ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > KHÁM PHÁ XỨ NGHỆ AN
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong
Tin đăng ngày: 7/8/2019 - Xem: 129
 

Quán Vi Miên

Upload

Đền Chín Gian, huyện Quế Phong

1. Có cả ngàn vạn người tham dự lễ hội đền Chín Gian ở Quế Phong hàng năm vào dịp đầu xuân. Trong số đó nhiều người đã đặc biệt chú ý đến hai “câu đối” bằng tiếng Thái treo ở trong đền này: “Đày ky bò lưm thủ/ Đày dủ lưm cống”. Tác giả bài “Từ một câu đối ở Đền Chín Gian” đăng trên Bản tin Dân tộc tỉnh Nghệ An, số Xuân Kỷ Hợi, tr. 23-24, dịch là: “Được ăn không quên đũa/ Được ở không quên công”. Đó là một bản dịch chính xác.

2. Có điều đây có phải là “câu đối” hay không thì còn phải xem xét. Như đã biết, “câu đối” thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối (對) ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của Văn học Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, và Hàn Quốc.

Câu đối có nguồn gốc từ Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên (對聯) nhưng tên gọi xưa của nó là đào phù (桃符). Câu đối được xem là tinh hoa của văn hóa chữ Hán. Người Trung Quốc quan niệm: “Nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa”. Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng theo Tống sử Thục thế gia (宋史蜀世家), câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959. Nguyên bản: “新年納餘慶/ 嘉節號長春”; Phiên âm: “Tân niên nạp dư khánh/ Gia tiết hiệu trường xuân”; Dịch thơ: “Năm mới thừa chuyện vui/ Tiết đẹp xuân còn mãi”.

Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối ấy được gọi là chỉnh đối hay đối cân. (1) Đối ý và đối chữ. Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau. Đối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại. (a) Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại. (b) Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây...) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru...) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ; nếu vế đối này có đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho...

Một đôi câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trên và vế dưới. Nếu một người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ra và vế đối.

Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.

Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau: (1) Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống. (2) Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn. (3) Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có: (a) Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền. (b) Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài. (c) Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên. (4) Câu tiểu đối: (a) Vế phải: trắc-trắc-trắc. (b) Vế trái: bằng-bằng-bằng. (5) Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu thực và câu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn. (6) Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại.

Người Trung Quốc phân loại câu đối theo cách dùng và đặc điểm nghệ thuật: (1) Phân loại theo cách dùng. (a) Xuân liên (春聯): Câu đối xuân, chuyên dùng vào dịp Tết, gắn ở cửa. (b) Doanh liên (楹聯): Câu đối treo ở cột trụ, dùng trong nhà, cơ quan, cung điện của vua và những nơi cổ kính. (c) Hạ liên (賀聯): Câu đối chúc mừng, thường được dùng để chúc thọ, chúc sinh nhật, hôn giá, thăng quan tiến chức, có con, khai nghiệp v.v. (d) Vãn liên (挽聯): Câu đối than vãn, dùng trong lúc ai điệu tử vong. (đ) Tặng liên (贈聯): Dùng để tán thán, đề cao hoặc khuyến khích người khác. (e) Trung đường liên (中堂聯): Câu đối dùng để treo ở những khách đường lớn, chỗ nhiều người lưu ý, và được phối hợp với bút hoạch (thư pháp). (2) Phân loại theo đặc điểm nghệ thuật: (a) Điệp tự liên (疊字聯): Một chữ xuất hiện liên tục. (b) Phức tự liên (複字聯): Hai vế có chữ giống nhau nhưng không xuất hiện một cách trùng phức liên tục. (c) Đỉnh châm liên (頂針聯): Chữ nằm phần đuôi của câu đầu lại là chữ đầu của câu sau. (d) Khảm tự liên (嵌字聯): Bao gồm số, phương vị, tiết khí, niên hiệu, họ người, nhân danh, địa danh, vật danh (ví như tên thuốc) v.v. (đ) Xích (sách) tự liên   (拆字聯): Mỗi hợp thể tự bên trong câu đối tách thành bao nhiêu chữ đơn thể, có người phân ra tinh tế hơn nữa là mở chữ ra (xích tự 拆字), hợp chữ lại (hợp tự 合字), tách chữ ra (tích tự 析字) v.v. (e) Âm vận liên (音韻聯): Bao gồm đồng âm dị tự, đồng tự dị âm cùng với điệp vận. (g) Hài thú liên (諧趣聯): Hàm dung ý nghĩa khôi hài, ẩn kín. (h) Vô tình đối  (無情對): Ý nghĩa trên dưới không tương quan một mảy may nào, có chỉnh những chữ, từ. Phần lớn Vô tình đối này ít thấy ý vị, hoàn toàn có thể quy nhập vào Hài thú liên bên trên. (i) Hồi văn liên (回文聯): Đọc xuôi (thuận độc 順讀) hay đọc ngược (đảo độc 倒讀) ý tứ hoàn toàn như nhau.

Câu đối Việt Nam được Dương Quảng Hàm phân loại theo ý nghĩa, gồm các loại sau: (1) Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới... (2) Câu đối phúng: làm để viếng người chết. (3) Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa... về dịp Tết Nguyên Đán. (4) Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ. (5) Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi. (6) Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác. (7) Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt. (8) Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu. (9) Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao.

(10) Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối oái oăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa... (1)

3. Như vậy, ta có thể thấy rằng, hai câu tiếng Thái ở Đền Chín Gian trên, không phải là “câu đối”. Nhân tiện cũng nói thêm, lịch sử văn học Thái không có truyền thống câu đối. Những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây, trong nhà người Thái có treo câu đối (tiếng Việt) là để trang trí là chính. Không phải ai cũng hiểu câu đối tiếng Việt và Hán Việt. Vậy hai câu tiếng Thái trên là gì? Đó là hai câu tục ngữ. Các nhà nghiên cứu văn hóa Thái từ lâu đã xếp hai câu này vào thể loại “tục ngữ”.

“Tục ngữ” là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng. Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra từ tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài. Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ... Đa số tục ngữ đều có vần, gồm hai loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca... Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

“Tục ngữ”, khái niệm này tất nhiên là do các nhà nghiên cứu văn học đặt ra. Trong lịch sử văn học Thái không có khái niệm này. Người ta chỉ gọi những câu như vậy là “quam xón côn”, tức là “lời răn người”. “Đày ky bò lưm thủ/ Đày dủ lưm cống” (Được ăn không quên đũa/ Được ở không quên công) đúng là “lời răn người” không được quên ơn (những người đi trước). Một lời “khuyên răn” về đạo lý làm người, đạo lý sống như vậy, treo ở đền Chín Gian thật là có ý nghĩa! Nó răn dạy con cháu dòng họ Lo Căm (thờ tổ tiên trong đền Chín Gian) và cả ngoài dòng họ Lo Căm phải ghi nhớ công ơn cha ông đã khai bản lập mường cách đây hơn 5 thế kỷ, mới có được bản mường tươi đẹp như ngày hôm nay. 

 

Chú thích

(1) Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

Đất và người xứ Nghệ khác:
Văn thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (5/11/2019)
Người một đời tâm huyết với xứ Nghệ (5/11/2019)
PGS. Ninh Viết Giao - Người nặng lòng với văn hóa dân gian xứ Nghệ (5/11/2019)
NGUYỄN CẢNH HOAN(1) (23/10/2019)
Về Hưng Tân nghe hát Ví, Giặm (11/10/2019)
Nguyễn Trung Phong - Người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm (11/10/2019)
Khám phá hang động Thằm Viên nơi biên giới miền Tây Nghệ An (25/9/2019)
Khám phá ngôi đình cổ 300 năm tuổi ở xứ Nghệ được dựng chỉ trong 1 đêm (14/9/2019)
Nhà thơ dân gian Trần Hữu Nghiêm (12/9/2019)
Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện - Người được lập đền thờ khi còn sống (9/9/2019)
Những hình ảnh quý hiếm về cảng Bến Thủy sầm uất gần một thế kỷ trước (7/9/2019)
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 240 | Tất cả: 1,917,971
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp