ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > NON NƯỚC XỨ NGHỆ
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng
Tin đăng ngày: 7/8/2019 - Xem: 196
 

Trần Văn Hữu

"Đàn” là một loại hình công trình tín ngưỡng truyền thống của người Việt, ví dụ như đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, đàn Sơn Xuyên, đàn Tiên Nông, đàn Thanh Minh, Thiện Đàn… Đàn có thể chỉ là một nền đất đắp lộ thiên hoặc có các công trình nhà cửa. Có những loại đàn chỉ mang tính chất tạm thời như đàn cầu siêu, đàn cầu an… (những đàn này chỉ lập lên khi có việc cầu cúng, xong thì triệt giải). Tuy nhiên cũng có những đàn có quy mô lớn, xây dựng kiên cố, có lịch sử hàng trăm năm như đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, đàn Sơn Xuyên và hệ thống các thiện đàn… Thiện Đàn hay Đàn Thiện là tên gọi chung của những di tích do Hội Thiện lập nên nhằm giữ gìn phong hóa, khuyến khích điều thiện, tuyên truyền các tư tưởng yêu nước thương nòi, giải phóng dân tộc, ví dụ như: Hiếu Thiện Đàn, Cư Thiện Đàn, Lạc Thiện Đàn, Giác Thiện Đàn, Công Thiện Đàn, Khuyến Thiện Đàn.v.v… Tuần Thiện Đàn tại xóm Tây Lộc, xã Diễn Ngọc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An là một trong số các thiện đàn như vậy. Ngay trong tên gọi của di tích đã thể hiện rõ điều đó: “- Tuần” nghĩa là noi theo, tuân theo, “ - Thiện” nghĩa là tốt, lành, như điều thiện, việc thiện… “Tuần thiện” nghĩa là noi theo điều thiện.     

Upload    Bộ tượng Ngọc Hoàng Thượng đế và Nam tào Bắc đẩu tại Tuần Thiện Đàn

Tuần Thiện Đàn ra đời từ một cơ duyên rất thú vị. Năm Tân Mùi niên hiệu Tự Đức (1871), ông Nguyễn Ngọc Mỹ người xóm Cổng, làng Lý Nhân là một chủ thuyền giàu có, hiền lành phúc hậu, trong một chuyến ra khơi, khi thuyền vừa chuẩn bị bỏ neo buông lưới thì ông phát hiện thấy có vật lạ đang dập dềnh trên sóng nước. Ông liền gọi các bạn thuyền và liền em trục vớt lên thì được một pho tượng Quan Thánh Đế Quân dáng người quắc thước, mặc võ phục, râu dài, mặt đỏ, nét mặt oai nghiêm. Ông thành kính để bức tượng lên trên đầu mũi thuyền rồi đốt đèn, thắp hương, khấn rằng “nếu ngài linh thiêng cho tôi kéo được mẻ cá lớn”. Các bạn thuyền và liền em buông lưới xuống biển và quả nhiên được như ý. Sau đó, ông lại khấn tiếp “nếu quả thật linh thiêng thì xin ngài cho tôi thêm một mẻ cá nữa”. Lần thứ hai cũng được nhiều như lần trước. Được mẻ cá lớn đầy thuyền, vừa lúc thuận Nồm(1), ông dương buồm cho thuyền về bến. Sau đó, ông chọn một khu đất cao ráo có phong cảnh đẹp rồi làm một ngôi nhà nhỏ bằng tre, lợp mái rạ, ba mặt thưng phên nứa, phía trước che mành để thờ phụng pho tượng. Từ ngày được pho tượng quý, gia đình ông làm ăn càng khấm khá lên, mọi việc được thuận lợi trôi chảy. Tiếng đồn về pho tượng Quan Thánh Đế Quân linh thiêng bay đi khắp nơi, nhiều người nghe vậy cũng đến đây lễ bái cầu khấn, trước mỗi chuyến vào lộng ra khơi hoặc gặp những chuyện khó khăn hoạn nạn đều được ngài phù hộ cho tai qua nạn khỏi.       

Upload

Bộ tượng Tam thế Phật lưu tại Di tích

Mùa thu năm Giáp Tuất (1884), thuyền của cụ Quyền Định (người làng Lý Nhân) trong lúc đang đánh cá ngoài khơi thì gặp nạn. Cụ giao cho người nhà là ông Bạ Yên và ông Bách Tùng ở lại canh giữ thuyền còn mình về sửa biện lễ vật đến miếu Quan Thánh Đế Quân cầu đảo. Sau đó quả nhiên linh ứng, thuyền được lai dắt về bến an toàn. Mọi người đều rất vui mừng phấn khởi và lại càng sùng bái ngài Quan Thánh Đế Quân hơn. Năm đó lại được mùa cá, các chủ thuyền trong vùng bàn bạc nhau cùng chung tay góp sức để xây dựng lại nơi thờ Quan Thánh Đế Quân. Hàng chục thuyền chia thành các đoàn đi các vùng để mua vật liệu về xây dựng, có thuyền thì vào cung Nẻ (nay thuộc huyện Nghi Lộc) để chờ cát, đá; có thuyền thì ngược sông Bùng lên kẻ Dặm, kẻ Mốt, chợ Bộng và các vùng ngược để mua vôi, mật mía, ngói, gỗ... Chỉ trong một thời gian ngắn, điện thờ đức Quan Thánh Đế Quân đã được xây xong với bộ khung nhà bằng gỗ lim, xung quanh xây tường, mái lợp ngói âm dương (nay chính là nhà Thượng điện). Điện thờ Đức Quan Thánh được đặt tên là “Tuần Thiện đàn”. Sự linh thiêng của đàn ngày càng được nhiều người biết đến, quy mô của đàn cũng được củng cố và mở rộng thêm. Năm Canh Ngọ, niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930), nhân mùa giã(2) thắng lợi, các chủ thuyền cùng nhau đổ đồng(3) hai chuyến để trùng tu đàn và xây thêm nhà Bái đường (nay là nhà Trung điện). Đến năm Quý Mùi niên hiệu Bảo Đại (1943), các đàn sinh và thiện nam, tín nữ cùng chung tay góp sức xây dựng thêm nhà Hạ điện và Nghi môn.  

Upload   Bài trí bàn thờ tại Di tích

Quan Thánh Đế Quân hay còn được gọi là Đức Thánh Quan, Quan Công, Quan Vân Trường là một danh tướng thời Tam Quốc, được phong tước Thọ Đình hầu và xếp vào hàng ngũ hổ tướng quân. Hình ảnh Quan Công tay cầm thanh long đao, cưỡi ngựa Xích Thố oai phong lẫm liệt giữa trận tiền đã trở thành một biểu tượng bất hủ của võ tướng thời phong kiến. Quan Công không chỉ là võ tướng lừng danh mà ông còn nổi tiếng cương trực và tín nghĩa, trước sau như một. Chức tước, vàng bạc, người đẹp không thể lay chuyển được tấm lòng kiên trung của ông. Như chuyện Tào Tháo muốn thu phục Quan Công nên rất đem lòng hậu đãi, Quan Công khước từ tất cả, “treo ấn, niêm vàng” để về với Lưu Bị. Hay chuyện ở Hoa Dung mở lối trả ơn, vì ân xưa nghĩa cũ mà Quan Công đem cả tính mạng của mình để mở đường cho Tào Tháo thoát chết, người đời có thơ khen “Liều đem một chết đền tri kỷ, nên được ngàn thu nổi nghĩa danh(4). Chính đức tính này đã đưa hình ảnh Quan Công trở thành biểu tượng cao đẹp của “trung - tín - nghĩa”. Dân gian ca tụng ông “trung can huyền nhật nguyệt, nghĩa khí quán càn khôn” (trung can sánh với nhật nguyệt, nghĩa khí xuyên càn khôn). Xét về phương diện văn hóa, dân gian tôn sùng ông như một vị thần, vị thánh, vị phật, với nhiều danh hiệu như Quan Thánh Đế Quân, Quan Đế Gia, Cái Thiên Cổ Phật, Tây Sơn Phu Tử, Hiệp Thiên Đại Đế, Phục Ma Đại Đế. Tín ngưỡng thờ Quan Thánh phổ biến từ thời nhà Đường, nhưng đến đời nhà Thanh thì ông được sùng kính như vị thần hộ vệ cho hoàng tộc. Trong Phật giáo, ông được tôn kính như là vị Đại Hộ Pháp, hàng phục yêu ma, bảo hộ già lam, được thờ cùng với Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. Đặc biệt, trong dân gian, hình tượng của ông còn được tôn sùng dưới nhiều góc độ khác nhau. Với đặc trưng tính cách tín nghĩa nên những người kinh doanh buôn bán xem Quan Công như một vị thần tài. Bởi trong công việc kinh doanh, luôn luôn phải lấy chữ “Tín” làm đầu. Chữ “Tín” quý hơn cả vàng. Chữ “Tín” là danh dự, là thương hiệu, là tài sản vô giá... Vì thế người ta thờ Quan Công với tâm niệm luôn phải giữ chữ “Tín” và mong muốn được phù hộ cho công việc kinh doanh thuận buồm xuôi gió, đắc tài đắc lộc. Hình tượng Quan Công còn được coi là một linh tượng thiêng liêng trong phong thủy. Người ta thường dùng tượng hoặc tranh vẽ Quan Công để trấn những nơi có phong thủy không tốt.

Upload

Bộ tượng Tam thế Phật

Người Việt Nam biết đến Quan Công thông qua tác phẩm “Tam quốc chí diễn nghĩa” của La Quán Trung nhiều hơn là thông qua Bắc sử (lịch sử Trung Quốc). Người ta tôn sùng Quan Công chính là tôn sùng hình ảnh nhân vật Quan Công trong tác phẩm “Tam quốc chí diễn nghĩa” được xây dựng nên với những phẩm chất tốt đẹp. Dân gian Việt Nam thờ ông chính là thờ biểu tượng của lòng trung tín nghĩa, khí tiết của người quân tử đại trượng phu. Triều Nguyễn đã ban sắc phong thần cho Quan Thánh Đế Quân(5) và cho lập Võ Miếu thờ Quan Thánh ngay bên cạnh Văn Miếu ở kinh thành Huế. Ở Nghệ An, đến nay, chưa rõ tín ngưỡng thờ Quan Thánh có từ khi nào nhưng đến thời nhà Nguyễn thì khá phổ biến. Đền thờ Quan Thánh lớn nhất của tỉnh và được nhà nước bảo trợ là Võ Miếu Nghệ An (được xây dựng từ thời Nguyễn ở phía Đông Nam tỉnh thành, nay là đền Hồng Sơn, thành phố Vinh). Ngoài ra ở một số địa phương có Võ chỉ cũng thờ Quan Thánh (như Võ chỉ xã Diên Lãm, sau này trở thành Hiếu Thiện đàn, nay thuộc xã Vân Diên, Nam Đàn). Đặc biệt nhiều nhất là hệ thống các Thiện Đàn. Hầu như các huyện ở đồng bằng và trung du Nghệ An đều có Thiện Đàn. Tại các Thiện đàn, nhân vật được thờ chính thường là Quan Thánh Đế Quân, như Giác Thiện đàn, Tuần Thiện Đàn (Diễn Châu), Khuyến Thiện Đàn (Thị trấn Yên Thành), Chỉ Thiện Đàn, Hiếu Thiện Đàn, Cư Thiện Đàn (Nam Đàn), Cổ Thiện Đàn (thành phố Vinh), Hội Thiện Đàn (Đô Lương)... Trong các tập kinh giáng bút của Thiện Đàn thường có bài giáng thơ của Quan Thánh Đế Quân mở đầu hoặc thừa lệnh khâm sai của Ngọc Đế giáng đàn truyền kinh. Thậm chí Quan Thánh Đế Quân còn có cả một tập kinh riêng, gọi là “Quan Thánh chân kinh”. Điều đó chứng tỏ rằng sự ảnh hưởng của Quan Thánh Đế Quân trong hệ thống Thiện đàn là rất lớn.      

Tuần Thiện đàn gắn liền với hoạt động của Hội Thiện. Hội Thiện là hội tập hợp những người làm việc thiện, hướng thiện, có tổ chức khá chặt chẽ, có Hội chủ (đàn chủ), Hội viên (đàn sinh), thư ký, thủ quỹ... Hội tổ chức khắc in kinh sách, giảng kinh, tụng niệm, thực hành những giáo huấn của tiên thánh, hỗ trợ các đàn sinh và nhân dân trong cuộc sống hàng ngày... Thậm chí nhiều thành viên Hội là những nhà hoạt động cách mạng bí mật dưới danh nghĩa “thầy cúng” của đàn. Hoạt động của Hội Thiện và Tuần Thiện đàn không chỉ bó hẹp trong phạm vi làng Lý Nhân mà còn có sự giao lưu, liên kết với các Hội, Đàn ở các vùng miền khác. Kinh sách đọc tụng hàng ngày tại đàn, ngoài những kinh được giáng bút tại đây còn có nhiều kinh được rước, được thỉnh từ các thiện đàn khác ở Nam Đàn (Nghệ An), Hà Nội, Hà Tây, Hà Đông, Nam Định... Hội thiện và Tuần Thiện Đàn đã trở thành một trong những địa điểm hoạt động bí mật của những người yêu nước và các chiến sĩ cộng sản. Bề ngoài, Tuần Thiện Đàn vẫn hoạt động như một cơ sở tín ngưỡng tâm linh của người dân, có lễ bái, cầu cúng, xin xăm, bốc thuốc, đọc kinh, giảng kinh nhưng ẩn chứa trong những bài kinh thánh giáng bút là những tư tưởng tiến bộ, khơi dậy lòng yêu nước, tự tôn dân tộc(6). Theo sách Lịch sử Đảng bộ & nhân dân xã Diễn Ngọc và lời kể của các cụ cao niên tại địa phương(7), Tuần Thiện Đàn là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của địa phương, tiêu biểu như:

- Giữa năm 1928, nhóm Thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Tiên Lý đã tổ chức nhiều phường, hội cách mạng khác nhau như Hội học sinh, Hội đá ban, Hội hiếu, Phường cho vay, Phường đan lưới, chắp dây, đánh gai, vá buồm… để tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê nin, giáo dục chính trị cho nhân dân(8). Lúc này, Hội Thiện đã được hình thành từ trước đó, chuyên tương trợ cứu tế với tinh thần lá lành đùm lá rách. Mục đích hoạt động của Hội Thiện có nhiều điểm tương đồng với nội dung tuyên truyền của nhóm Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Vì thế, nhóm này đã nhân đó lồng ghép, truyền bá nhiều tư tưởng cách mạng tiến bộ trong các sinh hoạt của Hội Thiện, đặc biệt là qua những bài kinh giáng bút của các vị tiên thánh để kêu gọi nhân dân từ bỏ các hủ tục lạc hậu, rượu chè, bài bạc, trai gái…  

- Trong thời kỳ 1936 - 1939:

+ Thực hiện chỉ thị của Phủ ủy về chuyển hướng sinh hoạt bí mật sang công khai nửa bí mật, nhiều tổ chức quần chúng được sắp xếp lại. Đông đảo thanh niên và nông dân đã vào Hội Văn, Hội Võ, Hội Thiện(9)… Lúc này, số lượng hội viên của Hội Thiện và đàn sinh của Tuần Thiện đàn lại càng đông hơn trước, các kinh sách được khắc bản và in ra với số lượng lớn(10). Trong đó có nhiều tài liệu bí mật được trà trộn trong các bản kinh để phát tán đến các cơ sở khác. Tài liệu được ngụy trang dưới vỏ bọc là những quyển kinh Đàn Thiện rồi từ đó truyền đến các Thiện đàn và các cơ sở bí mật. Nội dung tuyên truyền yêu nước, chống giặc ngoại xâm được lồng ghép trong các bài giảng kinh, nhấn mạnh các khái niệm tự do, dân chủ, bác ái, bình đẳng (có các đồng chí Bá, đồng chí Nguyễn Viết Tốn, đồng chí Nguyễn Dụy, đồng chí Hiệp cùng hoạt động trong phong trào này).

+ Trong thời điểm này, phong trào học chữ Quốc ngữ lên cao, việc học chữ Quốc ngữ được sáng tạo bằng nhiều cách như lồng ghép với việc đọc báo, bình thơ(11). Tuần Thiện Đàn cũng là một trung tâm truyền bá chữ Quốc ngữ, có các thầy Trần Văn Ngọc, thầy Trung, thầy Phú là những người hoạt động rất tiêu biểu.    

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, xã Diễn Ngọc nói riêng và huyện Diễn Châu nói chung nằm trên tuyến giao thông huyết mạch cả đường bộ và đường thủy nên bị máy bay địch bắn phá, càn quét dữ dội, các đền, chùa, miếu mạo, nhà thánh trong vùng phần thì bị bom đạn phá hủy, phần thì bị tiêu thổ kháng chiến (như đền Cả, đền Đệ Nhất, đền Đệ Nhị, đền Bản Cảnh, Chùa Tiên Sơn, chùa Quýnh, Nhà thánh Lý Nhân...), riêng Tuần Thiện đàn vẫn hiên ngang trước mưa bom bão đạn của quân thù để rồi “trơ gan” cùng tuế nguyệt. Các công trình kiến trúc gần như còn nguyên vẹn, nhân dân đã rước tượng, long ngai bài vị của các vị Phật, thánh, thần và đồ tế khí ở các di tích trong vùng về hợp tự và cất giữ tại đây. Hiện nay ngoài thờ chính là Quan Thánh Đế Quân, Tuần Thiện đàn còn là “ngôi nhà chung” của Chư Phật, Bồ Tát, Thần Tiên, Khổng Tử, các vị tiên hiền khoa bảng, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, Tứ Vị Thánh Nương, Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn, Bản Cảnh Thành Hoàng Ông Cấu Tối Cao Linh Thần, Cá Ông... Vì vậy, đây là nơi giữ gìn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các làng cổ trong khu vực. Hàng năm tại Tuần Thiện đàn có nhiều ngày lễ để kỷ niệm, tri ân các vị tiên thánh, thần phật như: Lễ húy kỵ Sát Hải Đại vương (mồng một tết Nguyên đán), lễ Khánh đản Ngọc Hoàng Thượng Đế (9/1 âm lịch), lễ Khai Xuân (16/1 âm lịch), lễ Khánh đản Văn Xương Đế Quân (3/2 âm lịch), lễ Phật đản (Bụt Sinh, 8/4 âm lịch), lễ Khánh đản Quan Thánh Đế Quân (24/6 âm lịch), lễ thánh húy Văn Xương Đế Quân (26/7 âm lịch), lễ khánh đản Táo Quân (3/8 âm lịch), lễ Táo Vương triều thiên (Tất niên, 23/12 âm lịch). Tuy nhiên lớn nhất là lễ Phật đản (Bụt Sinh, 8/4 âm lịch) và lễ Khánh đản Quan Thánh Đế Quân (24/6 âm lịch). Mỗi năm thu hút hàng chục nghìn lượt khách về dâng hương, lễ bái. Mỗi người về đây đều mang mỗi mong ước khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một điểm là lòng thành kính tri ân và hướng thiện.               

Tuần Thiện Đàn là công trình kiến trúc tín ngưỡng, nơi thờ tự các vị phúc thần có công “hộ quốc tý dân” được sử sách và nhân dân ghi nhận. Tại di tích còn lưu giữ được nhiều cổ vật quý có giá trị, với tổng số 289 đơn vị hiện vật, trong đó có 232 cổ vật, 57 hiện vật mới, bao gồm các chất liệu: gỗ, sứ, đồng, giấy… tiêu biểu như hệ thống tượng Phật, tượng Bồ Tát, tượng Thánh Mẫu, tượng thần, long ngai, bài vị, hương án, khám thờ, bộ mộc bản gần 100 tấm, sách kinh bằng chữ Hán Nôm, sắc phong, hoành phi, câu đối… Các đồ tế khí được bài trí theo các nguyên tắc âm dương, ngũ hành như: đông bình tây quả, đông phù tây thủy, nam tả nữ hữu… phản ánh tư duy nông nghiệp, cầu mong sự vận động của vũ trụ và vạn vật thuận hành theo các quy luật tự nhiên để muôn vật sinh sôi, phát triển thịnh vượng, đồng thời tạo thêm sự linh thiêng cho di tích. Những cổ vật này giúp các nhà khoa học có thêm tư liệu để nghiên cứu về nghệ thuật điêu khắc dân gian, kỹ thuật sơn thếp, sự thay đổi y phục qua các thời đại và trang phục của các tầng lớp trong xã hội. Đặc biệt là hệ thống tượng cổ với những đường nét hoa văn thật mềm mại, uyển chuyển, phô diễn hết những cái tinh túy của nghệ thuật dân gian. Tất cả những tác phẩm nghệ thuật đó thể hiện sự tài hoa và sáng tạo của nghệ nhân. Mỗi pho tượng là một tác phẩm nghệ thuật không trùng lặp. Từ vóc dáng, khuôn mặt, ánh mắt, khóe môi, cử chỉ, trang phục, trang sức… trên mỗi pho tượng đều toát lên những vẻ đẹp thánh thiện rất gần gũi với tâm hồn con người Việt Nam. Trải qua sự bào mòn của tuế nguyệt và những biến cố thăng trầm của thời cuộc nhưng những nét vàng son vẫn nhuận sắc với thời gian.    

Tuần Thiện Đàn còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc. Đứng trước cảnh nước mất nhà tan, đại đa số nhân dân còn chìm đắm trong mê muội, các văn thân trí thức của Hội Thiện đã lập Thiện Đàn nhằm kêu gọi giữ gìn thuần phong mỹ tục, bãi bỏ những hủ tục mê tín dị đoan, hủ lậu. Đặc biệt, ẩn chứa trong các bài thơ giáng bút, những bài kinh thánh là những lời thức tỉnh nhân tâm, thức tỉnh lòng yêu nước đang âm ỷ trong trái tim mỗi người dân đất Việt, thậm chí có cả những bài tuyên truyền cách mạng, khuyến khích học tập mở mang dân trí, lợi ích dân sinh... Vì thế, Thiện Đàn nói chung và Tuần Thiện Đàn nói riêng đã đóng một vai trò quan trọng trong một giai đoạn lịch sử nhạy cảm và đầy biến động của dân tộc, góp phần cho những thắng lợi trên mặt trận đấu tranh chính trị, tuyên truyền yêu nước.    

Trải qua hơn một thế kỷ tồn tại, Tuần Thiện Đàn luôn là địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh hướng thiện của người dân Tiên Lý xưa và Diễn Ngọc nay cũng như cả vùng nói chung. Mỗi người về đây như gạt bỏ được những điều bất thiện và hướng lương tâm đến những điều thiện, điều lành. Sự thành kính đối với các bậc tiền nhân thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Những lời Thánh huấn, những bài thơ giáng bút, những bài Kinh Thánh đều hướng con người đến “chân thiện mỹ”. Việc nghiên cứu các hoạt động tế lễ, hội hè và các bản kinh ở di tích còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của địa phương và dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, đoàn kết xóm làng.

Hiện nay, các hoạt động tế lễ được tổ chức rất trang nghiêm, trọng đại vừa mang bản sắc cổ truyền lại vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện đại thu hút hàng chục nghìn lượt khách về dâng hương, hành lễ mỗi năm. Đặc biệt, việc cúng tế ở Tuần Thiện đàn hầu như không sử dụng vàng mã. Đây là nét đẹp văn hóa, vừa thể hiện nếp sống văn minh, hiện đại, vừa thực hiện đúng những lời giáo huấn của các vị tiên thanh, cần tuyên truyền và nhân rộng hình mẫu cho các di tích trên địa bàn. Các hoạt động văn hóa tín ngưỡng tại di tích còn góp phần duy trì nét đẹp thuần phong mỹ tục truyền thống của địa phương, tăng cường mối đại đoàn kết cộng đồng. Cũng thông qua đó thể hiện tấm lòng tri ân, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, góp phần giáo dục nhân cách đạo đức cho thế hệ trẻ.

Đến với di tích là dịp để du khách được hòa mình vào không gian làng biển với bến cảng, bãi biển rì rào sóng vỗ. Phong cảnh nên thơ ấy sẽ giúp du khách giải tỏa những u sầu, buồn bực trong đời thường. Đồng thời thăm quan các di tích nổi tiếng và làng nghề trong vùng, như: đền Quan Lớn Bùng, Nhà thờ họ Trần và mộ Quản giáp Ca trù Trần Đức Lương, Lèn Hai Vai, đền Cuông, chùa Cổ Am, đền thờ Ngô Trí Hòa, làng nghề nước mắm, làng nghề làm muối…

Tuần Thiện Đàn là một công trình văn hóa tâm linh tiêu biểu của xã Diễn Ngọc nói riêng và huyện Diễn Châu nói chung. Đây là nơi ghi dấu và chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của địa phương, đồng thời cũng là nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân trong vùng. Hiện nay, di tích vẫn còn lưu giữ được các công trình kiến trúc gốc và nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị quý hiếm. Đây, đã và đang là một địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh thu hút đông đảo nhân dân và du khách về chiêm ngưỡng, lễ bái. Vì vậy, việc lập hồ sơ xếp hạng trình các cấp có thẩm quyền công nhận di tích lịch sử là hết sức cần thiết, nhằm tôn vinh người có công với dân với nước và tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích. 

 

Chú thích

(1). Thuận Nồm nghĩa là gió Nồm lên, thuyền đi về thuận lợi.

(2). Giã: đánh bắt gần bờ. Mùa giã: mùa đi giã đánh cá. 

(3). Đổ đồng: nghĩa là được bao nhiêu đều đổ bán chung, không phân biệt nhiều ít.

(4). Tam quốc chí diễn nghĩa, sđd, tập 1, trang 914.

(5). Ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam nhiều nơi có sắc phong thần cho Quan Thánh Đế Quân. Hiện nay, ở Nghệ An chưa phát hiện sắc phong nào cho Quan Thánh.

(6). Theo lời kể của các nhân chứng sống, những đêm rằm, mồng một các cụ vẫn đưa kinh sách ra đọc giảng nhưng sau đó là bàn bạc công việc bí mật. 

(7). Theo lời cụ Lê Đức Nhân (88 tuổi), cán bộ lão thành cách mạng; cố Thành (97 tuổi) và cố Tấn (83 tuổi) là những cụ có cha ông làm thủ nhang tại đàn và bản thân các cụ cũng làm việc tại đàn lâu năm. Các cụ đều là người xã Diễn Ngọc.

8.9.11. Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Diễn Ngọc, sđd, trang 56,71,72.

  1. Hiện nay, tại đàn còn lưu giữ hàng trăm trang khắc mộc bản và hàng chục sách kinh.
Đất và người xứ Nghệ khác:
Văn thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (5/11/2019)
Người một đời tâm huyết với xứ Nghệ (5/11/2019)
PGS. Ninh Viết Giao - Người nặng lòng với văn hóa dân gian xứ Nghệ (5/11/2019)
NGUYỄN CẢNH HOAN(1) (23/10/2019)
Về Hưng Tân nghe hát Ví, Giặm (11/10/2019)
Nguyễn Trung Phong - Người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm (11/10/2019)
Khám phá hang động Thằm Viên nơi biên giới miền Tây Nghệ An (25/9/2019)
Khám phá ngôi đình cổ 300 năm tuổi ở xứ Nghệ được dựng chỉ trong 1 đêm (14/9/2019)
Nhà thơ dân gian Trần Hữu Nghiêm (12/9/2019)
Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện - Người được lập đền thờ khi còn sống (9/9/2019)
Những hình ảnh quý hiếm về cảng Bến Thủy sầm uất gần một thế kỷ trước (7/9/2019)
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 173 | Tất cả: 1,916,824
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp