ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > KHÁM PHÁ XỨ NGHỆ AN
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn
Tin đăng ngày: 7/8/2019 - Xem: 64
 

Thái Huy Bích

Upload 

Sắc phong thần cho Ngài Nguyễn Viết Nhung tại Nhà thờ Nguyễn Viết

Nhiều văn bản chữ Quốc ngữ viết chưa đúng về phủ Hưng Nguyên

Phủ Hưng Nguyên tồn tại gần 50 năm, ra đời năm Thành Thái thứ 10 (1898), xóa tên sau Cách mạnh tháng Tám - 1945. Phủ Hưng Nguyên quản lý hai huyện Hưng Nguyên và Nghi Lộc. Nhưng nhiều cuốn sách gần đây viết chưa đúng về đơn vị hành chính này.

Có một bản dịch sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, xuất bản năm 1996(1), không  dịch  đoạn viết về phủ Hưng Nguyên. Các tác giả viết sách liên quan đến địa danh phủ Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc giai đoạn 1898 - 1945, mà tham khảo sách này đều có sai sót. Chẳng hạn sách “Địa chí văn hóa huyện Hưng Nguyên” trang 12, có đoạn: “… vào đời Khải Định năm 1919, cấp phủ là cấp hành chính trên cấp huyện bị bãi bỏ, phủ chỉ ngang huyện hay nhỉnh hơn huyện một tí chút mà thôi. Hưng Nguyên được gọi là phủ Hưng  còn lại 6 tổng(2). “Địa chí huyện Nghi Lộc”, xuất bản năm 2014 cũng không viết huyện này từng thuộc phủ Hưng Nguyên.

Bài viết bài này đính chính những sai sót do chính tôi và một số nhà nghiên cứu đã viết, khi chưa có điều kiện tra cứu tư liệu Hán Nôm.

  1. Sách “Đại Nam nhất thống chí” viết về phủ Hưng Nguyên

In sao chữ Hán:

興元府  在省城西三里,東西距三十五里,南北距六十四里,東至海二十

里, 西至南坛縣界九里, 南至羅山宜春二縣界十里, 北至東城縣界五十四里.

漢咸驩縣地, 黎初置縣一曰 興元一曰真福,隷英都德光二府. 本朝因之嘉隆

明命年间圴隸英山府統轄,成泰十年以興元縣為府,統宜祿.今領縣二.

興元縣府兼里,東西距十一里,南北距六十四里,東至宜祿縣界, 西至南坛

縣界, 南至羅山縣界, 北至東城縣界. 黎初置縣隷英都府.本朝嘉隆因之,改為府

兼里,十二年改府統轄, 成泰十年改曰府,今領總七,社村一百二十五.

          谨按: 成泰十年机蜜院奏凖興元改為府,又十八年乂安省咨冊,則興元縣之名

無復存者. 然一統志所載,凡他府轄均有兼理統轄之例,蓋前載府名, 乃統一

府之疆界,後載縣名,乃分一府之疆界,苟不存興元縣前名号,則疆界不明,其所領

總社之数,無所管轄, 故併著之以備稽考.

    宜祿縣 府統轄. 在府東北,西東距二十四里,南北距四十六里,東至海, 西興元縣, 南至江宜春縣界, 北至興元縣界. 古新福縣,属明改真福,黎因之一

曰宜真,隸乂安府, 伪西改曰真祿,隷德壽府. 本朝明命七年改隸英山府,成泰元年

改今名, 十年改隸本府. 今領總四,社村八十一.前有训導縣學在錦場社,今废.

Phiên âm:

Hưng Nguyên phủ, tại tỉnh thành Tây tam lý, Đông Tây cự tam thập ngũ lý, Nam Bắc cự lục thập tứ lý, Đông chí hải nhị thập lý, Tây chí Nam Đàn huyện giới cửu lý, Nam chí La Sơn, Nghi Xuân nhị huyện giới thập lý, Bắc chí Đông Thành huyện giới ngũ thập tứ lý.

Hán Hàm Hoan huyện địa. Lê sơ trí huyện, nhất viết Hưng Nguyên, nhất viết Chân Phúc, lệ Anh Đô, Đức Quang  nhị  phủ. Bản triều nhân chi, Gia Long, Minh Mạng niên gian quân lệ Anh Sơn phủ thống hạt. Thành Thái thập niên dĩ Hưng Nguyên huyện vi phủ, thống Nghi Lộc. Kim lãnh huyện nhị.

Hưng Nguyên huyện, phủ kiêm lý. Đông Tây cự thập nhất lý, Nam Bắc cự lục thập tứ lý, Đông chí Nghi Lộc huyện giới, Tây chí Nam Đàn huyện giới, Nam chí La Sơn huyện giới, Bắc chí Đông Thành huyện giới. Lê sơ trí huyện, lệ Anh Đô phủ. Bản triều Gia Long nhân chi cải vi phủ kiêm lý, thập nhị niên cải phủ thống hạt. Thành Thái thập niên cải viết phủ. Kim lãnh tổng thất, xã thôn nhất bách nhị thập ngũ.

Cẩn án: Thành Thái thập niên, Cơ Mật viện tấu chuẩn Hưng Nguyên cải vi phủ, hựu thập bát niên Nghệ An tỉnh tư sách tắc Hưng Nguyên huyện chi danh vô phục tồn giả. Nhiên Thất thống chí sở tải, phàm tha phủ hạt quân hữu kiêm lý thống hạt chi lệ, cái tiền tải phủ danh, nải thống nhất phủ chi cương giới, hậu tải huyện danh, nải phân nhất phủ chi cương giới. Cẩu bất tồn Hưng Nguyên huyện tiền danh hiệu tắc cương giới bất minh kỳ sở lãnh tổng xã chi số, vô sở quản hạt. Cố tính trước chi dĩ bị kê khảo.

Nghi Lộc huyện, phủ thống hạt. Tại phủ Đông Bắc, Tây Đông cự nhị thập tứ lý, Nam Bắc cự tứ thập lục lý, Đông chí hải, Tây chí Hưng Nguyên huyện, Nam chí giang Nghi Xuân huyện giới, Bắc chí Hưng Nguyên huyện giới. Cổ Tân Phúc huyện. Thuộc Minh cải Chân Phúc. Lê nhân chi nhất viết Nghi Chân, lệ Nghệ An phủ. Ngụy Tây cải viết Chân Lộc, lệ Đức Thọ phủ. Bản triều Minh Mệnh thất niên cải lệ Anh Sơn phủ. Thành Thái nguyên niên cải kim danh, thập niên cải lệ bản phủ. Kim lãnh tổng tứ, xã thôn bát thập nhất. Tiền hữu Huấn đạo huyện học tại Cẩm Trường xã, kim phế.

Dịch nghĩa:

Phủ Hưng Nguyên(3) nằm phía Tây thành Nghệ An, cách 3 dặm(4). Chiều Đông Tây 35 dặm, chiều Nam Bắc 64 dặm, phía Đông cách biển 20 dặm, phía Tây cách địa giới huyện Nam Đàn 9 dặm, phía Nam cách địa giới huyện La Sơn, Nghi Xuân 10 dặm, phía Bắc cách địa giới huyện Đông Thành 54 dặm.

Thời thuộc Hán đây là huyện Hàm Hoan. Triều Lê Sơ lấy một phần đặt huyện Hưng Nguyên, một phần đặt huyện Chân Phúc. Huyện Hưng Nguyên thuộc phủ Anh Đô. Huyện Chân Phúc thuộc phủ Đức Quang. Triều Nguyễn, dựa theo đó, các triều vua Gia Long, Minh Mạng đều đặt hai huyện thuộc phủ Anh Sơn. Năm Thành Thái thứ 10 (tức năm 1898), đối là Phủ Hưng Nguyên, quản lý cả huyện Nghi Lộc. Nay phủ quản lý hai huyện.

Huyện Hưng Nguyên do phủ kiêm lý. Chiều Đông Tây 11 dặm, chiều Nam Bắc 64 dặm, phía Đông giáp huyện Nghi Lộc, phía Tây giáp huyện Nam Đàn, phía Nam giáp huyện La Sơn, phía Bắc giáp huyện Đông Thành. Thời Lê sơ thuộc phủ Anh Đô. Thời Nguyễn, triều vua Gia Long, dựa theo đó, chuyển cho phủ kiêm lý, năm Gia Long thứ 12 chuyển sang chế độ phủ thống hạt. Năm Thành Thái thứ 10 đổi gọi là phủ. Nay quản lý 7 tổng 125 xã, thôn(5).

Huyện Nghi Lộc do phủ thống hạt, nằm phía Đông Bắc của phủ lỵ. Chiều Đông Tây 24 dặm, chiều Nam Bắc 46 dặm, phía Đông đến biển, phía Tây đến huyện Hưng Nguyên, phía Nam đến sông giáp giới huyện Nghi Xuân, phía Bắc giáp huyện Hưng Nguyên. Thời cổ gọi là huyện Tân Phúc. Thời Bắc thuộc, nhà Minh đổi gọi Chân Phúc. Triều Lê nhân đó đổi gọi Nghi Chân thuộc phủ Nghệ An. Triều Tây Sơn đổi là huyện Chân Lộc thuộc phủ Đức Thọ. Triều Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 7 đổi thuộc phủ Anh Sơn. Năm Thành Thái thứ 1 đổi gọi như hiện nay (Nghi Lộc). Năm Thành Thái thứ 10 chuyển sang thuộc phủ Hưng Nguyên. Nay huyện quản lý 4 tổng 81 xã, thôn(6).

III. Một số tư liệu khác về phủ Hưng Nguyên

  1. Bia Tiến sĩ ở Văn miếu Huế, khoa thi năm Đinh Vị, niên hiệu Thành Thái thứ 19 (đầu 1907), trong số 4 người đậu đệ nhị giáp (Phó bảng), có một người Nghệ An tên là Nguyễn Đức Lý. Quê quán ông Nguyễn Đức Lý văn bia chép như sau (phiên âm chữ Hán): “Yên Trường tổng, Nghi Lộc huyện, Hưng Nguyên phủ, Nghệ An tỉnh”(7).
  2. Sắc phong thần cho Ngài Nguyễn Viết Nhung tại nhà thờ họ Nguyễn Viết, khối 16 phường Hồng Sơn, thành phố Vinh, vào năm Khải Định thứ 9 (1924), mở đầu như sau (phiên âm): “Sắc Nghệ An tỉnh, Hưng Nguyên phủ, Yên Trường Xã, Trung Mỹ thôn…”.

 

Chú thích

  1. Lê Dần chịu trách nhiệm xuất bản. Cục xuất bản cấp giấy phép ngày 26/3/1996. In tại Xí nghiệp in quận I. TP Hồ Chí Minh.
  2. PGS Ninh Viết Giao, chủ biên, NXB Khoa học Xã hội-2009.
  3. Phủ lỵ Hưng Nguyên xưa ở vị trí chợ Đước, xã Hưng Chính, TP Vinh ngày nay.
  4. 1 dặm thời Nguyễn bằng 0,5 km.

5-6. Đại Nam nhất thống chí bắt đầu viết năm Tân Dậu, niên hiệu Tự Đức 14 (1861). Năm Duy Tân thứ nhất (cuối 1907), phủ Hưng Nguyên có sự thay đổi số tổng của hai huyện (thay đổi sau khi in Đại Nam nhất thống chí). Cắt tổng Yên Trường của huyện Nghi Lộc sáp nhập về huyện Hưng Nguyên, đổi lại cắt hai tổng Vân Trình và La Vân của huyện Hưng Nguyên sáp nhập về huyện Nghi Lộc. Như vậy Hưng Nguyên còn lại 6 tổng, giảm 1 tổng. Nghi Lộc có 5 tổng, tăng 1 tổng. Số tổng  2 huyện giữ như vậy cho đến 1945; Năm Thành Thái thứ 10, nhà Vua chuẩn tấu của viện Cơ Mật đổi gọi Hưng Nguyên là phủ và từ năm Thành Thái thứ 18 các công văn và sách vở ở Nghệ An không ghi tên huyện Hưng Nguyên nữa, thì tên huyện này không dùng. Tuy nhiên sách Nhất thống chí vẫn chép. Phàm các phủ hạt đều có lệ phủ kiêm lý, thống hạt. Trước chép tên phủ có địa giới của phủ, sau chép tên huyện vẫn là phân địa giới của phủ, nếu không còn tên huyện Hưng Nguyên nữa thì cương giới không rõ ràng, số tổng xã để quản lý không biết căn cứ vào đâu mà định. Vì vậy vẫn chép ra để dễ tra cứu.

  1. Sách “Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn”- Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế. NXB Thuận Hóa - tr 388, 389.

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Khám phá ngôi đình cổ 300 năm tuổi ở xứ Nghệ được dựng chỉ trong 1 đêm (14/9/2019)
Nhà thơ dân gian Trần Hữu Nghiêm (12/9/2019)
Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện - Người được lập đền thờ khi còn sống (9/9/2019)
Những hình ảnh quý hiếm về cảng Bến Thủy sầm uất gần một thế kỷ trước (7/9/2019)
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
Miền đất cổ Mường Chiêng Ngam (10/7/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (5/6/2019)
Miền Tây Nghệ An - Phong phú các loại hình văn hóa vật thể (24/5/2019)
Đào nương Trần Thị Khoan Cung phi của chúa Trịnh (21/5/2019)
Dòng họ 5 thế kỷ hát ca trù (21/5/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (24/4/2019)
Tiền sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục khoa bảng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (24/4/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 81 | Tất cả: 1,832,101
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp