ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Dòng họ 5 thế kỷ hát ca trù
Tin đăng ngày: 21/5/2019 - Xem: 184
 

QUẢNG PHƯỚC

Upload

CLB hát Ca trù huyện Diễn Châu tham gia Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2018

Ca trù hay còn được gọi là Hát nói, Hát cô đầu, Hát ả đào, Hát nhà trò, Hát nhà tơ... là loại hình diễn xướng bằng âm giai nhạc thính phòng. Đây là một bộ môn nghệ thuật đặc sắc của dân tộc thịnh hành từ thế kỷ XVI, được giới quý tộc, tri thức yêu thích. Ca trù là sự kết hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc. Trong các di sản phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại thì Ca trù là loại hình có diện phân bố rộng rãi nhất (Quan họ phân bố chủ yếu ở Kinh Bắc, hát Xoan chủ yếu ở Phú Thọ, Ví Giặm chủ yếu ở Nghệ Tĩnh, Đờn ca tài tử chủ yếu ở Nam bộ...). Ca trù được phân bố rộng khắp các tỉnh Bắc bộ, Bắc Trung bộ, thậm chí lan vào cả phía Nam. Và đây cũng là loại hình âm nhạc được đưa vào cung đình từ rất sớm. Tuy nhiên khi nói đến cái nôi Ca trù thì hầu như người ta nghĩ ngay đến các tỉnh phía Bắc, còn ở miền Trung thì nghĩ ngay đến Cổ Đạm (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) mà ít ai biết rằng ở Nghệ An cũng một thời Ca trù “nức tiếng lừng danh”. Ca trù Nghệ An không chỉ nức tiếng chốn kinh kỳ mà còn hình thành nên các giáo phường đại hàng(1) như Giáo phường đại hàng Đông Thành, giáo phường đại hàng Kẻ Gám, giáo phường đại hàng Cát Ngạn và hàng trăm giáo phường tiểu hàng(2) khác. Tiêu biểu trong số đó là giáo phường đại hàng Đông Thành với dòng họ Trần làng Yên Xuân, xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu có lịch sử hơn 500 năm hành nghề Ca trù.  

Theo gia phả dòng họ và các tài liệu khác như sắc phong, văn tế, thần tích... còn lưu tại di tích cho biết họ Trần ở đây có lịch sử gần 500 năm, trải qua trên 22 đời. Thủy tổ của dòng họ là ông Trần Đức Chính (tên húy là Mập) làm chức Giáo phường Ty chính trong phủ chúa Trịnh Tùng (1570 - 1623). Ông kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Quế - cũng là một ca nương - người huyện Đông Thành (nay là làng Yên Xuân, xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu). Sau khi về hưu, ông bà đã chuyển về ở quê vợ và chọn đây làm nơi sinh cơ lập nghiệp cho con cháu muôn đời. Từ đây đã nảy sinh một dòng họ giáo phường lừng lẫy gần năm thế kỷ(3). Ông Trần Đức Chính không chỉ là thủy tổ của dòng họ mà đồng thời cũng chính là tổ sư của Tộc giáo phường đại hàng ở huyện Đông Thành. 

Quá trình phát triển của dòng họ gắn bó chặt chẽ với sự hình thành và phát triển của giáo phường. Vì vậy, lịch sử dòng họ cũng chính là lịch sử của giáo phường. Các thế hệ đầu của dòng họ (từ thế hệ thứ nhất đến thế hệ thứ 4) chủ yếu hoạt động ca trù ở kinh thành Thăng Long. Lúc này nhà Lê trung hưng đang thịnh vượng, ca trù đang được các bậc vua chúa và quan lại yêu chuộng, trở thành một bộ phận của nhã nhạc cung đình nên hầu hết các ca nương, kép đàn của dòng họ hoạt động ca trù ở trong cung vua phủ chúa là chính. Phần lớn đàn ông thì được phong quan tước, đàn bà thì làm cung tần mỹ nữ trong cung vua phủ chúa hoặc phu nhân, mệnh phụ của các quan đại thần triều đình. Tiêu biểu như sau:

Thủy tổ Trần Đức Chính làm Giáo phường Ty chính của triều đình “ngôi đầu lạc tịch, hàng trước lệnh quan sang, chầu đức nhạc công lừng danh quản giáp, ngự chiếu Giáo phường Ty chính, đeo vẽ ngọc tía dưới sân”.   

Đời thứ hai: 

+ Ông Trần Đức Tài “nối nghiệp huân từ” làm chức Giáo phường Ty chính.

+ Ông Trần Đức Lương “nghề quản huyền tài cổ vũ phảng phất nghiệp tiên nhân, trường lễ nhạc tiệc yến chỉnh chện ngôi toán trưởng” làm Quản giáp được phong Tham đốc, Kim Vinh hầu. Vợ là Phan Thị Vệ được vinh phong Tự phu nhân.

Đời thứ ba:

+ Bà Trần Thị Nghiêm (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Mậu Dần là đào nương có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, được quan Thượng thư Nghĩa Quận công nâng đỡ, bà làm cung tần của chúa Trịnh Tạc. Gia phả còn ghi: “hình dung nhiều vóc nguyệt vẻ sao, miệng cười đào hoa nở nụ. Hoa vườn xuân vừa bén nhụy đã đứng vào tiền thế cấm cung. Phúc nhà lộc nước đã đành, lại nương đến đại thần thích phủ, ở khuê phòng quan Thượng thư Nghĩa quận. Hằng chầu ngọc yến đức Hoằng tổ Dương Vương (Trịnh Tạc)... ngôi năm phủ cao hơn thiên hạ, phúc chín trù nhuận khắp tôn thân”.

+ Ông Trần Đức Toàn (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Tân Tỵ, là một quản giáp tài năng “Thân trước Đông Phương Sóc, chí cả khôn bì”, được phong Bắc quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiêm sự, Hải Triều hầu. Ông có ba bà vợ đều là ca nương.

+ Bà Trần Thị Tề (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Quý Mùi, là ca nương “vin hải đường sênh phách, được chầu yến múa oanh ca, đủ trăm vẻ nghi dung, có vóc nhạn sa cá nhảy”. Bà lấy chồng là Khánh Trung hầu người xã Đức Hiệp, huyện Siêu Loại.

+ Bà Trần Thị Tương (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Ất Dậu là ca nương có nhan sắc mỹ miều, đàn hay hát giỏi “tóc lườn lượt dường mây non Sở, quần mê mê tựa sóng sông Tương; bước chân đi rạng ngời vóc ngõ, đường tơ phím trúc, khúc hát cao sơn”. Bà lấy chồng dòng dõi vương thất ở Biện Thượng (Thanh Hóa).

+ Bà Trần Thị Tửu (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Đinh Hợi. Bà lấy chồng họ Nguyễn là Thiêm Tổng tri, Bảo Lâm hầu người xã Áng Độ, huyện Chân Phúc (nay là huyện Nghi Lộc, Nghệ An). Bà là một ca nương rất hiếu thảo với cha mẹ chồng “thờ cha mẹ nẻo thuở đương thời, mùi cam khổ một chút chẳng rời, cha mẹ qua đời, lễ an táng khôn bề chê trách”.

+ Ông Trần Quang Vị (còn gọi là Trần Minh Lỵ, con ông Trần Đức Lương), sinh năm Canh Dần là một quản giáp “ăn ở có tấm nhân tấm nghĩa, vẹn hơn ngọc làu làu sáng hơn gương”. Ông được phong chức Cai hợp, Tĩnh Yên nam. Ông có bốn bà vợ cũng đều là những ca nương danh tiếng “giáo phường ty vốn dòng tơ trúc”.

+ Bà Trần Thị Sắc (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Nhâm Thìn, lấy chồng là Chánh Đội trưởng Nghiên Lộc hầu ở xã Cam Tuyền, huyện Thanh Oai (nay thuộc thành phố Hà Nội).

+ Bà Trần Thị Khoan (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Ất Mùi, là một ca nương xuất sắc, tài đức vẹn toàn “Mười lăm dây phím khúc ngọc tranh, lò bốn biển giá nên bậc nhất... đóa hải đường càng ngắm lại càng tươi, được thêm vẻ hương trời sắc nước”. Bà được tuyển vào làm cung phi của chúa Trịnh Tạc khi mới mười ba tuổi “mười ba tuổi bén duyên kim ốc, khắp sáu cung ngôi ở thứ tư”.

+ Bà Trần Thị Thai (con ông Trần Đức Lương) sinh năm Quý Hợi là một đào nương xinh đẹp, có tài, trước làm chức nội cung trong phủ chúa, sau làm vợ thứ của quan Tả Thị lang bộ Hộ“khoe chiều miệng ngọc mày ngài, thông làu mấy đoạn cung loan khúc hạc. Trước tiên triều chính vương phủ giữ chức nội cung, nay Hộ bộ Tả Thị lang ở ngôi á thất”.  

Đời thứ tư:

+ Bà Trần Thị Ban (con gái ông Trần Đức Toàn) “thanh sắc xếp vào bậc nhất, giá ngọc lành phưng phức hương sen, tuổi xuân vừa mới mười ba, ngôi sao bé đã vào chầu tía phủ”. Nghĩa là mười ba tuổi bà được triệu vào chầu cung vua phủ chúa. 

+ Bà Trần Thị Nhuyến (con ông Trần Đức Toàn) “tiếng ca có giọng oanh vàng, tuổi xuân mười sáu đã bén duyên nơi cửa ngọc”.

+ Ông Trần Quang Bính (con ông Trần Đức Toàn) “nối nghiệp sênh ca, có vẻ tần thanh” cũng là một kép đàn, quản giáp tài hoa.

+ Ông Trần Quang Thiện (con ông Trần Đức Toàn) “chí công danh đao bút khởi dòng Tiêu Tương”. Ông được cô Trần Thị Khoan - cung phi của chúa Trịnh - nuôi làm dưỡng tử. Sau cũng trở thành quản giáp có tài.

+ Bà Trần Thị Thịnh (con ông Trần Đức Toàn) là đào nương được dự vào ngôi chính tần trong phủ chúa “phím khúc ngân tranh, dự ngự chính tần vương phủ”.

+ Bà Trần Thị Quận (con ông Trần Đức Toàn) là người “xang cung ngọc lựu, làm sủng thiếp hậu quân lữ doanh”.  

+ Bà Trần Thị Xa (con ông Trần Quang Vị) “cung xoang mấy khúc ngọc tiêu quyến rũ, phượng hoàng bay đến đỗ ơn, chín trùng kim điện vầy đàm”.

 + Ông Trần Quang Ánh (con ông Trần Quang Vị) văn võ song toàn, là một quản giáp tài hoa, kinh qua nhiều chức vụ khác nhau, được phong Năng Thọ hầu.

Chỉ trong bốn đời này, dòng họ có 12 người con gái và 11 bà vợ làm ca nương, 9 người con trai làm quản giáp ca trù. Họ không chỉ là những nghệ nhân tài hoa, phong nhã mà còn là những con người có tâm có đức, biết giữ gìn lễ giáo, trung hiếu vẹn toàn, gia phả còn ghi như sau “kẻ làm con có gái có trai; da miễn tóc nhờ ơn áng nạ(4). Đấng làm tôi là thần, là thiếp; đầu lẫn cuối đội đức quân vương. Đền áng nạ kể mười phân, thờ quân vương ngay một tiết... hiếu trung trời cũng thuận, vẹn cả mọi bề”. Thật đúng là những tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp, đối nhân xử thế cho các thế hệ nghệ nhân đời sau noi theo.      

Sau khi nhà Lê trung hưng suy tàn, triều đại thay đổi, con cháu chuyển dần về quê sinh sống và truyền dạy nghề cho nhiều người trong họ và một số người ngoài họ cũng đến xin học ca trù và gia nhập giáo phường. Từ gốc ban đầu ở làng Yên Xuân, dòng họ đã phát triển ra nhiều chi phái tỏa đi khắp nơi, đặc biệt, tập trung ở các vùng trung tâm của phủ, huyện: một chi di cư đến làng Hướng Dương (nay là xã Diễn Phong) ở bên cạnh thành Trài(5), rồi di cư tiếp ra Kẻ Lứ, Cẩm Bào ở phía Bắc thành Trài, Đông Câu (phía Đông thành Trài); một chi ở lại làng Yên Xuân gần với thành phủ Diễn(6). Mặc dầu các chi phái sống ở những địa phương khác nhau nhưng luôn luôn giữ một mối liên hệ khăng khít và cùng dưới sự điều hành chung của ông Trùm phường (người đứng đầu giáo phường).  

Sống bằng nghệ thuật nên các thế hệ của dòng họ rất tôn trọng người tài hoa. Họ biết giữ gìn và phát triển nghề tổ bằng nhiều cách như:   

- Đào tạo các thế hệ kế tiếp từ khi còn nhỏ: những con cháu có năng khiếu về âm nhạc được các thế hệ đi trước là các bà, mẹ, chị kèm cặp, truyền dạy cho ngay từ khi đang còn nhỏ như bà Trần Thị Khoan được dì nuôi dạy “xem cháu bằng con”, ông Trần Quang Thiện(7), Trần Quang Mạch, Trần Quang Tuệ(8) được cô Trần Thị Khoan nuôi, ông Trần Quang Thô(9) được bà cô Trần Thị Tề nuôi dưỡng, các ông đều trở thành những quản giáp, kép đàn xuất sắc.  

- Chú trọng cưới vợ sớm cho con trai và lấy nhiều vợ là ca nương dòng dõi: Các thế hệ đầu của dòng họ tuổi thọ rất thấp (trung bình dưới 50 tuổi), vì thế cha mẹ rất chú trọng chuyện cưới vợ sớm cho con trai để có người nối dõi. Đặc biệt lấy rất nhiều vợ là ca nương dòng dõi để các thế hệ con cháu sinh ra có ghen di truyền tốt từ cả hai bên nội ngoại. Các cụ còn căn dặn con cháu: đi đâu thấy con người đẹp có giọng hát hay, đạo đức tốt thì cưới về làm vợ. Theo thống kê trong gia phả, bốn thế hệ đầu của dòng họ gồm: Trần Đức Chính, Trần Đức Lương, Trần Đức Toàn, Trần Quang Vị, Trần Quang Ánh đã lấy 11 bà vợ là ca nương. 

- Kén chọn những đào nương, kép đàn tài hoa cho gia nhập giáo phường: Theo phong tục xưa, nghề tổ chỉ truyền cho người trong họ nên việc cho người ngoài vào giáo phường rất hạn chế và phải được tuyển chọn kỹ càng. Chỉ chọn những đào nương, kép đàn tài hoa, có tâm với nghề và phải qua được vòng sát hạch mới được gia nhập giáo phường. Nhưng khi đã được tuyển vào thì giáo phường sẽ đào tạo thật bài bản, cấp tiền cho học đàn hát đến nơi đến chốn.

- Chọn nơi trung tâm đô hội để phát triển nghiệp tổ: Thời kỳ đầu, dòng họ phát triển ở kinh thành Thăng Long, sau đó chuyển về tập trung ở khu vực thành Trài, thành phủ Diễn đều là các trung tâm lỵ sở của huyện, của phủ nằm trên đường thiên lý Bắc - Nam. Đây là một sự nhạy bén, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của giáo phường. Bởi ở vùng trung tâm dễ nắm bắt được tin tức từ các nơi đưa về, các sự kiện lớn của nhà nước, việc đi lại thuận tiện, lại có điều kiện phục vụ ca hát tại chỗ cho các công sở, dinh quan...        

Giáo phường đại hàng được tổ chức chặt chẽ, có khoán ước rõ ràng. Ai vi phạm các điều lệ của giáo phường thì bị xử phạt, nhẹ thì phạt tiền, nặng thì bị đuổi ra khỏi giáo phường.

Đứng đầu giáo phường là ông Trùm phường chịu trách nhiệm quản lý chung toàn bộ hoạt động của giáo phường. Tế bào của giáo phường là các gánh hát. Một gánh hát bao gồm vài ba kép đàn với vài ba ca nương (số lượng không cụ thể), đứng đầu gánh hát là ông Kép. Ngày thường, các gánh hát hoạt động độc lập, ở đâu mời thì đến hát và tiền thu được do gánh hát sử dụng. Đến ngày hội lớn, ông Trùm phường triệu tập các ông Kép gánh hát lại và điều hành chung, gánh nào hát ngày nào, đợt nào, hát ở đâu... đều do ông Trùm phường cắt cử.

Khi có người xin gia nhập giáo phường hoặc đào nương, kép đàn làm lễ mở xiêm áo(10) thì phải báo với ông Trùm phường. Ông Trùm phường lại thông báo đến các ông Kép và sau đó mở một cuộc sát hạch, nếu đủ tiêu chuẩn mới được chứng nhận cho gia nhập giáo phường.

Quỹ của giáo phường được lấy từ hai nguồn: Một là từ ruộng tế điền, ruộng này chia cho con cháu cày cấy rồi lấy hoa lợi phục vụ việc cúng tế; hai là trích từ tiền đi hát của các thành viên giáo phường. Mỗi thành viên trong giáo phường đều có nghĩa vụ và trách nhiệm trích một phần tiền thu được từ việc đi hát để làm công quỹ của giáo phường.   

Giáo phường được phân bố ở sáu nơi chính: Làng Yên Xuân (nay thuộc xã Diễn Phúc), làng Yên Lý Ngoại (nay thuộc xã Diễn Yên), làng Đông Câu (nay thuộc xã Diễn Hải), làng Cẩm Trường (nay thuộc xã Diễn Trường), làng Nguyễn Xá (nay thuộc xã Khánh Thành), làng Kim Lũy (nay thuộc xã Diễn Kim). Giáo phường đại hàng được độc quyền ca hát ở những nơi danh tiếng trong vùng, như đền Cờn, đền Cuông, đình Cháy... Khi nhà nước tổ chức những sự kiện lớn thì chỉ giáo phường đại hàng mới được mời đến hát. Giáo phường đại hàng có quyền điều động các giáo phường tiểu hàng (tất nhiên là có hỗ trợ về mặt kinh phí). 

Trước đây, nhà thờ họ Trần ở Yên Xuân (Diễn Phúc) là một trong những cơ sở chính của giáo phường. Nhà thờ được xây dựng thời Lê Trung hưng, đã được trùng tu nhiều lần. Nguyên xưa, nhà thờ có kiến trúc ba tòa Thượng điện, Trung điện, Hạ điện và nghi môn, voi chầu, ngựa chầu, có tường bao quanh... với khuôn viên rộng khoảng 3 mẫu(11). Hàng năm, tại nhà thờ họ Trần diễn ra nhiều kỳ lễ để tưởng nhớ và tri ân các vị tổ nghề như: Tết Nguyên Đán, lễ tế Thượng Nguyên Rằm tháng Giêng (13 - 15/1 âm lịch); lễ tế Trung Nguyên rằm tháng Bảy (13 - 15/7 âm lịch), lễ giỗ ông Trần Đức Chính (18/4 âm lịch), giỗ ông Trần Đức Lương (6/6 âm lịch), lễ Mở xiêm áo... Trong đó, đặc sắc nhất là lễ Thượng Nguyên Rằm tháng Giêng và lễ Mở xiêm áo. Việc tế tổ không chỉ có con cháu trong dòng họ tham gia mà các đào nương, kép đàn của giáo phường cũng về làm lễ tế tổ sư, ngoài ra còn có cả các quan viên chức sắc của làng, xã đến dự lễ. Trong các kỳ lễ này còn tổ chức hát ca trù vì thế thu hút đông đảo nhân dân quanh vùng đến xem hát.              

Ngoài các hoạt động văn hóa tâm linh, nhà thờ họ Trần còn là nơi tổ chức truyền dạy hát ca trù. Ông trùm phường chọn các ông kép và đào nương lớn tuổi nhiều kinh nghiệm để làm thầy truyền dạy đàn, hát ca trù cho các môn sinh của giáo phường.

Những người muốn gia nhập vào giáo phường phải có lễ trình với ông trùm phường xin nhập môn. Nếu được ông trùm phường đồng ý thì sẽ làm lễ trình tổ xin nhập môn. Sau khi đã làm lễ nhập môn, giáo phường sẽ tổ chức đào tạo các tân đào, tân kép một cách thật bài bản, đúng chuẩn mực của giáo phường. Trước tiên các tân đào, tân kép phải học về lễ nghĩa, cách ứng xử, quy tắc, những điều kiêng kỵ của giáo phường, cách giữ giọng hát… sau đó mới đến học đàn, hát (các cụ thường nói “tiên học lễ, hậu học văn” là vậy).  

Các tân đào, tân kép được các “thầy” dạy cho cách cầm đàn, cầm phách sao cho thanh tao, lịch lãm; cách so dây, vặn nhịp, các bài bản cổ, cách luyến nhịp, cách gõ phách, cách nín hơi nhả chữ sao cho hay, cho khéo… giữa tiếng đàn và tiếng hát, tiếng phách luôn luôn phải nâng đỡ nhau để khi đàn kém thì có phách nâng, ca yếu thì có đàn đỡ… Hàng ngày, tiếng trống chầu, tiếng đàn đáy, tiếng phách gỗ và những tiếng luyện thanh, luyện giọng ú, xang, xề, công, lìu(12) của các ca nương, kép đàn ngân nga vang vọng khắp cả không gian thanh u.   

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, bối cảnh xã hội thay đổi và điều kiện đất nước chiến tranh, kinh tế khó khăn, Ca trù bị xem nhẹ đến mức coi thường nên dần bị tàn lụi và rơi vào lãng quên thì tộc giáo phường đại hàng cũng tan rã từ đó, chỉ còn “vang bóng một thời” trong ký ức của những người yêu ca trù, hầu hết các ca nương, kép đàn của giáo phường phải gác đàn, cất phách để chuyển sang nghề khác. Thậm chí nhiều ca nương, kép đàn còn e dè khi nhắc đến ca trù vì sợ bị xã hội đàm tiếu. Trải qua hơn nửa thế kỷ với bao tang thương dâu bể, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ca trù được xã hội nhìn nhận, đánh giá lại và dần dần hồi sinh, khởi sắc, trong đó có Ca trù ở Diễn Châu và Nghệ An. Đặc biệt năm 2009, Ca trù vinh dự được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp thì các thế hệ con cháu họ Trần càng tự hào hơn về công lao của tổ tiên và phấn khởi khi nghiệp tổ được phục hưng. Hiện nay, họ Trần ở Yên Xuân vẫn còn hai ca nương là bà Trần Thị Chắt 90 tuổi và bà Trần Thị Thúc 98 tuổi. Ngoài ra một số con cháu trong dòng họ cũng bắt đầu học hát ca trù với nguyện vọng để nghề tổ không bị mai một.  

Từ hàng trăm năm nay, con cháu họ Trần khắp mọi nơi và các thành viên giáo phường đại hàng đã hội tụ về đây để cúng tế, ca hát, dâng những lời ca tiếng hát, cung đàn nhịp phách lên tiên tổ, thể hiện sự tri ân các bậc tiền bối, tăng cường sự đoàn kết, xây dựng dòng họ và giáo phường ngày càng lớn mạnh, nghề tổ ngày càng hưng thịnh. Mạch nguồn truyền thống tốt đẹp đó được các thế hệ con cháu họ Trần bồi đắp thêm dày dặn. Góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đang có nguy cơ ngày càng bị mai một. Hiện nay, các hoạt động tế lễ đã và đang được tổ chức trang trọng theo truyền thống. Nhờ đó góp phần duy trì thuần phong mỹ tục của địa phương, tăng cường mối đại đoàn kết cộng đồng. Và cũng thông qua đó thể hiện tấm lòng tri ân, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, góp phần giáo dục nhân cách đạo đức cho thế hệ trẻ, khơi dậy lòng yêu nước, tự tôn dân tộc.   

Ngoài ra, tại di tích còn lưu giữ nhiều cổ vật quý còn nguyên vẹn như bài vị, khám thờ, hương án, bát hương, long đình... đặc biệt là các tài liệu Hán Nôm cổ như gia phả, sắc phong, lệnh chỉ, lệnh dụ, văn cúng... Đây là những tài liệu gốc có giá trị quý hiếm, bổ sung thêm nguồn tư liệu cho lịch sử địa phương cũng như chính sử của đất nước.

 

Chú thích

  1. Đại hàng nghĩa là giáo phường lớn, có thế lực mạnh, phạm vi hoạt động và mức độ ảnh hưởng rộng rãi.
  2. Tiểu hàng là giáo phường nhỏ, phạm vi hoạt động hạn chế, mức độ ảnh hưởng ít.
  3. Tính từ thời thủy tổ Trần Đức Chính thế kỷ thứ 16 đến khi ca trù bị lụi tàn là giữa thế kỷ 20.
  4. Áng nạ nghĩa là cha mẹ.
  5. Huyện lỵ của huyện Đông Thành cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn.
  6. Tức thành Diễn Châu, là huyện lỵ của huyện Đông Thành và phủ Diễn Châu thời Nguyễn.
  7. Con của ông Trần Đức Toàn - anh trai bà Trần Thị Khoan.
  8. Trần Quang Mạch và Trần Quang Tuệ là anh em song sinh, con của ông Trần Quang Vị - anh trai bà Trần Thị Khoan.
  9. Ông Trần Quang Thô là con ông Trần Quang Thiệu, cháu ông Trần Đức Toàn - anh trai bà Trần Thị Tề.
  10. Lễ mở xiêm áo tức lễ vào nghề (còn gọi là lễ trình nghề).
  11. Nay, nhà thờ đã bị chiến tranh tàn phá, chỉ còn lại tòa thượng điện với diện tích khuôn viên rộng 250m2 và khu mộ Quản giáp Ca trù Trần Đức Lương.
  12. Ú, xang, xề, công, lìu là cách ghi âm trong âm nhạc cổ (gọi là ngũ cung), tương tự như cách ghi âm trong âm nhạc phương Tây là đồ, rê, mi, fa, son, la, si, đô.
Đất và người xứ Nghệ khác:
Về Hưng Tân nghe hát Ví, Giặm (11/10/2019)
Nguyễn Trung Phong - Người khơi dòng sữa ngọt dân ca Ví, Giặm (11/10/2019)
Khám phá hang động Thằm Viên nơi biên giới miền Tây Nghệ An (25/9/2019)
Khám phá ngôi đình cổ 300 năm tuổi ở xứ Nghệ được dựng chỉ trong 1 đêm (14/9/2019)
Nhà thơ dân gian Trần Hữu Nghiêm (12/9/2019)
Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện - Người được lập đền thờ khi còn sống (9/9/2019)
Những hình ảnh quý hiếm về cảng Bến Thủy sầm uất gần một thế kỷ trước (7/9/2019)
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
Miền đất cổ Mường Chiêng Ngam (10/7/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (5/6/2019)
Miền Tây Nghệ An - Phong phú các loại hình văn hóa vật thể (24/5/2019)
Đào nương Trần Thị Khoan Cung phi của chúa Trịnh (21/5/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 419 | Tất cả: 1,873,884
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp