KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Huế và những đóng góp lớn lao cho Cách mạng (1945 - 1975)
Tin đăng ngày: 12/8/2019 - Xem: 87
 

Nguyễn Văn Toàn

Huế là nơi chứng kiến những sự thay đổi lớn lao của lịch sử dân tộc và sự phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng trong giai đoạn 1945-1975.

Upload

Quân ta tiến vào giải phóng Hoàng Thành Huế trong Đại thắng Mùa Xuân năm 1975

Lật đổ chế độ phong kiến

Huế vào năm 1945 vừa là kinh đô của triều Nguyễn, nhà nước phong kiến Việt Nam; vừa là thủ phủ của Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim; và là nơi đặt cơ quan cai trị của quân đội phát xít Nhật. Về sức mạnh quân sự của thế lực phản cách mạng, quân đội phát xít Nhật ở Huế sau ngày đảo chính Pháp (9.3.1945) có đến 4.500 quân thiện chiến, vũ khí hậu cần đầy đủ do tên tướng Nhật Yokoyama Masayuki chỉ huy. Chính phủ Trần Trọng Kim, tuy không có Bộ Quốc phòng nhưng đã lập được đội Thanh niên tiền tuyến gồm hàng chục vạn thành viên bán vũ trang. Ngoài ra, những đội lính khố vàng người bản xứ vẫn được Nhật xây dựng để đàn áp cách mạng.

Về phía lực lượng cách mạng thì ở Huế chỉ có lực lượng Việt Minh. Bản thân lực lượng Việt Minh ở Huế vẫn tồn tại hai tổ chức Việt Minh Thuận Hóa và Việt Minh Nguyễn Tri Phương. Trên thực tế thì cả hai lực lượng này đều bị phát xít Nhật đàn áp rất dã man, lực lượng chủ chốt phải hoạt động bí mật ở vùng rừng núi. Vậy làm sao đủ lực lượng để khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến? Bởi vậy cuối tháng 6.1945, Ban lãnh đạo hai tổ chức Việt Minh đã họp tại Huế. Cuộc họp quyết định sát nhập tổ chức Việt Minh Thuận Hóa vào Việt Minh Nguyễn Tri Phương, thống nhất kế hoạch và phương hướng hoạt động nhằm tập hợp lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Kết quả Việt Minh ở Huế đã lôi kéo được một số nhân sĩ yêu nước của “Hội Tân Việt Nam”, lực lượng thanh niên Phan Anh, lính khố vàng, lính bảo an cùng hàng chục vạn nhân dân cùng khổ toàn tỉnh Thừa Thiên – Huế trong một thời gian chưa đầy 2 tháng.

Ðúng như dự đoán, ngày 15.8.1945, phát xít Nhật đầu hàng Ðồng Minh. Được tin này, dưới danh nghĩa Việt Minh Nguyễn Tri Phương, thường vụ tỉnh ủy triệu tập hội nghị cán bộ toàn tỉnh. Hội nghị hoàn toàn nhất trí với chủ trương khởi nghĩa và quyết định chọn huyện Phú Lộc để phát động chính quyền giành chính quyền trước nhằm rút kinh nghiệm cho các huyện khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Huế tiến hành khởi nghĩa. Bởi vậy, tại thành phố Huế, từ ngày 21.8 các đội tự vệ, các đoàn thể cứu quốc có trang bị vũ khí thô sơ, giương cờ, biểu ngữ, biểu tình thị uy qua các đường phố. Các trại lính bảo an đã được chuẩn bị tham gia phong trào khởi nghĩa. Bọn lính Nhật hoảng sợ không dám hành động. Chiều ngày 21.8 đơn vị tự vệ khu phố Phú Bình đã chiếm được vòng ngoài ở đồn Mang Cá.

Ðêm 22.8, Bảo Ðại, vị vua cuối cùng của triều đình tuyên bố: “Nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Việt Minh”. Uỷ ban khởi nghĩa không đồng ý và yêu cầu: Nhà vua phải báo cho Nhật biết là triều đình đã giao tất cả quyền bính cho chính quyền cách mạng và điện cho các tỉnh trưởng giao quyền cho Việt Minh và Nhà vua phải giao lại cho chính quyền cách mạng đội lính khố vàng, với tất cả trang bị vũ khí đạn dược.

Theo đúng chương trình, chiều 30.8 lễ thoái vị của Bảo Ðại- vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến cuối cùng đã được tổ chức tại lầu Ngọ Môn trong kinh thành Huế. Ðứng phía trước là 18 hàng nữ sinh mặc quần trắng, áo dài trắng. Tiếp theo là các đoàn phụ nữ mặc áo dài tím. Ðoàn quân nhạc gồm 130 người đứng bên phải. Lực lượng vũ trang súng trường cắm lê sáng loáng đứng bên trái. Các đoàn thanh niên học sinh áo sơ mi trắng quần xanh đứng sau cùng. Phía chính giữa là đại diện nhân dân toàn tỉnh gồm gần 1 vạn người, xếp thành một ô vuông lớn - hình ảnh một khối đòan kết chặt chẽ và vững bền. Rừng cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ rực rỡ trong ánh nắng mùa thu. Tất cả yên lặng, không khí thật trang nghiêm. Trên kỳ đài Huế, cùng với bản nhạc hùng tráng “Tiến quân ca”, lá cờ đỏ sao vàng từ từ kéo lên phần phật bay giữa trời Huế Tự do Độc lập.

50 ngày đêm bao vây quân Pháp

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ra đời (9.1945) đã đem lại nền Độc lập, Tự do cho dân tộc ta. Nhưng thực dân Pháp lại nuôi âm mưu quay trở lại xâm lược nước ta.

Theo Hiệp định Sơ bộ ký giữa ta và Pháp (6.3.1946), chúng ta nhân nhượng để 825 binh sĩ Pháp từ Lào do tên đại tá Crèvecoeur dẫn đầu kéo đến Huế. Bởi theo hiệp ước Hoa - Pháp được ký ở Trùng Khánh trước đó vào ngày 28-2-1946, số quân này đến thay thế 5.000 quân của Trung Hoa Dân Quốc đóng ở Huế. Đuổi được 5.000 quân Tưởng, chúng ta tập trung kiềm chế 825 quân Pháp, không cho chúng ra tay phá hoại.

 Theo thỏa thuận giữa ta và Pháp, Pháp được ta bố trí đóng quân ở khu tam giác phố Tây gồm Morin - Ga Huế - Provindance thuộc khu vực Nam sông Hương. Còn các điểm như Nhà đèn, Ngân hàng do quân ta và Pháp cùng kiểm soát. 

Với dã tâm cướp nước ta một lần nữa, thực dân Pháp gây rối, chờ ta mắc mưu để có cớ động binh. Ở Huế, chúng ngang nhiên cho xe bọc thép húc vào một số công sự của ta. Chúng ném lựu đạn vào bốt Trương Định. Chúng tiến hành bắt cóc công an, cán bộ. Tại Trạm kiểm soát bờ Nam cầu Trường Tiền, lính Pháp bắn một công an ta bị thương. 

Ta nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Tại Hà Nội, ngày 19.12.1946, Pháp gửi “tối hậu thư” đòi tước vũ khí của quân đội ta, đòi nắm quyền kiểm soát thành phố. Không chấp thuận yêu sách ngang ngược của chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”. 

2 giờ sáng ngày 20.12.1946, từ Hà Nội, thay mặt Bộ quốc phòng, ông Đàm Quang Trung gọi cho Chỉ huy trưởng ở mặt trận Huế là Hà Văn Lâu: “Ngoài này đã bắt đầu, trong đó cho nổ súng”. 2 giờ 30 phút ngày 20.12.1946 khẩu sơn pháo 75 ly đặt ở Kỳ Đài Huế nhả đạn vào nơi Pháp đóng quân, báo hiệu cho cuộc tấn công, bao vây quân Pháp tại Huế.

Tại cầu Trường Tiền, quân ta cho nổ quả thủy lôi nặng 500 kg, giật sập vài nhịp cầu phía Bắc. Tại Nhà Đèn, quân ta đã cắt đứt nguồn điện. Cả thành phố Huế mất điện. Khi Pháp đưa quân nhằm tái chiếm Nhà Đèn, quân ta diệt 45 tên và phá hỏng 2 xe bọc thép. Quân ta cũng đánh chiếm 1/3 khách sạn Morin, nơi tập trung đông quân Pháp. Ở các địa điểm khác của thành phố Huế quân ta cũng đồng loạt tấn công quân Pháp.

Chỉ trong ngày đầu tiên kháng chiến, ở mặt trận Huế ta đã tiêu diệt 100 tên giặc, phá nhiều xe quân sự, thu và phá hủy nhiều vũ khí, buộc quân Pháp phải vào thế bị động chống đỡ. 

Tham chiến tại mặt trận Huế, quân đội ta lúc đầu có Tiểu đoàn Tiếp phòng quân Thuận Hóa của Lê Khánh Khang, Tiểu đoàn 16 của Huỳnh Điểu, Tiểu đoàn 17 của Võ Lương và Tự vệ thành phố Huế. Sau đó Liên khu IV tăng cường thêm Tiểu đoàn Tiếp phòng quân Vinh đóng quân ở An Hòa. Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị mỗi địa phương cử một đại đội đến Huế. Riêng Trường Quân chính Nhượng Bạn gửi một đại đội, số chiến sĩ này được phân bổ và trực tiếp tham chiến ở phía Nam sông Hương.

Bộ đội ta vũ khí còn thô sơ, chủ yếu là các loại súng trường như Indochinois, Mousqueton, Remington, súng Chiêu Hòa của Nhật, Thất Cữu của Trung Quốc, súng trường của Nga. Cả Mặt trận chỉ có 10 khẩu trung liên Pren của Tiệp Khắc và chỉ có duy nhất 1 khẩu sơn pháo 75 ly thu được từ Nhật. Vũ khí không đủ nên bộ đội cũng như Tự vệ thành phố Huế phải dùng mác Lào, đại đao, mã tấu, lựu đạn “mỏ vịt” tự chế. Sau đó, Liên khu IV mới trang bị thêm ít bom ba càng, loại cải tiến từ mìn để chống xe tăng. Do thiếu hỏa lực nên khi yểm trợ bộ binh tấn công, quân ta còn sử dụng cả súng thần công của nhà Nguyễn.

Vậy mà quân ta đã bao vây Pháp đến 50 ngày đêm và diệt 200 tên địch. Chỉ đến ngày 6.2.1947, khi tên tướng Bourgound điều 3.000 quân Pháp có pháo binh yểm trợ đánh chiếm Huế thì quân ta mới rút lên chiến khu và cùng với cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. 

“Tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”

Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ nhưng thắng lợi vẻ vang bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “vang vọng năm châu, chấn động địa cầu” (7.5.1954), Việt Nam đã buộc kẻ thù phải ký vào Hiệp định Genève vào ngày 20.7.1954 để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Khi nhân dân cả nước đang mong chờ hiệp thương tổng tuyển cử thì vào tháng 7.1956, Ngô Đình Diệm lại tráo trở xé bỏ Hiệp định Genève.

Ngô Đình Diệm là ai? Đây là tên quan từng làm việc cho triều đình Huế và là kẻ bị Pháp hất hủi nhưng được Mỹ lựa chọn, đào tạo. Vào ngày 25.6.1954, Mỹ đã ép Pháp đưa Diệm lên làm Thủ tướng cái gọi là “Chính phủ Quốc Gia Việt Nam”, một chế độ bù nhìn tại miền Nam Việt Nam do Bảo Đại làm “Quốc trưởng”. Bằng một loạt “trò hề chính trị” như trò “trưng cầu dân ý” để “phế truất” Bảo Đại rồi tự “suy tôn” mình làm “Tổng thống” (tháng 10.1955), rồi tổ chức “bầu cử riêng rẽ”, lập “quốc hội lập hiến” (tháng 5.1956), ban hành “hiến pháp” của cái gọi là “Việt Nam Cộng hoà” (tháng 10.1956), Diệm đã thực hiện mệnh lệnh của Mỹ, trắng trợn phá hoại việc thống nhất Việt Nam. Lầu Năm Góc nhận định: “Nam Việt Nam, về bản chất, là một sáng tạo của Hoa Kỳ”.

Tháng 9.1954, Mỹ lôi kéo được một số đồng minh như Pháp, Anh... và một số nước Đông Nam Á lập ra khối “Liên minh quân sự Đông Nam Á” (SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Tính ra, từ năm 1954 đến năm 1960, 80% ngân sách quân sự của chế độ Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ.

“Tức nước vỡ bờ”, việc cấm treo cờ Phật giáo ở Huế năm 1963 đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ các Phật tử, dẫn đến các hoạt động đàn áp Phật giáo của Ngô Đình Diệm. Đây là một trong những nguyên nhân Diệm bị giới quân sự lật đổ và anh em nhà Diệm bị giết chết. Liền sau đó là 14 cuộc đảo chính quân sự khác chỉ sau một năm rưỡi khiến chế độ Ngụy Sài Gòn tê liệt.

Cùng với khí thế hào hùng tấn công địch trên toàn miền Nam, quân và dân Thừa Thiên Huế đã đồng loạt tiến công, nổi dậy làm chủ thành phố Huế 26 ngày đêm trong Xuân 1968. Trong những ngày Xuân lịch sử đó, Huế nổi lên là một chiến trường trọng điểm với những chiến công xuất sắc nhất. Chiến công xuất sắc đó đã được Hội nghị chiến tranh du kích toàn miền Nam lần thứ Tư (tháng 10.1968) chọn là một trong ba ngọn cờ đầu về chiến tranh du kích và được Bộ Chỉ huy các lực lượng giải phóng miền Nam tuyên dương 8 chữ vàng: “Tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”.

Góp phần làm thất bại “Phòng ngự co cụm chiến lược”

Đến cuối năm 1974 đầu năm 1975, so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi mau lẹ có lợi cho cách mạng. Khả năng giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước đã hiện hữu rõ ràng hơn bao giờ hết. Huế, tỉnh thành nằm sát với tỉnh Quảng Trị đã được hoàn toàn giải phóng trước đó là một trong những địa phương nằm trong kế hoạch tiến quân của Quân Giải phóng miền Nam.

Ngày 10.2.1975, Quân ủy Trung ương phê chuẩn kế hoạch năm 1975 của Quân khu Trị Thiên với nội dung cơ bản là: “Tập trung toàn bộ lực lượng Quân khu và Quân đoàn II, tranh thủ thời cơ thuận lợi của năm 1975, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch ở Trị - Thiên, giành 35 vạn dân ở nông thôn đồng bằng, phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh vào kho tàng hậu cứ, triệt phá giao thông; tích cực sáng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế”.

Về phía địch, chúng tỏ ra lúng túng trong việc đối phó. Theo lệnh của Tổng thống Ngụy Nguyễn Văn Thiệu, ngày 17.3.1975 tên tướng Ngô Quang Trưởng tại quân khu 1 Ngụy phải điều đơn vị đầu tiên của sư đoàn không vận Ngụy từ căn cứ Phú Bài – Huế vào Sài Gòn để “tổ chức” lại việc phòng thủ. Ưu tiên bảo vệ của giờ đây của chế độ bù nhìn của Mỹ “Việt Nam Cộng hòa” đã chuyển từ Huế vào Đà Nẵng vì chúng đã không còn đủ lực lượng để “bảo vệ cả Huế”. Theo đó, lữ đoàn thủy quân lục chiến Ngụy trước đây đóng ở phía Bắc thành phố Huế nay phải di chuyển về giữ đèo Hải Vân và án ngữ quốc lộ 1 cửa ngõ Đà Nẵng. Và trong trường hợp bị tấn công mạnh, tên tướng Trưởng được phép rút khỏi Huế để “giữ” Đà Nẵng.

Sáng 19.3.1975, Thủ tướng Ngụy quyền Trần Thiện Khiêm cùng vài thành viên Nội các bay từ Sài Gòn ra các quân khu 1 và 2 Ngụy “thị sát tình hình”. Tên tướng Trưởng báo cáo các “dấu hiệu” cho thấy trong thời gian rất gần Huế và Đà Nẵng có thể bị quân Giải phóng đồng loạt tấn công. Tên tướng Trưởng còn cho biết 3 sư đoàn quân Giải phóng đã án ngữ các khu vực gần Huế và Đà Nẵng, có thể một sư đoàn quân Giải phóng nữa sẽ vượt Quảng Trị để tăng thêm sức ép. Nửa đêm hôm đó, Khiêm trở về Sài Gòn gặp Thiệu để báo cáo. Khiêm đề nghị Thiệu cho rút lui khỏi Huế để tập trung lực lượng về “bảo vệ” Đà Nẵng nhưng Thiệu không đồng ý rút quân khỏi Huế vì trước đó đã chỉ thị phải “bảo vệ Huế bằng mọi giá”. Khiêm bị “sốc” trước thái độ này của Thiệu. Vì trước đó vài ngày, chính Thiệu đã nói với tên tướng Trưởng rằng về mặt chiến lược Huế không quan trọng bằng Đà Nẵng và tướng Trưởng đã làm theo lời Thiệu điều chỉnh lại kế hoạch. Nay bất ngờ Thiệu thay đổi ngược lại làm cho việc “tổ chức phòng thủ” càng thêm “tiền hậu bất nhất”.

Tình hình chuyển biến mau lẹ sau thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên nên vào ngày 21.3.1975, từ các hướng Bắc, Tây, Nam, quân ta đồng loạt tiến công, hình thành nhiều mũi bao vây địch, mở màn cuộc tiến công giải phóng Huế. Khi đoàn xe tăng của quân đội giải phóng ào ạt vượt qua cầu Thạch Hãn ở Quảng Trị tiến về phía Huế, tên tướng Trưởng vội bay vào Sài Gòn gặp Thiệu báo cáo tình hình đang diễn biến ngày càng xấu. Thiệu cuối cùng thừa nhận đã “đòi hỏi quá nhiều”. Việc bảo vệ Huế giờ đây không quan trọng bằng sự bảo toàn lực lượng sư đoàn 1 Ngụy. Thiệu cho phép tên tướng Trưởng giữ Huế “được lâu chừng nào tốt chừng đó” cốt để cho sư đoàn 1 Ngụy đủ thời gian rút vào “bảo vệ” Đà Nẵng. Việc rút quân có thể bằng đường bộ hoặc đường biển và tuỳ tướng Trưởng “quyết định” thời điểm nào thì “chịu mất Huế”.

Trong khi đó, các đơn vị quân đội giải phóng đã tấn công tổng lực dồn dập vào thành phố Huế. Sáng 24.3.1975 toàn bộ sư đoàn 1 Ngụy vứt bỏ vũ khí cùng gia đình ra bãi biển Thuận An để lên tàu thuyền chạy vào Đà Nẵng. Sáng 25.3.1975, Ngụy quyền Sài Gòn công bố Huế “thất thủ”. Vào 10 giờ 30 phút ngày 25.3.1975, quân Giải phóng cắm cờ chiến thắng trên đỉnh Phu Văn Lâu, thành phố Huế được giải phóng. Vào 6 giờ 30 phút ngày 26.3.1975, quân Giải phóng chính thức kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam dài 12m, rộng 8m lên đỉnh Cột cờ, đánh dấu mốc lịch sử Thừa Thiên - Huế hoàn toàn giải phóng.

Như vậy, sau nhiều ngày chiến đấu, quân và dân Thừa Thiên - Huế đã đập tan tấm lá chắn mạnh nhất của địch ở phía Bắc, góp phần làm thất bại kế hoạch “Phòng ngự co cụm chiến lược” của địch ở các tỉnh duyên hải miền Trung, hoàn toàn giải phóng quê hương, góp phần quyết định vào thắng lợi chiến dịch Huế - Đà Nẵng, tạo đà thần tốc chiến thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

 

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Vũ trụ quan sơ khai của người Thái (12/9/2019)
Trường Trung học Vinh niên khóa 1929-1930 (9/9/2019)
Hồ Chí Minh về văn hóa - văn nghệ (9/9/2019)
Vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ cần phát huy vai trò đầu tàu cả nước (21/8/2019)
Chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Hàn Quốc và hàm ý cho Việt Nam (21/8/2019)
Về quan điểm “khoảng trống quyền lực” trong Cách mạng tháng Tám (12/8/2019)
Huế và những đóng góp lớn lao cho Cách mạng (1945 - 1975) (12/8/2019)
Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ (7/8/2019)
Hỗ trợ hoạt động và liên kết của các tổ chức Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức chính trị xã hội 3 ở 3 tỉnh Bác miền Trung giai đoạn 2018-2019 (1/8/2019)
Một vài suy nghĩ về trào lưu chụp ảnh kỷ yếu của giới trẻ hiện nay (31/7/2019)
Dệt thổ cẩm nét đẹp trong văn hóa dân tộc Thái huyện Quỳ Châu, Nghệ An (10/7/2019)
Không gian nhà ở truyền thống của người Thái (10/7/2019)
Bảo tồn làng cổ Khánh Sơn gắn với phát triển du lịch cộng đồng - Một vài suy nghĩ (9/7/2019)
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các tộc người thiểu số miền Tây Nghệ An trong phát triển bền vững (9/7/2019)
Kinh tế di sản - Một động lực tăng trưởng mới (9/7/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 117 | Tất cả: 1,832,137
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp