Trung Quốc, phải 17 năm sau, cả bản chính và bản dịch mới được ra mắt công chúng trong nước và ngoài nước. Hơn mười truyện ngắn và ký viết bằng tiếng Pháp ở Paris những năm đầu 1920, phải hơn 50 năm sau mới có bản in tiếng Việt... Nói như vậy để hiểu: Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là người tuyệt đối được tự do trong suốt 30 năm xa xứ, và ngay cả trong 14 tháng bị giam cầm, và không có băn khoăn gì về yêu cầu tự do cho việc viết. Có nghĩa là bất cứ lúc nào, bất cứ trong hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh cũng giành được cho mình quyền tự do cao nhất, đó là sự toàn tâm toàn ý cho một sự nghiệp lớn - vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì hạnh phúc của con người, trước hết là những con người bé mọn, nghèo khổ.

Từ 1919 đến 1945 trong sự nghiệp viết của mình, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không có nhu cầu phải thuyết phục ai, giáo dục ai về quan niệm viết, về kinh nghiệm viết, ngoài việc thể hiện mình, bộc lộ mình trung thành và trọn vẹn trên tất cả các trang viết, thuộc mọi chủng loại - đó là Yêu sách, hoặc Bản án; là một vần thơ cực kỳ giản dị như Hòn đá cho quần chúng mù chữ ai cũng hiểu, đến một triết lý thâm trầm về sự sống trong cảnh ngộ một người tù; một hiệu triệu gửi các giới đồng bào gia nhập Việt Minh hoặc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa đến một Tuyên ngôn độc lập, nhân danh lịch sử và dân tộc nói với tương lai và nhân loại.

*   *   *

Từ 1945, ở cương vị Chủ tịch nước, sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, cho đến 1969, công bố Di chúc sau khi qua đời, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục một sự nghiệp viết gồm nhiều thể, loại; như thơ chữ Hán và thơ chữ Việt (gồm thơ viết cho mình và thơ viết cho các giới đồng bào); thư từ, lời kêu gọi hoặc bài nói chuyện cho các giới nghề nghiệp... Ở khu vực này, Hồ Chí Minh có cơ hội để thể hiện quan niệm của mình về báo chí, văn chương, nghệ thuật…

Nhưng trước khi đi vào việc lĩnh hội quan niệm nghệ thuật của Hồ Chí Minh cần lưu ý một điều là: chưa bao giờ Người nhận mình là nhà thơ, nhà văn; mà chỉ là người yêu thơ, yêu nghệ thuật. “Ngâm thơ ta vốn không ham”, cách trả lời này của Hồ Chí Minh là nhất quán, đối với tất cả giới văn nghệ sĩ trong nước và bè bạn nước ngoài. Mở đầu Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ II - năm 1957, Người nói: “Tôi lấy danh nghĩa là một người yêu chuộng văn nghệ xin chúc mừng Đại hội văn nghệ thành công. Cụ Hoàng (tức Hoàng Ngọc Phách) vừa nói với tôi rằng tôi là một nhà văn nghệ, nhưng tôi chỉ nhận tôi là một người yêu chuộng văn nghệ chứ không phải là một nhà văn nghệ”(1). Cả trong khi trả lời bạn bè nước ngoài đến thăm và hỏi chuyện. Rơ-nê Đêpestơrơ - nhà thơ Haiiti kể: “Người nói rằng: khi ở tù ở miền Nam Trung Quốc, Người đã làm những bài thơ ấy cho qua giờ, rằng Người thật ra không phải là một nhà thơ”(2). Trả lời nhà thơ Nga Paven Antonxconxki, khi ông ngỏ ý muốn dịch sang tiếng Nga một số bài thơ của Hồ Chí Minh, “Người phá lên cười một cách vui vẻ. Trong đôi mắt Người ánh lên những tia hài hước: - Nhà thơ gì tôi cơ chứ hở đồng chí! Chẳng qua là những năm kháng chiến, khi còn sống trong chiến khu Việt Bắc, chúng tôi có quá nhiều thì giờ rỗi rãi quá đi mất. Và thế là chúng tôi làm thơ chơi. Cả tôi lẫn những đồng chí khác nữa! Ở Việt Nam ai cũng làm thơ cả. Nhưng bây giờ thơ của chúng tôi là những con số. Vâng, đúng như vậy, những con số về mùa màng, hoa lợi, đó là thơ của chúng tôi đấy!”(3).

“Những con số” - ta hiểu đó là một cách nói vui. Nhưng cũng là cách đi vào thực chất hiệu quả và tác dụng của thơ ca. Khi không nhận mình là nhà thơ phải chăng có một quan niệm văn chương riêng của Hồ Chí Minh. Văn chương là công việc cần được coi trọng. Văn chương phải trực tiếp đến với công chúng, và được công chúng đón nhận. Văn chương đòi hỏi tính chuyên nghiệp, phải là một nghề...

Nhớ lại một dịp gặp gỡ khác với nhà văn Liên Xô Rút Bersatxki: “Đồng chí Hồ Chí Minh vui vẻ nhìn tất cả chúng tôi bằng cặp mắt ngời ngợi tỏa sáng của mình - “Tôi, tất nhiên không thể nào lại ngờ rằng trên cơ sở những bài thơ này, bao giờ đó người ta lại đưa tôi vào hàng các nhà thơ! Không! Nếu như quả thực tôi là nhà thơ, hẳn tôi đã không thể sống mà không sáng tác. Là các nhà văn chuyên nghiệp, các đồng chí hẳn biết rõ điều đó. Còn tôi, như các đồng chí thấy đấy, tôi có thể sống thoải mái không cần phải làm thơ. Và trước khi ở tù cũng như sau khi ra tù, tôi đã sống mà không làm thơ”(4).

Như vậy phải chăng có một yêu cầu riêng và một quan niệm riêng về văn chương ở Hồ Chí Minh.

Đã là nhà văn “chuyên nghiệp” thì phải viết, vì viết văn là một nghề; nhà văn phải đóng góp vào đời sống xã hội bằng chính nghề của mình. Nếu sống mà không cần viết, hoặc ít viết, thì không nên xem là nhà văn, nhà thơ.

Còn Hồ Chí Minh, nhiều lúc “đã sống mà không làm thơ”.

Nhưng đừng nên quên: Hồ Chí Minh đã viết trong suốt cuộc đời mình.

Người lúc nhỏ có cùng sự đồng cảm với Phan Bội Châu trong niềm yêu thích câu thơ Viên Mai:

Lập thân tối hạ thị văn chương.

Cũng chính là Người, khi tự mình đối diện với mình, đã từng ghi một phương châm viết:

Nay ở trong tơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

*   *   *

Là nhà cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn xem hoạt động văn hóa - văn nghệ như một hoạt động cải tạo, sáng tạo thế giới ở con người. Văn nghệ không có một mục đích tự thân. Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa năm 1951, Hồ Chí Minh viết: “Văn hóa, văn nghệ cũng như mọi hoạt động khác, không thể ở ngoài, mà phải ở trong kinh tế, chính trị”. Bao thế hệ văn nghệ sĩ và công chúng Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua, hẳn không ai không nhập tâm từng lời, từng chữ bức thư trên, khi cuộc kháng chiến đã diễn ra sau 6 năm. “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(5).

Trước đó, năm 1947, trong Thư gửi anh em văn hóa, và trí thức Nam bộ: “Ngòi bút của các bạn là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”(6). Đây là quan điểm có tính nguyên tắc trong tư tưởng văn nghệ của Hồ Chí Minh. Khi nhiệm vụ chống ngoại xâm, lật đổ chế độ cũ là nhiệm vụ số một, thì hoạt động chính trị và vũ trang phải là nhiệm vụ quyết định, hàng đầu. Đấu tranh chính trị phải là tiêu điểm, là mũi nhọn của đấu tranh giai cấp, nơi đó giai cấp vô sản và quần chúng cách mạng phải chiếm lĩnh trận địa; nơi đó bất cứ một sự mơ hồ hoặc lỏng lẻo nào cũng đều gây tổn thất. Nhưng yêu cầu phục vụ cách mạng trong tinh thần của Hồ Chí Minh không hề mang tinh thần áp đặt, mà phải là một hoạt động tự nguyện, tự giác, một đòi hỏi của trách nhiệm, của lương tâm người nghệ sĩ:

“Rõ ràng là dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”(7).

Có điều cần lưu ý: mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị theo cách tác giả nêu như trên, không có nghĩa là một sự hạ thấp giá trị văn nghệ; cũng không có nghĩa như một sự phân chia tách bạch chính trị và văn nghệ thành hai vế, đối lập nhau, hoặc với trật tự cao thấp, bên trọng bên khinh. Trong bức thư đã gửi trên có đoạn viết: “Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà, để cho văn hóa cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do”(8).

Như vậy, cho đến khi dân tộc giành được chủ quyền, và mục tiêu của cách mạng được tập trung vào việc xây dựng một xã hội mới, nhằm mưu cầu hạnh phúc cho con người thì yêu cầu về sự phát triển tự do, toàn diện của các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng, đạo đức sẽ được đặt ra trong một quan hệ chỉnh thể, tác động vào nhau; mặt khác, lại phải chú ý đến những đặc trưng riêng, và những yêu cầu nội tại, có tính quy luật cho mỗi lĩnh vực hoạt động, mà những người được phân công hoặc tự nguyện chọn lựa cần phải nắm hiểu, vận dụng.

Văn nghệ cần được tự do. Nhưng tự do của văn nghệ cần được đặt ra trong tự do chung của nhân dân, của dân tộc.

Văn nghệ cần được tự do. Nhưng việc quan niệm tự do như thế nào cho đúng, và làm thế nào để được tự do - đó là điều cần hiểu và phát triển trên cơ sở nắm vững yêu cầu cụ thể của thực tiễn cách  mạng, và quy luật phát triển nội tại của văn nghệ.

Có thể còn nhiều cách nêu, cách đúc kết các ý kiến của Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ. Nhưng dầu khai thác thế nào, trên bình diện nào, theo cách thức nào, ở thời điểm nào, theo tôi, quan niệm văn nghệ ở Hồ Chí Minh luôn luôn nhất quán, không phiến diện, không thiên lệch, không mâu thuẫn. Bởi tư tưởng Hồ Chí Minh là kiên định, sáng rõ và có một tầm nhìn xa. Cái đúng cho tầm gần có thể lạc hậu, thậm chí có thể lệch khi để vào tầm xa. Nhưng cái đúng cho tầm xa thì mọi tầm gần đều sáng rõ.

*   *   *

Không xem mình là nhà thơ, nhà văn, nhà văn nghệ, bởi đó không phải là nghề chuyên của mình, bởi nếu là nghề thì phải thường xuyên, phải chuyên tâm viết; nhưng Hồ Chí Minh vẫn để lại một sự nghiệp bất hủ, đứng ở hàng đầu các giá trị nhân văn và hiện đại trong lịch sử văn chương Việt.

Người viết không chuyên ấy cũng là người luôn luôn khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa - văn nghệ. Người rất thuộc ca dao, dân ca và Truyện Kiều. Người từng xem mình là “người học trò nhỏ của L. Tônxtôi”... Người am hiểu rất sâu các giá trị của văn nghệ và đưa văn nghệ lên một vị trí rất cao như “những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”.

Người suốt đời chiến đấu cho độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc, của nhân dân cũng là người rất tự do trong sáng tạo văn chương, báo chí trong suốt 50 năm sự nghiệp viết của mình. Viết cho công chúng cần lao còn trong tình cảnh nô lệ hoặc công chúng đã được hưởng độc lập, tự do; và viết cho riêng mình - Hồ Chí Minh bao giờ cũng tự thể hiện trong một tư thế tự do tuyệt đối, không chịu bất cứ ràng buộc hoặc áp lực nào của bản thân và ngoại cảnh.

 

Chú thích

(1), (5), (6), (7), (8). Sách Hồ Chí Minh: Về công tác văn hoá, văn nghệ; Nxb Sự thật; H; 1971.

(2), (3), (4). Sách Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận; Nxb Văn học; H; 1981.

KHXHNV & Đời sống khác:
Nhìn lại 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở Nghệ An (8/11/2019)
Hỗ trợ Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức chính trị xã hội, vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh giai đoạn 2018-2019 (8/11/2019)
Thư chúc mừng của đồng chí Thái Thanh Quý - Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành KH&CN (25/10/2019)
Khoa học và công nghệ Nghệ An - 60 năm xây dựng và phát triển (25/10/2019)
Khoa học và công nghệ - Động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An (24/10/2019)
Gắn kết di sản dân ca Ví, Giặm với tuor du lịch ven sông Lam (10/10/2019)
Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 5 năm hành trình di sản (10/10/2019)
Phi công Nguyễn Văn Bảy - người anh hùng chân đất (25/9/2019)
Vũ trụ quan sơ khai của người Thái (12/9/2019)
Trường Trung học Vinh niên khóa 1929-1930 (9/9/2019)
Hồ Chí Minh về văn hóa - văn nghệ (9/9/2019)
Vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ cần phát huy vai trò đầu tàu cả nước (21/8/2019)
Chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Hàn Quốc và hàm ý cho Việt Nam (21/8/2019)
Về quan điểm “khoảng trống quyền lực” trong Cách mạng tháng Tám (12/8/2019)
Huế và những đóng góp lớn lao cho Cách mạng (1945 - 1975) (12/8/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 169 | Tất cả: 1,916,820
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp