KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Xây dựng nhân cách người Nghệ An cho các con trong gia đình Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan
Tin đăng ngày: 3/6/2019 - Xem: 73
 

Trần Minh Siêu

Upload

Quê nội Bác Hồ

Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan có ba người con là Nguyễn Thị Thanh (Bạch Liên nữ sĩ), Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung lớn lên biết tiếp thu sâu sắc sự giáo dục của gia đình nên đều thành những người yêu nước nồng nàn, hăng hái hoạt động để cứu nước, cứu dân, có đầy đủ nhân cách Nghệ An, riêng Nguyễn Sinh Cung đạt cấp độ cao hơn “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất”.

Trong ca khúc “Ai vô xứ Nghệ” nhạc của Phạm Tuyên, lời thơ Cù Huy Cận, được ca sĩ Anh Thơ thể hiện, thường phát trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam, phần cuối ca khúc có lời như sau:

“Ôi tâm hồn xứ Nghệ

Trong hồn Việt Nam ta

Có từ thuở ông cha,

Rất xưa và rất trẻ,

Giống như Bác Hồ ta

Một con người xứ Nghệ

Giống như Bác Hồ ta,

Một con người xứ Nghệ”.

Như vậy, Bác Hồ là hình mẫu trọn vẹn nhân cách con người xứ Nghệ. Nói theo duyên cách địa lý năm 1831 dưới triều vua Minh Mạng chia xứ Nghệ thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, thì gọi là nhân cách người Nghệ An.

Thuở thiếu thời, khi còn sống ở làng Hoàng Trù, xã Chung Cự (nay là xã Kim Liên), Nguyễn Sinh Cung thường theo ông bà ngoại và cha mẹ, có khi theo bạn bè cùng trang lứa đến chơi các gia đình láng giềng, được tiếp xúc với tầng lớp nhân dân, trong đó có những người tri thức nông thôn là các nhà Nho đậu đạt, nhưng không muốn làm quan, hoặc nỗ lực dùi mài kinh sử, chờ ngày để đấu trí thi tài ở trường thi. Tiêu biểu cho tầng lớp trí thức nông thôn ở làng Hoàng Trù thời đó có nhà Nho Vương Thúc Độ và Cử nhân Hoàng Phan Quỳnh.

Có một hôm Nguyễn Sinh Cung đến chơi nhà Vương Thúc Độ thấy trên xà nhà có viết câu chữ Hán: “Thao tâm cần khổ, hảo ái nhân quần”. Với trí tò mò của đứa trẻ ham hiểu biết, Nguyễn Sinh Cung hỏi Vương Thúc Độ câu chữ Hán viết trên xà nhà có ý nghĩa gì? Vương Thúc Độ vui vẻ giải thích ngắn gọn: “thao tâm” là kiên trì về tâm trí, “cần khổ” là siêng năng, chịu khổ trong cuộc sống, “hảo ái nhân quần” là có lòng tốt thương yêu nhân dân. Ở đời, con người có làm được như thế mới mong lập được sự nghiệp lớn.

Vương Thúc Độ ghi câu này lên xà nhà là để nhắc mình hàng ngày phải kiên trì phấn đấu trong học tập, nhẫn nại trong cuộc sống để gặt hái được kết quả tốt đẹp hơn.

Như thế, hàng chữ Hán ghi trên xà nhà rất súc tích, được chủ nhà giải thích dễ hiểu, đã gợi ý nhẹ nhàng cho Nguyễn Sinh Cung sớm có ý thức biết kiên trì trong học tập, chịu khổ nhẫn nại, siêng năng trong cuộc sống về sau sẽ trở thành người hữu ích cho xã hội.

Khi được gia đình gửi đến học với Cử nhân Hoàng Phan Quỳnh, Nguyễn Sinh Cung thấy trên bức tường phía cuối lớp học có hàng chữ: “Tiên học lễ, hậu học văn”, Nguyễn Sinh Cung mạnh dạn hỏi thầy:

- Dạ thưa thầy, “lễ” quan trọng như thế nào mà phải học trước “văn”?

Thầy vui vẻ trả lời: Học “văn” là để bồi bổ kiến thức nhưng để kiềm chế được dục vọng tầm thường của bản thân mình thì phải học “lễ”. Ai muốn nên thân người thì phải có “lễ” để rèn luyện bản thân, kiềm chế được dục vọng tầm thường, để vươn lên trong cuộc sống. Nếu ai đó có được chút nhân đức là do họ có “lễ nghĩa” vậy. Nghe thầy giải thích ngắn gọn, súc tích như vậy, Nguyễn Sinh Cung bắt đầu ý thức được học trò đến thị giáo thầy, trước tiên là phải “lễ” tức là học cách làm người.

Những giáo lý lễ nghĩa đó kết hợp với thân giáo hằng ngày của người cha là Nguyễn Sinh Sắc, đặc biệt là người mẹ Hoàng Thị Loan đã thấm dần vào ký ức tuổi xanh của Nguyễn Sinh Cung, rồi được hoàn thiện dần theo sự tăng trưởng của tuổi đời đã thiết thực làm cho nhân cách người Nghệ An trong Nguyễn Sinh Cung từng bước được nâng cao.

Sau khi đậu Phó bảng (1901), Nguyễn Sinh Sắc cùng các con chuyển về quê nội làng Sen sinh sống. Sau đó, Nguyễn Sinh Sắc được triều đình Huế vời ra làm quan, nhưng bản tính ông không muốn ra làm quan, nên đã cáo quan ở nhà, sống thanh bần và thân thiện với bà con họ hàng, làng xóm. Do có lòng thương dân và sống hòa hợp với nhân dân nên được mọi người ngưỡng mộ, tôn kính gọi là quan Phó bảng.

Để răn dạy con cháu sống theo nếp thanh bạch, hiếu dân của mình, Nguyễn Sinh Sắc đã viết lên xà nhà câu: “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” (nghĩa là “đừng lấy phong cách nhà quan, làm phong cách nhà mình”). Giáo lý gia phong đó của người cha kính yêu đã thấm đẫm vào đầu óc non trẻ của Nguyễn Sinh Cung, trở thành nếp sống thường ngày, đồng hành suốt các nẻo đường cứu nước, cứu dân, được nâng lên mẫu mực, trở thành đạo đức Hồ Chí Minh.

Nhà của Nguyễn Sinh Sắc ở làng Sen lúc này trở thành nơi hội tụ của những người có tâm hồn văn hóa và tư tưởng yêu nước trong vùng như: Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương, Nguyễn Quý Song, Đặng Nguyên Cẩn,...

Một đêm, Phan Bội Châu đến chơi nhà Nguyễn Sinh Sắc, hai người ngồi giữa sân uống rượu, ngâm thơ, đàm luận thời cuộc, có Nguyễn Sinh Cung đứng bên cạnh giúp cha tiếp khách. Nhân thấy trăng lên sáng đẹp, Phan Bội Châu liền ra cho Nguyễn Sinh Sắc một vế đối: “Nguyệt thương bạch” (nghĩa là “Mặt trăng lên sáng đẹp”).

Nguyễn Sinh Cung lễ phép ứng khẩu đối lại: “Nhật xuất hồng” (nghĩa là “Mặt trời mọc đỏ rực”). Phan Bội Châu nghe xong tấm tắc khen ngợi và nói rằng: “Nếu cháu biết rèn luyện bản thân, thì sau này sẽ làm nên đại sự cho đất nước”. Từ đó, Phan Bội Châu đã chú ý bồi dưỡng lòng yêu nước và những hiểu biết cần thiết khác cho Nguyễn Sinh Cung, nhất là khi Nguyễn Sinh Cung cảm thụ được hai câu thơ của Tùy Viên mà Phan Bội Châu thường ngâm:

Túc dạ bất vong duy trúc bạch,

Lập thân tối hạ thị văn chương.

Dịch nghĩa:

Khuya sớm những mong ghi sử sách

Lập thân hèn nhát ấy văn chương(1).

Từ quan hệ thân thiết chặt chẽ giữa Nguyễn Sinh Sắc và Phan Bội Châu nên tư tưởng yêu nước và nhân cách cao thượng của ông đã ảnh hưởng sâu sắc tới Nguyễn Sinh Cung. Về sau, trên con đường hoạt động cứu nước, Người đã có lần tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn Phan Bội Châu là: “Bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng”(2).

Thuở ấy, trước nhà Phó bảng có lò rèn Cố Điền. Cố Điền là người thợ rèn cần mẫn, thật thà, được nhân dân trong vùng yêu mến.

Được ông Nguyễn Sinh Sắc cho phép, Nguyễn Sinh Cung những lúc rảnh rỗi thường ra lò rèn giúp Cố Điền thụt bễ để rèn các dụng cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp mà nhân dân trong vùng đang có nhu cầu sử dụng, Nguyễn Sinh Cung rất quý trọng Cố Điền và Cố Điền cũng rất mực yêu mến Nguyễn Sinh Cung.

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam lúc này, nhất là ở vùng Nam Đàn xứ Nghệ An, ở đâu nhân dân cũng đang bàn tán sôi nổi về nhục mất nước, về sự bóc lột tàn ác và đàn áp dã man của bọn phong kiến Nam triều, của thực dân Pháp xâm lược, cũng bàn về phong trào đấu tranh để giải phóng đất nước của nhân dân ta, sôi nổi nhất, nóng bỏng nhất là các phong trào cứu nước đang diễn ra trên quê hương xứ Nghệ, tiêu biểu có cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Phan Đình Phùng ở Hương Khê, Hà Tĩnh, của Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã ở Diễn Châu, Yên Thành, đặc biệt là những câu chuyện mang tính giai thoại về Giải San (Phan Bội Châu) đang ấp ủ, hứa hẹn một vị thánh Nam Đàn xuất hiện để đáp ứng trông đợi, kỳ vọng của nhân dân.

Lò rèn Cố Điền là một câu lạc bộ dân gian, đậm đà tính dân chủ, không sợ sự ràng buộc của bọn thống trị đương thời, cho nên mọi người được nói chuyện thoải mái, tự do. Tất cả những câu chuyện đưa ra bàn luận tại lò rèn Cố Điền đều là những vấn đề nóng bỏng đang diễn ra trong làng, xã. Khi bàn luận có biểu dương cái tốt, cái đẹp, cái mới mẻ tiến bộ, có phê phán cái xấu, cái ác, cái lạc hậu lỗi thời,...

Lò rèn Cố Điền là một môi trường sinh hoạt dân gian lành mạnh giúp cho Nguyễn Sinh Cung bắt đầu làm quen với lao động chân tay, làm thủ công nghiệp thô sơ. Thông qua sinh hoạt lao động mà Nguyễn Sinh Cung càng hiểu sâu sắc hơn nội dung những câu chuyện nhân dân đang đàm luận, về cội nguồn văn hóa quê hương xứ sở. Từ đó làm nẩy sinh trong con người non trẻ của Nguyễn Sinh Cung tình cảm quý trọng, yêu thương nhân dân, đặc biệt là nhân dân lao động. Cũng từ đây, chí căm thù bọn phong kiến Nam triều và thực dân Pháp xâm lược nảy nở và ngày càng sâu nặng trong con người Nguyễn Sinh Cung.

Sau hơn 50 năm, ngày 16/6/1957, lúc đó Nguyễn Sinh Cung đã trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh vô vàn kính yêu trở về thăm quê hương lần đầu, khi đi từ ngôi nhà mình ở làng Sen ra cổng, Người bồi hồi xúc động chỉ tay về phía trước hỏi bà con đi bên cạnh: “Trong này có lò rèn Cố Điền, mấy lâu nay còn tiếp tục rèn nữa không?”.

Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan rất quan tâm đến việc học hành của con cái. Khi về sống ở làng Sen, Nguyễn Sinh Sắc cho Nguyễn Sinh Cung tới học với Cử nhân Vương Thúc Quý là bạn chí thân của mình.

Vương Thúc Quý là con trai của Tú tài Vương Thúc Mậu, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở núi Chung năm 1885. Trong một cuộc chiến đấu ác liệt với thực dân Pháp diễn ra trên đất làng Sen, Vương Thúc Mậu đã anh dũng hi sinh.

Sau khi đậu cử nhân năm 1891, vì nặng nợ nước, thù nhà Vương Thúc Quý không đi thi Hội và cũng không chịu ra làm quan, mà ở nhà mở lớp dạy học và tham gia hoạt động cứu nước.

Vương Thúc Quý dạy học trò không nặng về tầm chương trích cú một cách giáo điều, mà dùng sách vở của thánh hiền để giảng dạy cho học trò hiểu về đạo lý làm người, phải biết yêu thương nhân dân, không ham tiền tài danh vọng, biết hy sinh để cứu nước, để làm nghĩa vụ cao cả của người dân.

Nguyễn Sinh Cung là người học trò được Vương Thúc Quý chọn để bồi dưỡng thêm lòng yêu nước và nhân cách người Nghệ An.

Ít lâu sau, Vương Thúc Quý lên đường qua Nhật theo tiếng gọi Đông du của Phan Bội Châu, nhưng trên đường sang Nhật Bản, vừa tới Nam Định thì bị ốm nặng, phải quay trở lại quê nhà. Ngày 19/7/1907, thầy qua đời. Trước khi mất, Vương Thúc Quý cố ngồi dậy, bảo người ngồi bên cạnh đưa giấy bút viết tám chữ “Phục thù vi báo, thử sinh đồ hư” (nghĩa là “thù cha chưa trả được, đời này thật uổng) rồi trút hơi thở cuối cùng.

Niềm ưu tư thù nhà, nợ nước của Vương Thúc Quý đã truyền cảm hứng mãnh liệt sang Nguyễn Sinh Cung, làm cho tư tưởng yêu nước và nhân cách người Nghệ phát triển cao hơn.

Trong cả hai lần về thăm quê hương Kim Liên (1957 và 1961) Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn kính nhắc tới Cử nhân Vương Thúc Quý, Người ân cần nói: “Thầy Cử Vương là thầy học của Bác thời niên thiếu”.

Ở làng Sen, tuy có được cuộc sống an bần trong tình thương yêu quý trọng của bà con họ hàng, làng xóm, nhưng sự ưu tư đối với dân, với nước đang thôi thúc Nguyễn Sinh Sắc làm thế nào để cứu dân, cứu nước thắng lợi. Vì thế, Nguyễn Sinh Sắc cùng con trai là Nguyễn Sinh Cung quyết định thực hiện một lộ trình để đàm đạo với các sỹ phu yêu nước ở Nghệ Tĩnh.

Mở đầu lộ trình, năm 1903 Nguyễn Sinh Sắc đưa Nguyễn Sinh Cung lên xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương nhân dịp nhân dân ở đây thỉnh cầu ông lên dạy cho con em họ học tập. Làng Võ Liệt và làng Nguyệt Bổng thuộc huyện Thanh Chương tọa lạc bên bờ sông Lam, đối diện nhau qua bến Đồ Rộ, đều là mảnh đất có bề dày truyền thống văn hóa và yêu nước. Đây là quê hương của Phan Đà, một tướng trẻ, tài ba của Lê Lợi trong phong trào đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh và nhiều anh hùng nghĩa khí khác.

Hoạt động ở đây một năm, Nguyễn Sinh Sắc đưa Nguyễn Sinh Cung về làng Trung Cần trên hữu ngạn sông Lam thuộc huyện Nam Đàn là quê hương của Thám hoa Nguyễn Đức Giao và nhiều tri thức Hán học nổi tiếng khác. Có khi lên thăm di tích lịch sử Lục Liên Thành, do nghĩa quân Lê Lợi xây dựng trên ngọn Hoàng Tâm, thuộc dãy Thiên Nhẫn; lên đỉnh Bùi Phong viếng miếu La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, một quân sư lừng danh thời Tây Sơn. Sau đó chuyển sang làng Du Đồng, thuộc vùng Hạ Bồng, huyện Đức Thọ, vốn nằm trong vùng căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Hương Khê; ông đến tận làng Công Thái, quê hương của Đình nguyên Phan Đình Phùng, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp thời Văn Thân. Sau đó cha con Nguyễn Sinh Sắc ra tận huyện Diễn Châu đàm đạo với Võ Tất Đắc, một tri huyện ở Thanh Hóa đã cáo quan về làng Vạn Phần; thăm ông Võ Khang Tế ở làng Hậu Luật (nay là xã Diễn Bình), từng làm Tương tán quân vũ trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp của cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn; lên xã Tràng Sơn, huyện Yên Thành, quê hương của Phó bảng Lê Doãn Nhạ, một lãnh tụ chống Pháp; ra làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, một làng văn vật, khoa bảng nổi tiếng cả nước, có nhiều chí sĩ yêu nước; có lúc ra đến huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, quê hương của lãnh tụ chống Pháp Nguyễn Quang Bích,...

Những địa phương cha con Nguyễn Sinh Sắc đến đều có phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi và anh dũng, những người ông kết giao, đàm đạo thời cuộc đều là những người có lòng yêu nước, có chí cứu nước.

Trong lúc đàm đạo thời cuộc với các nhà Nho yêu nước, Nguyễn Sinh Sắc thường phê phán lối học của các cụ đương thời là “chi diệp, chi văn” (nghĩa là lối văn trên cành, trên lá) là không thiết thực, không phù hợp với thực trạng đang diễn ra trong xã hội. Đặc biệt, Nguyễn Sinh Sắc cùng các sỹ phu yêu nước đang lao tâm, khổ tứ để mong giải đáp câu hỏi lớn: Tại sao cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ,... trên quê hương Nghệ An, kể cả các cuộc khởi nghĩa ở đất Bắc như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích, Hoàng Hoa Thám,... rất sôi động và oanh liệt, nhưng kết cục đều không thắng lợi được. Nỗi ưu tư vận mệnh đất nước càng dày vò, nung nấu tâm can các cụ.

Nội dung các cuộc đàm luận này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phát triển yêu nước của Nguyễn Sinh Cung, góp phần quan trọng để Người chọn lựa con đường sẽ đi sau này.

Nhắc đến thực trạng sôi động và tình thế gay cấn này, về sau khi trả lời phỏng vấn Nhà báo Mỹ Anna Lui Xtơrong, Người đã nói rằng: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi lúc này thường hỏi nhau rằng: Ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nói là Nhật, người khác nói là Anh, có người khác nữa nói là Mỹ. Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ”(3).

Tư duy độc đáo của Nguyễn Sinh Cung lúc này là muốn ra nước ngoài để học tập, để giúp đồng bào. Có thể nói ở Việt Nam, trước Nguyễn Sinh Cung chưa có ai có tư duy này. Nhưng đi sang phương Đông hay phương Tây thì lúc này chưa thấy Nguyễn Sinh Cung nói cụ thể.

Năm 1905, Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh được mở. Theo ý kiến của cụ Nghè Nguyễn Quý Song, muốn hiểu Pháp thì phải học chữ Pháp, muốn đánh thắng Pháp thì phải học văn minh Pháp. Nguyễn Sinh Sắc quyết định cho Nguyễn Sinh Cung vào học Trường Tiểu học Pháp - Việt Vinh, cách quê nhà Kim Liên 15km, ở các lớp học Pháp - Việt, phía trên bảng đen có 3 chữ Pháp “Liberté, Égalite,    Fraternité” (nghĩa là Tự do - Bình đẳng - Bác ái). Lý tưởng được trưng lên ở vị trí trang trọng trong lớp học thì cao đẹp như vậy, nhưng thái độ các thầy giáo người Pháp đối với học sinh và nhất là thực tế xã hội đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở khắp mọi nơi, Nguyễn Sinh Cung thấy hoàn toàn trái ngược hẳn.

Trình độ nhận thức các vấn đề xã hội đang diễn ra của Nguyễn Sinh Cung lúc này bắt đầu có quan điểm cụ thể, toàn diện, lịch sử. Do đó, Nguyễn Sinh Cung đã nảy ra ý muốn táo bạo đến tận nơi phát sinh ra ba chữ: “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” để tìm ra bản chất vốn có của nó.

Về sau, trên con đường hoạt động cứu nước, khi trả lời phỏng vấn của Nhà báo Xô viết Oxíp Mandexn Tam, Người nói: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe 3 chữ: Tự do - Bình đẳng - Bác ái,... và tự thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn sau những từ ấy”(4).

Như vậy, hoài bão của Nguyễn Sinh Cung muốn sang tận nước Pháp, đất nước đã khởi xướng ra ba chữ: “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” để xem xét, để học tập đã chớm nở từ trong gia đình của Nguyễn Sinh Sắc trên quê hương Nghệ An.

Đầu năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu xuất dương sang Nhật Bản, phát động phong trào Đông du sôi nổi khắp cả nước. Thượng tuần tháng 7 năm ấy, Phan Bội Châu bí mật về nước, rồi về quê hương Nghệ An họp các đảng viên chủ chốt trong chiếc thuyền đậu trên sông Lam, bàn kế hoạch tuyển lựa học sinh xuất dương. Phan Bội Châu thấy Nguyễn Sinh Cung là một thiếu niên thông minh, có chí khí, cụ dự định đưa sang Nhật Bản. Theo Trần Dân Tiên kể lại trong tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” thì “Cụ Phan Bội Châu muốn Anh đưa một số thanh niên sang Nhật. Nhưng Anh không đi”(5).

Từ chối đường Đông du của Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Cung ở lại với cha trên quê hương Nghệ An tiếp tục học tập và bắt đầu có những hoạt động cứu nước. Về sau, khi có dịp thuận tiện, Người đã vui vẻ kể lại những việc làm cứu nước trong thời gian này như sau:

Ngày 27/10/1946, Nguyễn Thị Thanh (Bạch Liên) ra Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng đi có hai người cháu là Nguyễn Sinh Thọ (Nguyễn Tự Cường) và Nguyễn Văn Danh (Hồ Quang Chính), trong lúc nói chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi Nguyễn Văn Danh: “Quê cháu ở làng nào?”. Nguyễn Văn Danh trả lời: “Thưa ông, quê cháu ở làng Thọ Toán, cuối huyện Nam Đàn, gần sông Lam. Gần cầu sắt Yên Xuân”. Đến đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Ờ, ờ, ông nhớ ra rồi, vùng đó có bãi giữa khá to của sông Lam, có lần ông đã đi đò dọc qua đó để đưa thư cho các cụ hoạt động chống đế quốc Pháp”(6).

Trong tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” Trần Dân Tiên cũng viết: “Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên 15 tuổi. Người thiếu niên đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc”(7).

Như vậy, trong quá trình hình thành nhân cách Nghệ An trong con người Nguyễn Sinh Cung, tư tưởng yêu nước đã phát triển mạnh, đã có những hoạt động cứu nước cụ thể khi đang sống với cha là Nguyễn Sinh Sắc trong gia đình mình ở làng Sen, trên quê hương mến yêu Nghệ An.

Tiếp đó, hoài bão lớn lao và táo bạo đi sang tận nước Pháp ở trời Âu để học tập, để xem xét, chọn lọc hướng đi mới, rồi trở về nước lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành lại độc lập cho tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân cũng nảy nở trong gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc, trên quê hương Nghệ An.

Đúng là từ chất lượng của sự giáo dục, đạo đức, lối sống trong gia đình Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan là lò đúc tạo dựng được nhân cách Nghệ An trong người Nguyễn Sinh Cung, một cách trọn vẹn, hoàn mỹ.

 

Chú thích

  1. Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957, tr.30.
  2. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2 (1/1925 - 2/1930), Nxb. Sự thật, Hà Nội 1998, tr.18.
  3. Báo Nhân dân số ra ngày 18/5/1965, trong bài “Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Nhà báo Mỹ Anna Lui Xtơrong.
  4. Trong bài “Đến thăm một chiến sỹ Cộng sản Quốc tế - Nguyễn Ái Quốc” của Oxíp Manđenx Tam, đăng trên Tạp chí “Tia lửa nhỏ”, số 39, ngày 23/12/1923.
  5. Trần dân Tiên, “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, Nxb Văn học, Hà Nội, 1969, tr.10-11.
  6. Bác Hồ gặp chị và anh ruột của Hồ Quang Chính, Nxb. Nghệ An, 1997, tr.17.
  7. Trần Dân Tiên, “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1969, tr.10.

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Vũ trụ quan sơ khai của người Thái (12/9/2019)
Trường Trung học Vinh niên khóa 1929-1930 (9/9/2019)
Hồ Chí Minh về văn hóa - văn nghệ (9/9/2019)
Vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ cần phát huy vai trò đầu tàu cả nước (21/8/2019)
Chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Hàn Quốc và hàm ý cho Việt Nam (21/8/2019)
Về quan điểm “khoảng trống quyền lực” trong Cách mạng tháng Tám (12/8/2019)
Huế và những đóng góp lớn lao cho Cách mạng (1945 - 1975) (12/8/2019)
Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ (7/8/2019)
Hỗ trợ hoạt động và liên kết của các tổ chức Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức chính trị xã hội 3 ở 3 tỉnh Bác miền Trung giai đoạn 2018-2019 (1/8/2019)
Một vài suy nghĩ về trào lưu chụp ảnh kỷ yếu của giới trẻ hiện nay (31/7/2019)
Dệt thổ cẩm nét đẹp trong văn hóa dân tộc Thái huyện Quỳ Châu, Nghệ An (10/7/2019)
Không gian nhà ở truyền thống của người Thái (10/7/2019)
Bảo tồn làng cổ Khánh Sơn gắn với phát triển du lịch cộng đồng - Một vài suy nghĩ (9/7/2019)
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các tộc người thiểu số miền Tây Nghệ An trong phát triển bền vững (9/7/2019)
Kinh tế di sản - Một động lực tăng trưởng mới (9/7/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 52 | Tất cả: 1,832,072
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp