NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống và sự tiếp nhận văn minh - Nhìn từ lễ tục cưới hỏi hiện nay
Tin đăng ngày: 9/7/2019 - Xem: 60
 

Trần Văn Dũng

 1. Đặt vấn đề

Chế độ một vợ một chồng ra đời đánh dấu một bước phát triển văn minh của xã hội loài người. Từ bao đời nay ở nước ta, lễ tục cưới hỏi đã trở thành nét văn hóa truyền thống của dân tộc được thể hiện cụ thể sinh động mang sắc thái đặc trưng của từng tộc người, từng địa phương, và cho dù có sự biểu hiện đôi nét khác biệt thì ngày cưới, lễ cưới vẫn là thời khắc hạnh phúc nhất của đôi uyên ương. Điều mà mỗi người chúng ta có lẽ có cùng suy nghĩ là những nét văn hóa truyền thống cổ xưa của dân tộc sẽ được bảo tồn, phát huy như thế nào trong bối cảnh mọi lĩnh vực của nền văn minh hiện đại đang lan tỏa đến mọi miền đất nước và tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực, mỗi thành viên xã hội? Văn hóa truyền thống là kho báu của dân tộc cần được bảo tồn, phát huy; tiếp nhận và tạo cơ hội để phát triển văn minh là một tất yếu cho sự phát triển xã hội. Vấn đề là làm thế nào để văn hóa truyền thống không cản trở sự phát triển văn minh, và ngược lại sự phát triển văn minh không làm mai một những nét đẹp của văn hóa truyền thống. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một vài khía cạnh về mối quan hệ nói trên trong khuôn khổ những nét chính của vấn đề lễ tục cưới hỏi hiện nay của người Việt (người Kinh). Các liên hệ thực tế, chủ yếu trên địa bàn Nghệ An.

Upload

 2. Vài nét xung quanh khái niệm văn hóa và văn minh

Văn hóa là sản phẩm được con người sáng tạo ra từ buổi bình minh của xã hội loài người. Tuy vậy, khái niệm văn hóa đang được hiểu và sử dụng theo nhiều góc độ, với nhiều  nghĩa khác nhau.      

Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất khi cùng xem văn hóa là một phức thể tổng hợp gồm cả sản phẩm vật chất và tinh thần trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, chủ yếu do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn.

Chúng tôi cho rằng: Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra phù hợp với nhận thức và tiêu chuẩn thẩm mĩ chung, mang đặc trưng của một cộng đồng nhất định và tích lũy qua quá trình thực tiễn, được lưu truyền qua thời gian.

Trong nội hàm của văn hóa mà các định nghĩa đã đi đến sự thống nhất như trên, có các yếu tố liên quan đến lễ tục cưới hỏi mà chúng tôi muốn đề cập.

Văn minh là một từ gốc Hán. Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì văn có nghĩa là dáng dấp bề ngoài và thường được hiểu là đẹp đẽ, tốt lành, trái với nghĩa mộc mạc, thô kệch; minh là sáng sủa, rõ ràng; văn minh là cái tia đạo đức phát hiện ra ở trong chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương. Hán Việt từ điển của Thiều Chửu cũng cho rằng văn minh là cái dấu vết do đạo đức, lễ nhạc, giáo hóa mà có vẻ đẹp rõ rệt, trái với dã man. Tuy nhiên văn minh là từ vốn được dịch từ ngôn ngữ phương Tây. Từ văn minh trong các ngôn ngữ phương Tây (civilisation, civilization, tsivilizatsia,…) đều có nguồn gốc tiếng Latin là ciuitus, nghĩa là trạng thái đã được khai hóa, không còn ở trạng thái sơ khai của xã hội loài người (thời kì cổ xưa, nguyên thủy) mà đã trở thành những cộng đồng nhất định. Ciuitus cũng có nghĩa là tình trạng đã có quốc gia, chính quyền, luật pháp. Từ văn minh được dùng rộng rãi ở phương Tây vào thế kỉ 18 (Thế kỉ Ánh Sáng). Nội hàm của khái niệm văn minh đã được F. Engels đề cập trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước. Một số các thành tố của văn minh lúc bấy giờ (như sự sáng tạo chữ viết, sự ra đời và phát triển công nghiệp, của nghệ thuật; chế độ một vợ một chồng; sự phân chia giai cấp,…) cũng chỉ mới được minh chứng qua một số nền văn minh như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã. Cũng từ đây, nội hàm của khái niệm văn minh dần dần được bổ sung và thay đổi. Ngày nay, nhiều nhà nhân loại học cho rằng, không có một tiêu chuẩn hoặc một số các tiêu chuẩn cụ thể nhất định để định nghĩa văn minh. Có thể nói, văn minh là một phạm trù lịch sử; khái niệm văn minh là chỉ sự tiến bộ xã hội, sự vươn tới một trình độ cao hơn về vật chất và tinh thần, một trật tự xã hội hợp lí cho phép con người vươn tới những đỉnh cao của khát vọng có tính cộng đồng. 

Như vậy, văn hóavăn minh đều chỉ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử. Chính vì thế, chúng ta thường hay sử dụng đồng nhất hai khái niệm này.

Upload

3. Biểu hiện của văn hóa và văn minh-nhìn từ một vài khía cạnh của vấn đề cưới hỏi

Chúng tôi không có ý định và cũng không có khả năng đi sâu bàn về các hình thức biểu hiện trong các nghi lễ của hôn nhân mà chỉ hướng tới việc phân tích một số cách thức ứng xử của cộng đồng đối với các nghi lễ đó.

Thời xa xưa (trước thế kỷ 20), hôn lễ ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi Chu Công lục lễ. Về sau, người Việt chỉ còn 5 lễ và có sự biến cải theo cách riêng của mình (lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ rước dâu, lễ hợp cẩn, lễ lại mặt). Trong giới hạn bài viết này, chúng tôi xin đề cập một số biểu hiện về sự ứng xử của cộng đồng hiện nay trong vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn những đặc trưng văn hóa truyền thống và sự tiếp nhận những thành tựu của phát triển văn minh xung quanh các lễ tục trên. 

Nói chung, trước đây hôn nhân thường diễn ra trong không gian chật hẹp của làng, xã. Nó chật hẹp đến mức làm cho hôn nhân diễn ra một cách chồng chéo. Không ít trường hợp sau ba bốn thế hệ, rất khó có thể xưng hô với nhau một cách phù hợp. Chẳng hạn, ở tư cách bên nội có thể anh (chị) A gọi anh (chị) B là anh (chị) nhưng về bên ngoại có thể phải gọi là bác, thậm chí là ông (bà). Cùng cư trú trong không gian ấy nên có chung một nếp sống văn hóa, cùng hiểu rõ về hoàn cảnh của nhau; việc đi lại không có gì cách trở, vì vậy các lễ tục thường được thực hiện một cách đầy đủ, theo đúng quy thức, phù hợp với điều kiện chung của địa phương, và cũng vì thế ít xẩy ra các xung đột phức tạp. Ngày nay, không gian hôn nhân mở rộng, không những trong lãnh thổ quốc gia mà còn được mở rộng bởi không gian quốc tế. Văn hóa hôn nhân cũng vì vậy có sự tiếp xúc và biến đổi theo những chiều hướng khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu gần đây đều có sự nhìn nhận khá thống nhất về các khuynh hướng biến đổi văn hóa hiện nay của các dân tộc, đó là khuynh hướng giao lưu và tiếp xúc văn hóa; khuynh hướng đồng hóa tự nhiên khuynh hướng phục hồi văn hóa truyền thống.

Chúng ta đều hiểu rằng, giao lưu và tiếp xúc văn hóa là một trong những khuynh hướng chung và là tác nhân quan trọng đối với sự biến đổi văn hóa của các tộc người. Sự giao lưu, ảnh hưởng diễn ra giữa các tộc người trong một vùng; giữa người Kinh và các tộc người thiểu số trong cả nước và cả những tác động mang tính quốc tế. Sự giao lưu ảnh hưởng văn hoá giữa các tộc người đã góp phần đẩy nhanh quá trình biến đổi văn hóa truyền thống các dân tộc, khiến cho nhiều giá trị văn hóa mới thâm nhập và phát huy ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội. Mặt tích cực là đã góp phần tạo nên sự đa dạng về văn hóa trong khu vực. Bên cạnh đó, nó cũng có thể gây nên những tác động tiêu cực, đó là sự xô bồ, lai căng, thậm chí chủ nhân văn hóa còn quay lưng lại với văn hóa truyền thống nếu chủ thể tiếp nhận chưa có được sự chuẩn bị đầy đủ khả năng lựa chọn.

Khuynh hướng đồng hóa tự nhiên gần đây được các nhà nghiên cứu xác định là một trong những khuynh hướng biến đổi văn hóa truyền thống đáng lưu ý. Khuynh hướng này được quan niệm đồng nhất với xu hướng hiện đại hóa văn hóa của nhiều tộc người. Nó diễn ra khá mạnh mẽ và trên nhiều lĩnh vực và không hề có một sự tác động mang tính áp đặt, cưỡng bức mà sự đồng hóa diễn ra hoàn toàn tự nhiên. Tuy vậy, đây cũng là một khuynh hướng không thực sự tích cực, bởi sự tiếp nhận văn hóa từ các nền văn hóa khác không được dựa trên cơ sở truyền thống của mình mà có tính tiếp biến, vay mượn.

Phục hồi văn hóa truyền thống cũng là một trong những khuynh hướng thể hiện nhiều yếu tố tích cực, đặc biệt từ khi có Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 Khóa VIII và hàng loạt các cuộc vận động, các dự án ra đời. Khuynh hướng này trong thời gian qua cũng bộc lộ một số vấn đề cần phải đầu tư nghiên cứu kỹ lưỡng. Những thành tựu nổi bật và những tồn tại đã được thể hiện cụ thể trong Báo cáo Hội nghị Tổng kết 15 năm Nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII, ngày 15 - 01- 2014 do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức.

Những khuynh hướng biến đổi văn hóa trên đây cùng sự phát triển văn minh đã tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi của văn hóa hôn nhân, trong đó có các lễ tục cưới hỏi. Có thể nhận thấy một số biểu hiện sau:

Lễ chạm ngõ theo truyền thống xa xưa, ngoài chú rể, bên nhà trai chủ yếu là các bà (bà mẹ, bà dì, bà cô của chú rể) đại diện cùng một số cô gái chưa chồng, chàng trai chưa vợ làm nghi lễ và “đội” các phẩm vật nhà trai mang theo. Ngày nay, hầu hết là có cả cha chú rể cùng các vị quan khách, những người có vai vế trong gia tộc, có khi của dòng họ nữa. Không ít trường hợp, còn có cả bạn bè của chú rể và cô dâu tương lai tham gia một cách không chủ định, dẫn đến sự bị động cho gia đình nhà gái trong khâu đón tiếp, và gây khó khăn cho đôi bên trong việc trao đổi chuyện nội bộ. Ý nghĩa của lễ này xưa nay vẫn thế, nhưng cách thể hiện thì ngày nay đã phá cách rất nhiều. Các lễ chạm ngõ thường mang tính “ước lệ” nhiều hơn là thực hiện một nghi lễ. Vì vậy hầu như không mấy ai bày lễ vật lên bàn thờ gia tiên nhà gái mà chủ yếu là tiếp xúc để hiểu nhau thêm, khẳng định vấn đề hôn ước và thống nhất các nghi lễ tiếp theo, mà chủ yếu là lễ cưới hỏi.

Cách thức tổ chức cưới hỏi là vấn đề được mọi người có những quan điểm và cách nhìn nhận khá khác nhau. Nếu như văn hóa truyền thống coi trọng sự tương tác thông qua giao tiếp thì giới trẻ hiện nay có xu hướng đổi khác. Nếu trước đây, gia chủ (hoặc người đại diện) trực tiếp đến từng nhà mang theo cơi trầu thưa chuyện và mời quý khách đến dự lễ cưới thì ngày nay việc gửi thiệp mời thường giao cho một số người nào đó đưa đến (hoặc gọi điện thoại) cho từng người, thậm chí không ít trường hợp mượn sổ lương của cơ quan, đơn vị để dựa vào danh sách mà viết và gửi thiệp mời. Có trường hợp do cơ quan đông, người mời cũng như người được mời cũng không biết nhau một cách rõ ràng. Một số trường hợp xa quê, đám cưới thường quan tâm đến mối quan hệ đồng hương thông qua ban liên lạc. Vì vậy, có trường hợp đến dự đám cưới mà cả nhà trai và nhà gái đều không biết khách của ai. Có người cảm thấy vui vui vì đã được chủ thể quên. Và không biết tự lúc nào hình thành câu cửa miệng nhắc với người quen là “khi nào cưới con cưới cháu nhớ cho mình biết”. Như vậy, đám cưới ngày nay hình như đã đảo ngược mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Nếu như vì thân tình mời nhau đến chia vui thì việc mời ai là tùy thuộc vào các mối quan hệ tình cảm đó. Ở đây, khách thể đã gửi đến chủ thể tương lai một thông điệp là “tôi sẽ ủng hộ anh (chị)”. Về một phương diện nào đó có thể thấy, có nhiều khách đến dự thể hiện được sự quan tâm chia sẻ niềm vui của nhiều người. Chủ thể cũng cảm thấy lòng mình được ấm áp hơn. Tiếc rằng, thực chất của vấn đề lại không nằm ở chỗ đó. Nếu như văn hóa truyền thống coi trọng lễ nghi thì giới trẻ hiện nay coi trọng sự “hoành tráng”, hiện đại và thể hiện đẳng cấp. Đám cưới là dịp để phô trương sự hơn người, vì vậy, phải đông khách, phải tổ chức ở nơi sang trọng, rước dâu là phải thật nhiều xe và xe sang. Nhiều cô dâu chú rể cảm thấy hào hứng khi thấy khách bộ hành phải khổ sở, chen chúc nhau vì tắc đường do đám cưới gây ra. Sự phô trương trong nhiều trường hợp đã làm tổn thương không ít người liên quan. Chẳng hạn, có người đã cảm thấy khổ sở khi nhận được thiệp của một người chỉ quen biết ở mức độ rất “xã giao” mời đến dự lễ cưới ở một nơi quá sang trọng. Trong hoàn cảnh đó họ chỉ gửi đến gia chủ đôi uyên ương một món quà phù hợp với điều kiện thực tế mà không dám đến dự lễ cưới bởi khả năng tài chính không cho phép. Họ nghĩ rằng đến dự là phải có một quà mừng với giá trị tương xứng với “đẳng cấp” của đám cưới. Không ít trường hợp sự phô trương đã trở nên “hợm hĩnh”, lố bịch. Chẳng hạn, hai bên thông gia quá chênh lệch nhau về địa vị xã hội và điều kiện kinh tế, dẫn tới việc một bên tách ra tổ chức riêng để có dịp thể hiện khả năng tài chính và vị thế của mình. Việc làm này vô tình đã làm tổn thương tình cảm của đôi vợ chồng trẻ, hơn thế nữa đã đặt mối quan hệ thông gia giữa hai nhà trước bờ vực khó được san lấp.

Trước đây, theo truyền thống, ngày về nhà chồng, cô dâu thường mặc bộ áo cưới là món quà mà nhà trai tặng trong lễ ăn hỏi. Chú rể và cô dâu đều mang y phục truyền thống thì ngày nay hầu như đều được Tây hóa. Chú rể thì veston, cô dâu thì váy dài theo kiểu châu Âu. Hình thức này mặc nhiên trở thành trang phục truyền thống của đám cưới ngày nay. Đã đi dự đám cưới thì hầu như ai cũng quan tâm đến áo quần, trang điểm. Tuy nhiên nhiều người lại không ý thức được mối quan hệ giữa cái đẹp và cái phù hợp của trang phục trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. Chẳng hạn đến dự tiệc cưới mà trang phục toàn màu đen và đi dự đám tang thì rực rỡ một gam màu đỏ.

Gần đây, việc tổ chức lễ cưới diễn ra khá đa dạng về hình thức, về quy mô tùy thuộc khả năng tài chính và phần nào là hoàn cảnh về thời gian và sở thích của chủ thể. Chúng tôi không bàn luận về những khía cạnh đó. Điều chúng tôi muốn nói ở đây cũng là thực tế khá phổ biến ở đại bộ phận các đám cưới (có quy mô, mức độ tài chính và thứ hạng nhà hàng, khách sạn khác nhau) là thái độ ứng xử với chính đám cưới. Nhiều người đến dự đám cưới không có cơ hội để tham gia buổi lễ và giao tiếp với chủ thể (tức cô dâu chú rể và gia đình hai bên). Nếu đến sớm hơn giờ mở cửa phòng cưới thì quý khách “tùy cơ ứng biến” tìm chỗ đứng chỗ ngồi trong khi ghế ở hành lang có hạn. Đến lúc phòng cưới mở ra thì “chen chân nhau” vào và thế là ghép cho đủ người rồi tự mời nhau ăn uống. Nhiều người không biết trên “sân khấu” người ta đang làm gì vì sự ồn ào bởi tiếng nhạc, tiếng người gọi nhau ghép chỗ trong hoàn cảnh người đến trước người đến sau. Không ít trường hợp vì đến muộn phải ngồi bàn kê thêm ở hành lang ăn cho xong bữa, và có cảm giác mình đang đi ăn nhà hàng một cách bất đắc dĩ. Đám cưới đông, đi lại trong phòng cưới khó khăn, làm xong thủ tục, cô dâu chú rể và hai họ chưa kịp xuống chào thì không ít người đã về tự lúc nào. Nhiều lúc có cảm giác như mọi người đến chỉ để gửi chút quà tặng vào nơi quy ước, ăn bữa cơm của lễ cưới rồi về theo kiểu “trả lễ”mà không có được cảm nhận được đến chung vui với cô dâu, chú rể và gia đình hai bên. Chúng tôi thấy, có những đám cưới khách rất đông, mâm cỗ rất xôm nhưng thực sự không vui, có lẽ chỉ là làm xong một thủ tục. Thiết nghĩ, sự trang trọng, vui vẻ, ấm cúng là những tiêu chí cần thiết cho một đám cưới của mọi thời đại.

Chúng tôi có dịp dự lễ cưới ở một số thành phố phía Nam. Khi khách đến đều được mời vào bàn trong phòng cưới, nói chuyện, uống nước và cùng xem các hình ảnh cô dâu chú rể được trích chiếu từ album và các hình ảnh cô dâu chú rể trên đường từ nhà cô dâu đến phòng cưới qua wifi. Cô dâu và chú rể được đón dẫn vào phòng cưới một cách trang trọng. Tất cả mọi người cùng tham gia vào buổi lễ, được chia sẻ niềm vui hạnh phúc với cô dâu chú rể cùng gia đình hai bên thông qua các thủ tục cần thiết. Xong phần lễ mới vào tiệc với hình thức người phục vụ chạy từng món lên bàn theo thứ tự thực đơn, mà ai cũng có cơ hội thưởng thức, chứ không phải “xoay bàn” một cách bất đắc dĩ như ở phòng cưới chúng ta. Như vậy, lễ cưới được chủ thể và khách thể tham gia từ đầu đến cuối, được cùng giao lưu, chia sẻ. Ở thành phố, thị xã chúng ta hiện nay, theo chúng tôi nghĩ, các khách sạn không thiếu khả năng làm được tốt hơn vậy. 

Khi viết những dòng này, chúng tôi không có ý định muốn can thiệp vào đời sống riêng tư của mỗi người. Hơn nữa, có thể nói, một số yếu tố của văn hóa cổ truyền cũng đã và đang bộc lộ những chỗ không còn phù hợp với điều kiện sinh hoạt và hoàn cảnh xã hội hiện nay. Chúng ta cũng không hoàn toàn câu nệ các thủ tục một cách máy móc trong điều kiện không cho phép. Chúng ta từng chứng kiến các nam nữ thanh niên xây dựng tổ ấm gia đình trong hoàn cảnh xa quê hương, chưa hề gặp mặt cha mẹ hai bên; phải bỏ qua một số thủ tục lễ nghi thông thường, mà chỉ còn một lễ cưới đơn giản. Thậm chí, một số nơi đã tổ chức những đám cưới tập thể cho hàng chục cặp uyên ương xuất phát từ những hoàn cảnh cụ thể của họ. Song, hình như không ai thấy đó là sự “khác thường”, sự “vi phạm” lễ nghi truyền thống mà đều cảm thấy trang trọng, lịch sự, vui vẻ, ấm cúng, phù hợp, dễ được sẻ chia. Tin chắc những người trong cuộc họ cũng đều cảm thấy mãn nguyện.

Việc tiếp nhận và phát huy những thành quả của văn minh trong môi trường giao lưu và tiếp xúc văn hóa là điều dễ hiểu và ở mức độ nhất định nó đã trở nên phù hợp. Nhiều sự đổi mới là cần thiết; văn minh hiện đại là cần hướng đến. Tuy nhiên, điều muốn nói ở đây là chúng ta đã có lúc ứng xử quá dễ dãi với những gì chúng ta tiếp nhận. Nhiều người đã chạy theo thời cuộc một cách thiếu cân nhắc giữa cái cần giữ và cái cần thay đổi. Nói cách khác là đã không hiểu một cách đầy đủ về giá trị văn hóa truyền thống với việc tiếp nhận thành quả của nền văn minh. Văn hóa mang tính dân tộc; văn minh mang tính thời đại. Vì vậy, sự tiếp nhận cần một sự lựa chọn (cách thức và mức độ) tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Thiết nghĩ, điều mà văn hóa truyền thống và văn minh hiện đại đều hướng tới, đó là “tính văn hóa”, “tính hiệu quả” và “sự tiết kiệm”. Văn minh và văn hóa cổ truyền sẽ không bao giờ xẩy ra xung đột nếu chúng ta xử lí tốt những mối quan hệ đó. Một câu nói làm chúng tôi phải suy ngẫm “Đám cưới bây giờ thừa hưởng được nhiều thành quả của văn minh nhưng chưa thật văn hóa”.                                

Nguyên nhân của vấn đề thì có nhiều, bao gồm cả khách quan và chủ quan. Theo nhận thức của chúng tôi, bản chất của vấn đề là ở chỗ, chúng ta chưa thực sự chủ động nên chưa có khả năng đứng vững trước làn sóng ồ ạt của giao lưu hội nhập. Vì thế, trong quá trình vận động và phát triển đã không khỏi rơi vào một vài nhận thức và hành vi không phù hợp, thậm chí tạo nên cả tập tục lạc hậu, và là sự cản trở cho phát triển hiện đại. Cùng với sự phát triển chung, cuộc sống và văn minh hiện đại trong thời gian gần đây đang lan tỏa đến mọi miền của Tổ quốc. Trong môi trường tương tác với nền văn minh hiện đại, văn hóa truyền thống có thể bị chèn ép, thậm chí bị phủ định bởi những thành tựu của chính nền văn minh. Và, trong nhiều trường hợp văn hóa đã phản ứng lại, và sự phản ứng này đôi lúc có thể cản trở những bước tiến của xã hội. Tác giả Hồ Sĩ Quý đã dẫn một số trường hợp tiêu biểu sau đây: “Văn hóa Nho giáo ở các nước NIC với nền văn minh châu Âu; văn hóa Nhật Bản với nền văn minh phương Tây; cộng đồng người Việt ở các nước phương Tây; hiện tượng sextourisin của Thái Lan… xem như sự trả thù của văn hóa”. Vì thế chúng ta cần tìm những giải pháp tối ưu cho sự phát triển văn hóa trong điều kiện tiếp nhận những thành tựu của văn minh. Nghĩa là không để cho văn hóa truyền thống cản trở sự phát triển văn minh và ngược lại không để sự phát triển văn minh làm mất đi những nét đẹp truyền thống của văn hóa dân tộc, mà lễ tục cưới hỏi của chúng ta là một ví dụ.

4. Kết luận

Lễ tục cưới hỏi là bộ phận văn hóa xã hội của từng dân tộc, được áp dụng cho các thành viên của cộng đồng, được tiếp cận với tư cách là một dạng chuẩn mực xã hội. Vì vậy, có thể nói, nó đã quy tụ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của mỗi tộc người. Trong nhiều phương diện của đời sống văn hóa được biểu hiện trong lễ tục cưới hỏi, có thể thấy những nét đẹp trong lễ tục phản ánh quan niệm về hệ giá trị xã hội của dân tộc được biểu hiện cụ thể phù hợp với những hoàn cảnh khác nhau. Thiết nghĩ, giá trị là quan niệm và điều mong muốn đặc trưng cho một cá nhân hay một nhóm, một cộng đồng và ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động. Với tư cách là sản phẩm của tập thể và là bộ phận quan trọng hợp thành của một nền văn hóa, các giá trị được biểu hiện thông qua những chuẩn mực là những qui tắc sống và ứng xử. Và vì vậy, nó phải được trân trọng, được giữ gìn và bổ sung.

Theo chúng tôi, bằng con đường nâng cao năng lực nhận thức, tạo điều kiện để đón nhận những yếu tố mới tác động trực tiếp đến văn hóa, và góp phần thúc đẩy văn hóa phát triển; phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc và từng tộc người, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để các phương tiện văn minh góp phần kiến tạo những nét văn hóa mới, đáp ứng một cách thiết thực có hiệu quả ước vọng của chúng ta là có được một nền văn hóa-văn minh truyền thống và hiện đại. Thiết nghĩ, vấn đề chỉ có thể thực hiện được bởi “văn hóa của tư duy và hành động” chứ không thể là một sự áp đặt, khiên cưỡng.   

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Thử bàn về vai trò của Phật giáo trong thời đại công nghiệp 4.0 (9/9/2019)
Để bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa của địa danh Bến Thủy (7/9/2019)
Công tác tập huấn du lịch cộng đồng cho người dân miền Tây Nghệ An (12/8/2019)
“Nghệ An cần thống nhất cách hiểu và xác định sản phẩm đặc sản của mình” (12/8/2019)
Nghệ An cần phải xây dựng và phát triển một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực, hướng tới ba mục tiêu “khối lượng lớn, chất lượng cao và thương hiệu mạnh” (12/8/2019)
Bảo tồn và phát triển sản phẩm đặc sản của Nghệ An (7/8/2019)
Vì sao du lịch Nghệ An phát triển chưa tương xứng với tiềm năng (1/8/2019)
Bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống và sự tiếp nhận văn minh - Nhìn từ lễ tục cưới hỏi hiện nay (9/7/2019)
Hình tượng người đi đường và bài học triết lý về đường đời… (Đọc Tẩu lộ của Hồ Chí Minh, Ngữ văn 8, tập hai, Nxb Giáo dục) (10/6/2019)
Dạy học tích hợp Ngữ văn lấy văn bản văn học làm ngữ liệu đồng thời gắn liền với các vấn đề về giáo dục đạo đức học sinh (6/6/2019)
Tư tưởng đoàn kết - Một trong những nội dung cốt lõi của Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (6/6/2019)
Phát triển du lịch biển bền vững tại thị xã Cửa Lò Nghệ An (3/6/2019)
Biến đổi văn hóa trong gia đình cư dân vùng biển Cửa Lò qua chuyển đổi nghề nghiệp (3/6/2019)
Trường Tiểu học Pháp - Việt tại Vinh nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng theo học (3/6/2019)
Sứ mệnh hòa giải, hòa hợp dân tộc của văn chương nhìn từ phương diện văn hóa - nhân văn (Qua sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu) (21/5/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 28 | Tất cả: 1,832,048
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp