KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng mới
Tin đăng ngày: 3/6/2019 - Xem: 98
 

Nguyễn Thị Minh Tú

Việt Nam đang ở những năm cuối cùng thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020 và chuẩn bị xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021- 2030. Để thực hiện các mục tiêu phát triển và tạo động lực mới thúc đẩy tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần phải bứt phá, phát triển khoa học công nghệ, tinh thần doanh nhân, cải cách thể chế. Đối với các quốc gia đã thoát khỏi bẫy thu nhập thấp và thu nhập trung bình nhờ dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, những quốc gia này phải chuyển đổi từ quá trình phát triển kinh tế dựa trên lao động giá rẻ, dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt chuyển sang phát triển dựa trên hấp thụ công nghệ và tiếp đến là phát triển dựa trên sáng tạo công nghệ tạo ra tài sản trí tuệ, tạo thành nguồn nhiên liệu mới giúp cho phát triển kinh tế - xã hội. Hơn nữa, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đòi hỏi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành nền tảng cốt lõi của phát triển, Việt Nam tiếp tục lựa chọn khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những trụ cột để phát triển.

Đổi mới sáng tạo có nhiều khái niệm, theo từ điển Dictionary, đổi mới sáng tạo được coi là việc đưa ra được một thứ mới hoặc khác biệt. Các nhà kinh tế thường nói đổi mới sáng tạo là sự sáng tạo mới có ý nghĩa kinh tế và thông thường được thực hiện ở tại doanh nghiệp hoặc đổi mới sáng tạo là nỗ lực đầu tiên để đưa ra sáng chế vào cuộc sống. Theo định nghĩa của OECD, đổi mới sáng tạo là “thực hiện một sản phẩm mới hay một sự cải tiến đáng kể (đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể), một quy trình, phương pháp marketing mới, hay một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh, tổ chức nơi làm việc, hay các mối quan hệ đối ngoại”. Ngoài ra còn có một số cách diễn đạt khác nhau đổi mới sáng tạo như: Luôn đi cùng các ý tưởng và đưa ý tưởng vào cuộc sống (Robert B.Tucker); Những thay đổi để tạo ra định hướng thực hiện mới (Peter Drucker); Sáng tạo, phát triển và tạo ra một sản phẩm, quy trình và dịch vụ mới nhằm mục đích tăng hiệu qủa và lợi thế cạnh tranh (Chính phủ Niu-Di-lân)…

Hoạt động đổi mới sáng tạo được tiến hành thông qua nhiều hình thức, đó là các sản phẩm, dịch vụ, các quy trình sản xuất hay kinh doanh (đối với hàng hóa hay dịch vụ), các mô hình tổ chức, mô hình kinh doanh, và đổi mới xã hội (đổi mới được định hướng trực tiếp vào những lợi ích xã hội cụ thể). Bên trong những khía cạnh này, đổi mới có thể xuất hiện tại các điểm khác nhau trong quá trình, bao gồm các giai đoạn như khái niệm, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao (sự chuyển hướng của công nghệ đến tổ chức sản xuất), sản xuất và triển khai, hay sử dụng thị trường.

Có nhiều loại đổi mới sáng tạo: Đổi mới liên tục giúp cho sản phẩm đó tốt hơn những sản phẩm cạnh tranh hoặc tạo ra sự khác biệt cơ bản để thu hút nhiều khách hàng hơn. Đổi mới liên tục còn được gọi đổi mới tích lũy hay đổi mới gia tăng. Đổi mới không liên tục hay gián đoạn là đổi mới có tính chất triệt để vì chúng tác động sâu sắc tới xã hội và có thể thay đổi hoàn toàn phong cách sống và hình thức mua sắm. Loại đổi mới này có thể làm chúng ta quên hoàn toàn thị trường đang có. Đổi mới không liên tục còn được gọi là đổi mới căn bản hay đổi mới triệt để. Đổi mới kinh doanh là việc cải tiến cách hoạt động và kinh doanh bên trong doanh nghiệp. Đó là việc đổi mới cơ cấu nội bộ, các chiến dịch tiếp thị, nhận diện thương hiệu và sứ mệnh then chốt của mình.

Nhiều nhà kinh tế học đi đến kết luận rằng không hẳn là sự tích lũy vốn, mà là đổi mới sẽ chi phối tăng trưởng kinh tế dài hạn của các nước, mang lại những lợi ích đáng kể về mặt xã hội, ngoài những ích lợi mà nhà đổi mới gặt hái được và cuối cùng, đổi mới đóng một vai trò trung tâm trong việc cải thiện chất lượng sống của các công dân.

Ở nước ta, Đảng và nhà nước xác định khoa học và công nghệ có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thời gian vừa qua chính sách về khoa học và công nghệ đã được tập trung hoàn thiện với nhiều quy định tiến bộ và đổi mới. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia được hình thành và chuyển dịch theo hướng đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm để đưa các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, hàng hóa. Phong trào khởi nghiệp sáng tạo đã lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội; tiềm lực khoa học và công nghệ được củng cố; thị trường khoa học và công nghệ bước đầu gắn kết hoạt động khoa học và công nghệ với sản xuất, kinh doanh. Hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ dần đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Sự đóng góp của khoa học công nghệ thể hiện trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, y tế, CNTT... Theo đánh giá của tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Việt Nam luôn tăng hạng trong xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, dẫn đầu nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp (năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng tiếp 2 bậc, xếp thứ 45/126 quốc gia, trong đó, nhóm chỉ số về tri thức - công nghệ của Việt Nam có thứ hạng rất cao, xếp thứ 28). Các lĩnh vực khoa học tự nhiên Việt Nam có thế mạnh như Toán học, Vật lý, Hóa học luôn đạt vị trí tốp đầu ASEAN.

Theo báo cáo nghiên cứu chung giữa Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã phân tích SWOT về hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam với những điểm mạnh: Nằm trong khu vực địa lý năng động nhất thế giới; Lực lượng lao động lớn, cơ cấu dân số thuận lợi; Điểm đầu tư hấp dẫn đối với các tập đoàn đa quốc gia; Năng lực xuất khấu của một số ngành tốt; Có uy tín trong một số lĩnh vực như toán, nghiên cứu nông nghiệp và sinh học; Có tiến bộ trong việc hình thành và duy trì các cơ quan và thể chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo; Các sáng kiến khu vực có lợi cho Việt Nam. Điểm yếu: Năng suất lao động và mức thu nhập thấp; Thiếu khuôn khổ pháp lý khuyến khích đổi mới sáng tạo; Doanh nghiệp khó tiếp cận vốn; Cơ sở hạ tầng yếu kém; Mức độ phức tạp trong sản xuất và xuất khẩu còn thấp; Doanh nghiệp ít sáng tạo, và thậm chí thiếu năng lực nghiên cứu và phát triển; Năng lực nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu nhà nước còn yếu; Hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn yếu kém do thiếu các phòng thí nghiệm và thiết bị nghiên cứu; Cơ sở thông tin phục vụ việc xây dựng chính sách đổi mới sáng tạo còn yếu kém; Quản lý nhà nước và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn yếu kém. Những cơ hội: Phát triển nguồn vốn con người và kỹ năng dựa trên cộng đồng người Việt khá lớn; Tạo lập khu vực doanh nghiệp năng động và có năng lực đổi mới sáng tạo; Đa dạng hoá và thúc đẩy nền kinh tế; Nâng cao hiệu lực của hệ thống đổi mới sáng tạo về tác động kinh tế - xã hội. Những thách thức: Môi trường kinh tế vĩ mô không thuận lợi, kinh tế tăng trưởng chậm; Chảy máu chất xám gia tăng; Nguy cơ bẫy thu nhập trung bình đang hiển hiện.

Với những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trên và trong bối cảnh mới, khoa học và công nghệ được xem là đòn bẩy của công cuộc tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng năng suất lao động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế; đổi mới sáng tạo trở thành một trong các động lực tăng trưởng mới, vì vậy chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải kịp thời đổi mới, chuyển hướng để thích ứng và đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Để thực hiện được định hướng đó cần thực hiện đồng bộ các nội dung và giải pháp, bài viết xin được trích lại 6 điểm chú trọng của đồng chí Chu Ngọc Anh - Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, đó là:

Thứ nhất, xây dựng phương án cơ cấu lại các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia theo hướng lấy doanh nghiệp thực sự là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Chuyển dịch trọng tâm chính sách khoa học và công nghệ, từ chỗ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu - triển khai (R&D) là chủ yếu sang chú trọng đầu tư cho thương mại hóa kết quả R&D. 

Vai trò đầu tư của doanh nghiệp và xã hội trong chuỗi hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo vô cùng quan trọng. Nhà nước có thể đầu tư cơ bản đến cơ bản định hướng ứng dụng và một phần của hoạt động nghiên cứu ứng dụng. Tuy nhiên, để đưa các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường, ứng dụng được trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo thành sản phẩm, dịch vụ mới và giá trị gia tăng cho xã hội, cần sự đầu tư có trách nhiệm của các lực lượng xã hội, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng nhất. Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo trong quá trình tái cơ cấu, nâng cao chất lượng tăng trưởng của các ngành, lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

Thứ hai: Phát triển hệ thống sáng tạo quốc gia lấy doanh nghiệp làm trung tâm và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh. Nâng cao tiềm lực và trình độ khoa học và công nghệ trong nước để có thể triển khai các hướng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ liên ngành và xuyên ngành ở trình độ quốc tế về công nghệ thông tin, vật lý, sinh học, trí tuệ nhân tạo. Phát triển và khai thác tài sản trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. 

Thứ ba: Tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mạnh cho hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Phát huy Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ tại các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty. Phát triển thị trường khoa học công nghệ gắn với hoạt động đổi mới sáng tạo. Đổi mới cơ chế hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; sử dụng ngân sách nhà nước như nguồn vốn mồi nhằm thu hút sự tham gia đầu tư của doanh nghiệp cho hoạt động khoa học và công nghệ. Triển khai thực hiện các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thủ tục, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tập trung nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp; dành kinh phí thỏa đáng cho nhập khẩu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới. 

Thứ tư: Chủ động triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể tăng cường năng lực tiếp cận, tiếp thu và làm chủ các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Triển khai hiệu quả Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư giai đoạn đến năm 2025. Hình thành một số phòng thử nghiệm công nghệ (testlab), phát triển các công nghệ nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo để tạo ra các sản phẩm quốc gia có lợi thế; khuyến khích các doanh nghiệp khởi nghiệp trên nền tảng công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Triển khai toàn diện Đề án “Phát triển Hệ tri thức Việt số hóa” để thiết lập hạ tầng nền tảng, dữ liệu lớn, chia sẻ dữ liệu để khai thác, làm giàu hệ tri thức của người Việt, phục vụ chuyển đổi số, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thứ năm: Tiếp tục phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia kết nối với các hệ sinh thái khu vực và toàn cầu. Khuyến khích các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, doanh nghiệp lớn đầu tư cho khởi nghiệp. Nhà nước không trực tiếp đầu tư mạo hiểm 100% cho khởi nghiệp, chỉ nên cung cấp vốn mồi trong giai đoạn tiền khởi nghiệp, vốn tăng tốc trong giai đoạn khởi nghiệp và cả hai giai đoạn đều cần hợp tác công - tư. Quan tâm phát triển hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ và thị trường ban đầu cho khởi nghiệp; kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp lớn để doanh nghiệp khởi nghiệp có thể tham gia sân chơi chung và tiếp cận các chuỗi giá trị toàn cầu. Khuyến khích các trường đại học, đặc biệt là các trường khối kỹ thuật và công nghệ, dành không gian thích đáng cho hoạt động ươm tạo công nghệ, xưởng thiết kế chế tạo của sinh viên; hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên năm cuối và cựu sinh viên thông qua các không gian sáng tạo chung hoặc các chương trình, dự án hỗ trợ khởi nghiệp. 

Thứ sáu: Về hợp tác và hội nhập quốc tế, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu chung để tranh thủ nguồn lực và tri thức của các quốc gia tiên tiến, từng bước nâng tầm năng lực và trình độ nghiên cứu trong nước để có thể tham gia hợp tác đối tác bình đẳng và cùng có lợi trong dài hạn. Chủ động nghiên cứu, cập nhật các xu hướng phát triển của thế giới, đồng thời thúc đẩy hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế và các tập đoàn đa quốc gia trong trao đổi, chia sẻ các mô hình, kinh nghiệm, bài học thực tiễn về khai thác cơ hội và vượt qua thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam; thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài.

Việt Nam đang xây dựng dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định nền tảng để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Tại Hội nghị Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo - Một trụ cột cho phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đặt hàng năm vấn đề lớn cho Bộ Khoa học và Công nghệ gồm: Một là, đề xuất chính sách khuyến khích và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp. Đồng thời cần coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, phát triển mạnh hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp. Hai là, phát huy vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu trong việc tăng cường nền tảng vốn con người cho đổi mới sáng tạo. Cần nhất là gắn liền các hoạt động nghiên cứu ứng dụng với nhu cầu doanh nghiệp, nhu cầu của nền kinh tế. Ba là, thúc đẩy liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước. Ở nước ngoài các trung tâm kết nối trí tuệ đóng vai trò lõi ở các thành phố thông minh và bền vững. Vậy ở Việt Nam phải làm như thế nào? Bốn là, xây dựng năng lực quản trị nhà nước đối với hệ thống đổi mới sáng tạo và hoàn thiện thể chế cho các hoạt động đổi mới sáng tạo. Năm là, tập trung phát triển sản phẩm quốc gia dựa vào công nghệ mới, công nghệ cao để hình thành các ngành nghề mới và các sản phẩm mới, giá trị gia tăng cao, nhất là lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh như nông nghiệp, công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ thông tin, dịch vụ...

Để triển khai 5 vấn đề lớn trên cần có các giải pháp đúng hướng, khả thi và các giải pháp thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cần tập trung giải quyết hai yếu tố chính là con người và công nghệ. Đúng như khẳng định của Thủ tướng Chính phủ: “Nhân loại ngày càng khan hiếm tài nguyên tự nhiên để khai thác và Việt Nam cũng vậy, nhưng chúng ta lại có thứ tài nguyên vô tận, đó là chất xám, là sự sáng tạo của con người. Nếu tài nguyên tự nhiên càng khai thác càng cạn kiệt thì tài nguyên sáng tạo của con người càng khai thác sẽ càng sinh sôi nảy nở”.


Tài liệu tham khảo

  1. Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (2016), Đổi mới sáng tạo câu chuyện ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Kỹ thuật.
  2. Tài liệu Hội nghị về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Một trụ cột cho phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.
  3. Báo cáo nghiên cứu chung giữa Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam.
  4. Website Bộ khoa học và Công nghệ.

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Vũ trụ quan sơ khai của người Thái (12/9/2019)
Trường Trung học Vinh niên khóa 1929-1930 (9/9/2019)
Hồ Chí Minh về văn hóa - văn nghệ (9/9/2019)
Vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ cần phát huy vai trò đầu tàu cả nước (21/8/2019)
Chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Hàn Quốc và hàm ý cho Việt Nam (21/8/2019)
Về quan điểm “khoảng trống quyền lực” trong Cách mạng tháng Tám (12/8/2019)
Huế và những đóng góp lớn lao cho Cách mạng (1945 - 1975) (12/8/2019)
Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ (7/8/2019)
Hỗ trợ hoạt động và liên kết của các tổ chức Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức chính trị xã hội 3 ở 3 tỉnh Bác miền Trung giai đoạn 2018-2019 (1/8/2019)
Một vài suy nghĩ về trào lưu chụp ảnh kỷ yếu của giới trẻ hiện nay (31/7/2019)
Dệt thổ cẩm nét đẹp trong văn hóa dân tộc Thái huyện Quỳ Châu, Nghệ An (10/7/2019)
Không gian nhà ở truyền thống của người Thái (10/7/2019)
Bảo tồn làng cổ Khánh Sơn gắn với phát triển du lịch cộng đồng - Một vài suy nghĩ (9/7/2019)
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các tộc người thiểu số miền Tây Nghệ An trong phát triển bền vững (9/7/2019)
Kinh tế di sản - Một động lực tăng trưởng mới (9/7/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 91 | Tất cả: 1,832,111
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp