KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Ảnh hưởng của Phật giáo đối với giới trí thức phong kiến Đại Việt
Tin đăng ngày: 21/5/2019 - Xem: 38
 

Huy Huyền - Mai Phương Ngọc

“Ảnh hưởng của Phật giáo đối với giới trí thức phong kiến Đại Việt là một đề tài lớn và phức tạp, nhưng rất cần thiết trong bối cảnh Phật giáo đang được chấn hưng ở nước ta hiện nay. Năm 1993 chúng tôi đã bước đầu đề cập vấn đề này trong Thông báo khoa học của trường Đại học Sư phạm Vinh (Đặc san kỷ niệm 43 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Ấn Độ). Bài viết đã dược bạn đọc đưa lên nhiều trang mạng từ tháng 3/2008. Trong bài này chúng tôi sẽ  tiếp tục cập nhật bổ sung vấn đề ở một số nét nổi bật đã tương đối rõ ràng nhưng rất đáng tiếc xưa nay chưa được trình bày một cách có hệ thống.

Phật giáo du nhập nước ta vào khoảng đầu Công nguyên, là thành tố xuất hiện sớm nhất trong các thành tố ngoại nhập của văn hóa Việt Nam. Phật giáo Tiểu thừa theo đường thủy vào nước ta từ phía Nam (bấy giờ còn là lãnh thổ của Phù Nam (sau đó là Chân Lạp) và Chiêm Thành. Phật giáo Đại thừa theo đường bộ từ phương Bắc xuống. Đại thừa có 8 tông phái lớn, nhưng chỉ có 3 tông phái đến nước ta: Mật tông (cũng tức là Chân ngôn tông), Tịnh độ tông và Thiền tông; trong đó Thiền tông đến sớm nhất và mạnh nhất.

Cho đến giữa thế kỷ XIX, Thiền tông ở nước ta gồm các dòng sau:

Dòng Tìniđalưuchi (Vinitaruxi) do Tìniđalưuchi sáng lập. Ông người Thiên Trúc (Ấn Độ) bắt đầu trụ trì tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu) khoảng năm 580.

Dòng Vô Ngôn Thông do Vô Ngôn Thông sáng lập. Ông người Hoa, đến nước ta vào năm 820, ngụ tại chùa Kiến Sơ (nay thuộc xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội).

Dòng Thảo Đường do Thảo Đường sáng lập. Ông người Hoa, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành, được vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) cho lập đạo tràng tại chùa Khai Quốc ở Thăng Long từ năm 1069.

Dòng Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông (11278 - 1293) sáng lập, hợp nhất được tất cả các dòng Thiền tông có mặt ở nước ta lúc đó

Ngoài 4 dòng trên, còn có dòng Tào Động thời Trịnh Nguyễn, dòng Lâm Tế xuất hiện ở miền Trung vào thời Nguyễn, dòng Liêu Quán ở miền Trung vào thế kỷ XVIII, dòng Liên Tôn khoảng thế kỷ XVI  -  XIX, trụ sở ở chùa Bà Đá và chùa Liên Phái(1). Khi bàn đến ảnh hưởng của Phật giáo đối với trí thức Đại Việt thì chính là bàn đến Phật giáo Thiền tông, chủ yếu là dòng Thiền Trúc Lâm.

Trí thức nước ta thường xuất hiện trong lịch sử như là người đại diện chân chính cho tinh hoa và khí phách của dân tộc. Từ buổi đầu dựng nước và giữ nước, xây dựng nền văn minh đầu tiên của người Việt: Văn minh sông Hồng, những người trí thức vô danh đã hòa vào tập thể quần chúng nhân dân để lao động và sáng tạo.

Bước vào thời kỳ đấu tranh lâu dài hơn 1000 năm để giành lại độc lập, những người uyên bác nhất trong nhân dân là những nhà sư. Sách Di sản Hán Nôm Việt Nam, thư mục đề yếu của Gs. Trần Nghĩa có nói đến một số trí thức - nhà sư như Đạo Cao và Pháp Minh thế kỷ V, Đại Thừa Đăng thế kỷ VI, Thanh Biện thế kỷ VII… Nhân dân học chữ Hán trong các lớp học của người Hán mà người được tôn là Nam giao học tổ là Sĩ Nhiếp Thái thú quận Giao Chỉ từ năm 187 và học trong các nhà chùa. Một số học giỏi, từng sang Trung Quốc dự thi. Số này tên tuổi lưu lại rất ít ỏi, có thể đếm được trên đầu ngón tay: Trương Trọng, Lý Cầm, Lý Tiến, Khương Công Phụ, Khương Công Phục... Đặc biệt, có các trí thức giỏi cả văn lẫn võ như Lý Bí, Tinh Thiều… đã từng dựng nên nhà nước Vạn Xuân độc lập (544 - 602).

Chỉ đến chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại năm 938, đội ngũ trí thức nước ta mới thật sự hình thành và phát triển. Lúc bấy giờ trí thức Đại Việt đứng trước hai khả năng:

  1. Tự tạo cho mình một hệ tư tưởng riêng như trí thức Trung Hoa, Ấn Độ.
  2. Tiếp thu một hệ tư tưởng nước ngoài làm hệ tư tưởng của mình.

Muốn thực hiện khả năng thứ nhất thì điều kiện tiên quyết là trong xã hội phải có một tầng lớp trí thức sống độc lập bằng hoạt động trí tuệ. Ở Trung Hoa đạo Nho tồn tại hơn 500 năm mới bước vào chính quyền. Trước Khổng Tử (551 - 479 tr.CN) đã có những trí thức sống độc lập bằng hoạt động trí tuệ.

Từ buổi đầu độc lập cho đến giữa thế kỷ XIX nước ta chưa hề có một đội ngũ trí thức đông đảo sống độc lập như vậy! Giai cấp thống trị Đại Việt chỉ có khả năng nuôi dưỡng tầng lớp trí thức quan lại chứ không đủ khả năng nuôi dưỡng tầng lớp trí thức sáng tạo học thuật, tư tưởng. Vì vậy, trí thức Đại Việt chỉ còn khả năng thứ hai.

Do hoàn cảnh lịch sử, trí thức các nước Đông Nam Á quanh ta cũng không có hệ tư tưởng độc lập, và họ đã chọn Phật giáo hoặc Hồi giáo…làm hệ tư tưởng của mình; còn trí thức nước ta buổi đầu chọn Phật giáo, sau đó thì chính thức chọn  Nho giáo, nhưng vẫn  chịu ảnh hưởng Phật giáo khá sâu sắc, tuy ở mỗi thời kỳ lịch sử và ở mỗi cá nhân cụ thể thì có khác nhau.

Buổi đầu độc lập

Đã giành được độc lập thì phải có nhà nước và do đó phải có trí thức. Từ đó các trí thức - nhà sư, các nhà sư - trí thức tham gia chính sự tùy khả năng của mình và cũng tùy theo yêu cầu của vua chúa. Đỗ Thuận (915 - 990) theo dòng Thiền phương Nam, giỏi văn học, làm pháp sư dưới triều Lê Đại Hành. Trong bài kệ nhằm trả lời vua Lê về đạo trị nước, ông viết:

Quốc tộ như đằng lạc/ Nam thiên lý thái bình/ Vô vi cư điện các/ Xứ xứ tức đao binh 國祚如藤絡,南天裏太平。無為居殿閣,處處息刀兵 (Phúc nước cây leo quấn quýt/ Trời Nam  mở thái bình/ Vô vi trên điện các/  Chốn chốn dứt đao binh)(2).

Đỗ Thuận đã dựa vào cái lẽ vô thường của đạo Phật để khẳng định “phúc nước cây leo quấn quýt” và nguyên tắc trị nước mà ông nêu “vô vi cư điện các” vừa là nguyên tắc “vô vi nhi trị” của Đạo gia lại vừa là thái độ của tín đồ Thiền tông trên con đường đi đến ngộ đạo. Vô vi ở đây không phải là không làm gì, mà trái lại là làm bất cứ việc gì thuận theo lẽ tự nhiên.

Ngô Chân Lưu (933 - 1011) lúc nhỏ theo học Nho, lớn lên đi tu theo dòng Thiền Quan Bích ở chùa Khai Quốc. Ông được Đinh Tiên Hoàng mời tham chính, giữ chức Tăng Thống đứng đầu Tăng quan, hiệu là Khuông Việt đại sư  (匡越大師). Giặc Tống xâm lược nước ta, ông đã góp nhiều ý kiến thiết thực giúp Lê Hoàn tổ chức kháng chiến. Sau ngày chiến thắng, vua Lê đã phong ông làm Quốc sư. Ông thật sự xứng đáng là vị quân sư cho triều Đinh và triều Tiền Lê.

Thiền sư Nguyễn Vạn Hạnh (929 - 1018) lúc nhỏ tinh thông cả ba đạo Nho, Phật, Lão. Năm 21 tuổi xuất gia đầu Phật, tu ở chùa Lục Tổ. Ông có công lớn giúp cho Lê Đại Hành, sau lại giúp cho Lý Thái Tổ trong việc chính trị, ngoại giao.            

Sự tham chính của các Thiền sư tên tuổi như Đỗ Thuận, Ngô Chân Lưu, Nguyễn Vạn Hạnh… chứng tỏ ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo đối với sự phát triển tư tưởng chính trị.

Thời Lý - Trần

Thời Lý - Trần Phật giáo thịnh hành. Buổi đầu triều Lý, các Thiền sư vẫn tiếp tục tham chính (Vạn Hạnh, Viên Thông, Nguyễn Thường…)  và họ trình bày các kiến giải về đạo trị nước lại rất ít dấu vết triết lý Phật giáo. Là nhà sư nhưng họ lại dựa vào các nguyên tắc tiến cử người hiền, tu kỷ trị nhân,  dùng người quân tử hay coi việc yên dân và một nền chính trị tốt đẹp là gốc cho âm nhạc là những nguyên lý Nho gia. Triết lý của các nhà sư hầu như không bắt nguồn từ bản chất tôn giáo và triết lý của đạo Phật. Ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đối với chính kiến họ tuy có nhưng không sâu sắc gì và không có ý nghĩa quyết định. Khi phát biểu những chính kiến đó họ đã đi dần vào quỹ đạo nhập thế của Nho giáo.

Điều cần chú ý là trước sức đề kháng của một dân tộc có truyền thống chống ngoại xâm rất vẻ vang, Phật giáo vào nước ta đã không còn nguyên vẹn là Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa. Người Việt chỉ tiếp nhận các nhân tố tư tưởng bên ngoài thông qua tinh thần tự chủ của mình. Phật giáo vào nước ta đã được điều chỉnh, phù hợp với đầu óc thực tiễn từ ngàn xưa để lại. Những gì quá siêu hình, trừu tượng người Việt hầu như không hề quan tâm. Được rọi sáng bởi chủ nghĩa yêu nước, ngay các nhà sư cũng có tinh thần độc lập rất cao. Họ hoàn toàn tự tin ở sức mình, vượt ra ngoài sự ràng buộc của giáo lý, chẳng hạn như Thiền sư Nguyễn Quảng Nghiêm (1121 - 1190):

Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ,

Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.

Nam nhi tự hữu xung thiên chí

 Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.

(離寂方言寂滅去,生無生后說無生。男兒自有衝天志,休向如來行處行)  (Lìa được cõi tịch diệt mới có thể nói chuyện tịch diệt/ Sinh ở cõi vô sinh mới có thể nói về việc vô sinh/ Kẻ nam nhi phải tự mình có cái chí xông lên trời/ Cần gì đi vào con đường mà Như Lai đã đi)(3).

Tiến thêm một bước nữa, trên cơ sở độc lập về chính trị, quân sự, kinh tế, người Việt còn muốn độc lập về ý thức hệ. Người đầu tiên muốn thực hiện ý định đó là Lý Thánh Tông (1023 - 1072), đệ tử đầu tiên của Thiền Phái Thảo Đường. Nhưng phải đến Thiền Phái Trúc Lâm thời Trần với hai người đặt nền móng là Trần Thái Tông (1218 - 1277), Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 -1291) và ba vị tổ Trần Nhân Tông (1258 - 1308), Pháp Loa (1284 - 1330), Huyền Quang (1254 - 1334) ý định đó mới được thực hiện hoàn chỉnh. Phái Trúc Lâm đã tạo ra một ý thức hệ thống nhất trên cơ sở những tiền đề ý thức hệ đã có sẵn. Tuy rằng thực tế chỉ là một tông phái, nhưng Trúc Lâm đã tự khoác cho mình một tôn giáo mới khi thay đổi một phần nội dung tiêu cực, duy tâm, tự mình phân biệt với Thiền Tông Trung Hoa để thoát khỏi sự lệ thuộc với nước ngoài, làm cơ sở để thống nhất ý thức dân tộc; làm công cụ thống nhất quyền lực vào chính quyền Trung ương; làm phương tiện để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị và mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Trúc Lâm đã sáng tạo hệ thống “tam vị nhất thể”: Phật = Vua = Cha. Trần Nhân Tông là vị vua - giáo chủ, điều chưa từng có trong Phật giáo Ấn Độ!

Một điểm lý luận độc đáo của Trúc Lâm là con đường đi đến giác ngộ bằng hành động thực tiễn hàng ngày. Niết Bàn nằm trong thế giới trần tục, con người tốt nhất nên đến bằng con đường trần tục như bổ củi, gánh nước, giã gạo… Trong cuộc sống, ai hướng thiện, hướng đến cái tâm bao la bát ngát như đại dương thì người đó tiến dần đến giải thoát. Tư tưởng này được vị Quốc sư Trúc Lâm làm rõ thêm khi khuyên vị vua - Phật  tử Trần Thái Tông: “Phàm đã làm vua trong thiên hạ, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, phải lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình”(4). Theo tư tưởng này, con người hướng thiện bằng việc phục vụ nhân sinh và trong quá trình đó tâm con người mở rộng dần bao chứa tâm của nhiều người… Càng trải rộng bao nhiêu càng đi gần đến giác ngộ bấy nhiêu! Như vậy con đường đi đến giác ngộ chính là con đường cứu dân độ thế. Điều này hoàn toàn không có trong Phật giáo Ấn Độ - Trung Hoa.

Lại nữa, cách “thiền” của vị tổ thứ nhất Trúc Lâm Trần Nhân Tông cũng thật thoải mái mà không hề trái đạo. Đây là 4 câu kệ kết thúc bài phú Cư trần lạc đạo:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền.

居塵樂道且隨緣,饑則飧兮困則眠。家中有宝休尋覓,對境無心莫問禪 (Ở đời vui đạo cứ tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền/ Báu sẵn trong nhà đâu kiếm nữa/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi Thiền?)(5).

Thiền tông chỉ nam tự 禪 宗 指 南 序 của Trần Thái Tông (1218 - 1277) lại khẳng định: “Núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lòng lặng lẽ mà sáng suốt đó là Phật đấy. Nay nhà vua nếu giác ngộ về chữ “tâm” thì lập tức thành Phật, có cần gì phải đi cầu ở đâu”(6). Ý Thái Tông rút gọn lại là: Tu cốt ở tâm, tâm tức Phật, Phật tại tâm, chính được tâm là gặp Phật. Từ đó ông chủ trương nhập thế, gánh vác việc đời, hơn nữa là muốn đóng góp cho đời theo tinh thần muốn đại từ, đại bi thì phải có đại hùng, đại lực. Cho nên những người tu đạo Thiền làm việc cứu nước, cứu dân là lẽ đương nhiên, bởi vì trong lúc mọi người hăng hái chống giặc cứu nước, nếu cứ khư khư ôm lấy giáo lý nhà Phật, đóng kín cửa chùa, thì thật chẳng hợp thời chút nào! Phải theo tinh thần của vị Tuệ Trung Thượng Sĩ lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình (dĩ chúng tâm vi kỷ tâm), trộn lẫn cùng thế tục, cầm gươm lên ngựa tiêu diệt quân xâm lược, sẵn sàng vi phạm giới luật (cấm sát sinh), giết một người để cứu muôn người!

Trong sáng tác văn học, các thi sĩ Trúc Lâm thừa nhận thiên nhiên cũng như thừa nhận cuộc sống. Thơ ca phái Trúc Lâm tràn ngập thiên nhiên, nhưng họ chỉ mượn thiên nhiên làm môi trường diệt dục, chứ không giống tín đồ Lão Trang tìm thấy trong thiên nhiên tính quy luật của cuộc sống và chủ trương vô vi; họ cũng khác các nhà Nho yếm thế đời sau thường chú trọng tìm trong thiên nhiên những lạc thú thanh cao của đời sống tinh thần.

Nhìn chung, mặc dù Phật giáo thịnh hành thời Lý - Trần, nhưng ảnh hưởng của nó đối với trí thức chưa mạnh lắm. Những người cầm đầu bộ máy nhà nước khi thảo ra những văn kiện hành chính như chiếu, chế, biểu, hịch, cáo… không tìm thấy những căn cứ lý luận và căn cứ thực tiễn, kinh nghiệm quản lý nhà  nước trong giáo lý đạo Phật. Tuy vậy, về chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách ngoại giao cũng như về mặt đạo đức, tình cảm, tinh thần từ bi đại độ của Phật giáo lại để lại những dấu ấn rõ nét. Vua Lý Thái Tông khoan hồng cho những hoàng tử có hành động cướp ngôi, vua Lý Thánh Tông thương xót tù nhân, vua Trần Thái Tông dàn hòa với anh ruột Trần Liễu, cũng như việc các vua nhà Lý tha tội và phong chức tước cho các tù trưởng miền núi là những bằng chứng rõ nét. Đặc biệt, cách ứng xử tuyệt vời của Trần Nhân Tông sau chiến thắng quân Nguyên: sai đốt hết hòm phiếu đựng các tờ biểu xin hàng giặc để yên lòng những kẻ hèn nhát; thả và cho về nước gần một vạn tù binh Nguyên; đại xá thiên hạ, khoan thư sức dân, bản thân sống cuộc đời thanh bạch “mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm” đã tỏ rõ tầm vĩ nhân của ông tổ thứ nhất dòng ThiềnTrúc Lâm - vị anh hùng dân tộc vĩ đại! 

Từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX

Đến cuối Trần và thời nhà Hồ (1400 - 1407), Phật giáo đã bị công kích nặng nề. Từ Lê sơ trở đi, Nho giáo trở thành quốc giáo. Triều đình bài xích Phật giáo nhưng nhân dân đa số vẫn đi theo Phật. Thời Lê Trung Hưng, trong thực tế cả vua Lê lẫn chúa Trịnh Đàng Ngoài và chúa Nguyễn Đàng Trong đều sùng Phật. Phật giáo bị pha trộn với Đạo giáo và Nho giáo. Những năm đầu triều Nguyễn, triều đình tìm mọi cách hạn chế Phật giáo, nhưng phép vua thua lệ làng, tín ngưỡng Phật giáo vẫn phổ biến trong nhân dân.

Trí thức nước ta giai đoạn này là trí thức Nho giáo, nhưng đều chịu ảnh hưởng của Phật giáo, thể hiện ở các lĩnh vực:

Trong sáng tác văn học.

Nhà văn và nhà tư tưởng lớn nhất thế kỷ XV là Nguyễn Trãi (1388 - 1442) nhập diệu đạo Thiền đến mức biến thành thơ. Ông tự ví cảnh làm quan của mình giống cảnh chùa và quan niệm “Vị xuất gia thì thả trú gia 未出家時且駐家” (Chưa xuất gia thì hãy ở nhà)(7). Từ sau Nguyễn Trãi, tư  tưởng Tống Nho ào ạt đi vào văn học: thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, truyện truyền kỳ Nguyễn Dữ… Có điều cần lưu ý là ở Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thì Nho kết hợp với đạo Lão - Trang, ở Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) thì Nho kết hợp với Đạo giáo, còn ở Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) thì là Tống Nho tương đối thuần túy. Đến thế kỷ XVII, XVIII thì những khái niệm Phật giáo lại biến thành cảm xúc, cảm giác của các nhà văn, nhà thơ. Một tác gia tiêu biểu là Nguyễn Gia Thiều (1741 - 1798). Trong Cung oán ngâm khúc ta bắt gặp thường xuyên những khái niệm Phật giáo: ảo hóa, hư ảo, kiếp phù sinh, duyên nghiệp, bể khổ, bến mê, hoa đàm đuốc tuệ… Trong Đoạn trường tân thanh  斷腸新聲(Truyện Kiều), tư tưởng Phật giáo gắn bó hữu cơ với tác phẩm. Nguyễn Du (1765 - 1820)  đi từ tài mệnh tương đố đến nghiệp báo luân hồi; từ hiếu nghĩa để vào từ bi; từ đầu chí cuối hy vọng cứ nhen lên rồi lại tắt, lại nhen và không khí yếm thế bi quan cơ hồ không dứt ra được. Ông lý giải cuộc đời chìm nổi của Kiều là do nghiệp chướng. Tất nhiên ý nghĩa khách quan của hình tượng thì lại là chuyện khác!

Trong đời sống đạo đức, tình cảm.

Phật giáo không phải là phương thuốc hiệu nghiệm hồi sinh cuộc đời.

Trí thức Đại Việt tìm đến đức Phật từ bi, cứu khổ, cứu nạn thường là để tìm thứ thuốc an thần tạm thời (trong khi xã hội đầy biến động, các trí thức có lương tâm luôn luôn phải dằn vặt quá nhiều về ý nghĩa cuộc đời). Nguyễn Trãi, Nguyễn Gia Thiều, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du v.v…  đều có chỗ gặp nhau ở đó.

Trong đời sống chính trị, tư tưởng, học thuật.

   Đạo Phật sâu rộng vô biên, người Việt hầu như chỉ chú ý đến yếu tố từ bi, cứu khổ, cứu nạn. Trí thức Đại Việt tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm cũng rất chú ý tiếp nhận yếu tố này của Phật giáo, làm phong phú thêm chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam, tỏ rõ thái độ khoan hồng độ lượng của người Việt (thể hiện trong các tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Dụ cựu triều văn võ chiếuDụ Ô tào chiếu của Ngô Thì Nhậm (viết thay vua)). Chính sách khoan hồng đối với tù binh của Lê Lợi - Nguyễn Trãi: “Để hả mối giận một sớm mà mang tiếng giết hàng muôn đời, thì sao bằng để sống ức vạn người mà hết mối chiến tranh cho hậu thế, khiến sử xanh ghi chép, nghìn thuở lưu thơm” (Lam Sơn thực lục). “Đến như thần vũ không giết/ Đức lớn hiếu sinh/ Nghĩ về kế lâu dài của nhà nước/ Tha kẻ hàng 10 vạn sĩ binh/ Sửa hòa hiếu cho hai nước/ Tắt muôn đời chiến tranh” (Phú núi Chí Linh) chính là tiếp tục cách ứng xử tuyệt vời của vị tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông thời Trần đã nói ở trên!

Trí thức Đại Việt không có điều kiện thuận lợi đi sâu vào giáo lý đạo Phật. Nguyễn Du từng thừa nhận: “Ngã độc Kim cương thiên biến linh/ Kỳ trung áo chỉ đa bất minh我讀金剛千遍零其中奧旨多不明”(Ta đọc kinh Kim cương hàng nghìn lượt/ Nhưng những ý nghĩa sâu xa trong đó phần nhiều không rõ ràng) (Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài 梁昭明太子分經石臺)(8).

Tìm đến Phật giáo, Lê Quý Đôn (1726 - 1783) nhằm mục đích mở rộng kiến văn của mình. Nhà bác học này đã chú ý ghi chép, nhận xét về các nhà sư nước ta từ thời Bắc thuộc đến Hậu Lê thành một thiên sách Thiền dật 禪佚 trong bộ Kiến văn tiểu lục  见闻小录.

Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) viết Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh 竹林宗旨源清 vào cuối đời, ý muốn kế tục phái Trúc lâm thời Trần, xây dựng thành một thứ kinh để thuyết pháp, kết hợp khéo léo Nho với Phật. Tập sách được các nhà nghiên cứu hiện đại đánh giá cao, cho rằng nó đã tập hợp được những kiến thức rất uyên bác, lý lẽ chặt chẽ, nhưng tác phẩm cũng chỉ thể hiện sự bế tắc của tác giả với những suy nghĩ tư biện mang đầy màu sắc duy tâm, mê tín(9). Điều mà Ngô Thì Nhậm tâm đắc nhất vẫn là tư tưởng nhập thế tích cực của phái Thiền tông Trúc Lâm, chứ không phải là một tư tưởng sâu xa nào khác của Phật giáo.

Tóm lại, trí thức Đại Việt từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX (kể cả các nhà sư, các vị tổ phái Trúc Lâm) tuy mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng không mấy ai đi sâu vào giáo lý nguyên thủy của Phật giáo.

Từ cuối Trần trở đi, trí thức Đại Việt là trí thức Nho giáo nhưng vẫn không tránh khỏi ảnh hưởng Phật giáo trong sáng tác văn học; trong đời sống đạo đức, tình cảm; trong đời sống chính trị, tư tưởng, học thuật… Thông qua nhân dân lao động mà đại biểu là những trí thức lỗi lạc, Phật giáo được bản địa hóa, dân gian hóa, góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, truyền thống giáo dục khoa cử nói riêng và truyền thống văn hóa nói chung. Các danh nhân văn hóa tiêu biểu thời Lý Trần cho đến Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du v.v… đều tôn trọng Phật giáo ở những khía cạnh tiến bộ, nhân bản của tôn giáo này.

Vào thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã  khai thác những hạt nhân tích cực của Phật giáo để phục vụ cách mạng. Đến với Phật giáo, Hồ Chí Minh đến với tư tưởng vị tha, cứu khổ, cứu nạn, mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” chính là lấy nguyện vọng, ham muốn của dân làm ham muốn của mình, lấy cái tâm của dân làm cái tâm của mình hết sức gần gũi với tư tưởng Tuệ Trung Thượng sĩ “dĩ chúng tâm vi kỷ tâm”!(10)

 

 

Chú thích

(1). Tham khảo: Nguyễn Tài Thư (cb), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. KHXH.H.1988. Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn hóa. 1992 ; Đoàn Trung Còn: Lịch sử nhà Phật, Nxb. Tôn giáo. 2007; Nguyễn Khắc Thuần: Tiến trình văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XIX, Nxb. Giáo dục. 2007 v.v…

(2), (3). Hai bài trên đều rút từ Thơ văn Lý - Trần  tập I, Nxb. Khoa học Xã hội, H.1977.

(4), (6) . Thiền tông chỉ nam tự trong Khóa hư lục Bản dịch của Đào Duy Anh. H.1974

(5). Thơ văn Lý - Trần Tập II. Quyển thượng. Nxb Khoa học Xã hội..H 1989.

   (7). Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội. H.1969.

  (8). Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb Văn học. H.1978.

   (9) Xin xem: Vũ Khiêu: Lời giới thiệu tác phẩm Thơ Ngô Thì Nhậm, Nxb Văn học.H.1988,

(10) Xin xem: Hồ Sĩ Hùy: Tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, Thông tin Khoa hoc & Công nghệ Nghệ An số1+2/2012. Đăng lại trong Đặc san Khoa học và Công nghệ Quảng Trị số 1/2014, Tạp chí Xưa & Nay số 454 tháng 12/2014….

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về ý thức tôn trọng nhân dân (10/6/2019)
500 năm trước Việt Nam đã thu thuế tàu buôn nước ngoài trên vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa (6/6/2019)
Hoàng Sa - Trường Sa thời vua Quang Trung (6/6/2019)
HUYỀN THOẠI THÁP CHĂM BÌNH ĐỊNH: Ngàn năm còn một chút nầy (5/6/2019)
Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo - Bài học từ đất nước Phần Lan (3/6/2019)
Tubudd - Câu chuyện của khởi nghiệp (3/6/2019)
Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng mới (3/6/2019)
Xây dựng nhân cách người Nghệ An cho các con trong gia đình Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan (3/6/2019)
Ảnh hưởng của Phật giáo đối với giới trí thức phong kiến Đại Việt (21/5/2019)
NHỮNG ĐIỀU LẠ Ở DI CHÚC CỦA BÁC HỒ (16/5/2019)
Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng thay đổi cơ cấu kinh tế (15/5/2019)
Tóm tắt tiểu sử Nguyên Chủ tịch nước - Đại tướng Lê Đức Anh (3/5/2019)
Đại tướng Lê Đức Anh và tấm lòng với Nghệ An (3/5/2019)
Nối tiếp tinh thần đại thắng mùa Xuân 1975 (24/4/2019)
Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, mãi mãi tự hào của dân tộc ta (24/4/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 583 | Tất cả: 1,744,957
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp