NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Sứ mệnh hòa giải, hòa hợp dân tộc của văn chương nhìn từ phương diện văn hóa - nhân văn (Qua sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu)
Tin đăng ngày: 21/5/2019 - Xem: 59
 

 

BÙI VIỆT THẮNG

Đặt vấn đề nghiên cứu

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng kêu gọi: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Thiết nghĩ, hòa giải/ hòa hợp dân tộc cũng chính là xây dựng trên tinh thần đoàn kết của nghĩa “đồng bào”, của tương thân, tương ái cùng con Rồng cháu Tiên có từ ngàn đời nay của người Việt Nam. Nhà văn hóa Nguyễn Trãi trong Bình ngô đại cáo từng nhấn mạnh truyền thống “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của dân tộc Việt Nam vốn nhiều đời “xưng nền văn hiến” và “hùng cứ một phương”.

Trong giáo lý của đạo Phật có “Thuyết Tứ đế” (hiểu là luân lý quan xã hội của Phật). Tứ đế là “Bốn chân lý khổ, tập, diệt, đạo. Khổ đế là nói ở trong cuộc sống hiện thực đầy rẫy các hiện tượng đau khổ. Người đem khổ chia thành tám loại, tức là: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oán hận hội khổ (tập hợp nỗi khổ đối với những sự vật hoặc những con người mà mình không yêu), nỗi đau khổ của sự ly biệt với những sự vật hoặc những con người mà mình yêu, cầu không được khổ và ngũ thủ uẩn khổ (mọi nỗi đau khổ của thân và tâm)” (Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nxb. Chính trị Quốc gia, 1999, tr. 298-299). Trong tiến trình văn hóa Việt Nam, có thể nói, giáo lý Phật đã có ảnh hưởng sâu rộng. Theo đó chúng ta thấy một trong tám nỗi khổ của con người trên thế gian này chính là “oán hận hội khổ”. Oán thù sinh ra căm thù. Oán thù triệt tiêu tình yêu thương. Làm sao để được như nhà thơ Xuân Diệu viết: “Yêu và căm hai đợt sóng ào ào/ Vỗ trong lòng dội mãi tới trăng sao”. Huy Cận viết “Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”. Chế Lan Viên viết “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/ Nguyễn Du viết Kiều và đất nước hóa thành văn”. Trong chiến tranh chúng ta dạy bài học về lòng căm thù - căm thù bọn cướp nước và bán nước gây tội ác dã man với đồng bào, đồng chí. Tất nhiên. Nhưng xét cho cùng, dạy lòng yêu thương, vị tha, giác ngộ con người mới cần thiết nhưng khó khăn, lâu dài. Đây có thể coi là nhiệm vụ chiến lược, có tính bền lâu tạo nên sự phát triển bền vững của xã hội xét từ nhiệm vụ xây dựng văn hóa. Sứ mệnh này được trao cho văn chương.

Hiện nay có 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở các nước và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Đó là một “thực thể Việt” to lớn và phức tạp về tư tưởng, tình cảm và quan hệ xã hội. Tuy nhiên, phải nói thẳng thắn rằng, không phải đã có một cái nhìn xuyên suốt, nhất quán và thiện chí hoàn toàn về đất nước, dân tộc, chế độ. Hãy còn rất nhiều khúc mắc, đôi khi bằng mặt mà không bằng lòng. Đôi khi vô tình hay hữu ý chưa thấu hiểu, thấu cảm nhau. Còn nhiều hố ngăn cách vô hình. Trong bối cảnh đó, văn hóa, đặc biệt văn chương, là một “kênh” thông tin thẩm mỹ quan trọng. Xin nhắc lại truyện ngắn Thương nhớ đồng quê của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp để thấy câu chuyện “trong - ngoài”, “đi - ở”, “đúng - sai”, đã nhờ con đường của văn chương mà được hóa giải theo thời gian. Một cô gái (tên Quyên) đến Mỹ từ nhỏ nhưng khi về thăm quê thì câu hỏi đầu tiên với người (tên Nhâm) đi đón mình ở sân ga là: “Nhà anh cấy bao nhiêu sào? Mỗi sào bao nhiêu thóc?”. Tôi bảo: “Mỗi sào được hơn ba nồi, khoảng gần tạ, mỗi cân thóc một nghìn tư”. Quyên nhẩm: “Hai mươi triệu tấn thóc cho sáu mươi triệu người” (Nguyễn Huy Thiệp - Như những ngọn gió, Nxb. Văn học, 1995, tr.386). Không phải người Việt Nam nào ở nước ngoài về thăm quê hương cũng có cái tâm và cái tầm như cô gái tên Quyên trong câu chuyện đặc sắc này. Có lẽ, thế hệ như cô gái tên Quyên này được sinh ra ở nước ngoài trong bối cảnh mới, có thể cô không dính dáng gì đến quá khứ (không bị “bóng đè”). Hoặc giả bố mẹ cô tuy đã trải qua ba chìm bảy nổi nhưng đã thoát ra khỏi cái bóng của quá khứ và tuyệt nhiên không hoài cổ, hay định kiến/ mặc cảm.

Trong bài viết Chuyện cũ nói lại, nhà văn Nguyễn Khải có kể một câu chuyện đáng suy ngẫm: “Năm 1975, trước khi đi vào thành phố Sài Gòn mới được giải phóng, một đồng chí cấp trên dặn tôi: “Gặp ai cũng được nhưng gặp văn nghệ sỹ là phải cảnh giác. Họ kiên trì tư tưởng chống Cộng lắm đây!”. Lát sau lại dặn thêm: “Các cậu phải chú ý giúp đỡ lẫn nhau. Đừng có thấy cảnh phồn vinh bề ngoài dưới thời Mỹ ngụy mà dao động!”. Tôi nghe rất có lý. Anh em văn nghệ sỹ trong đó dứt khoát là chống Cộng rồi. Còn anh em tôi nhất định là phải đề phòng sự thâm nhập của tư tưởng tư sản và các bả độc của chủ nghĩa thực dân mới. Nhưng sau này nghĩ lại lời dặn của cấp trên và sự đồng tình quá lanh lẹn của mình cũng phải bật cười. Vì nó rất vô lý […]. Rồi lại nghĩ, người ta nói sai đến thế mà mình không biết cãi lại thì sao nhỉ? Nghĩ thế lại không muốn cười nữa” (Nguyễn Khải - Chuyện nghề, Nxb. Hội Nhà văn, 1999, tr.104).

Ngay trong quan hệ với Hoa kỳ, trước đây là kẻ thù xâm lược, thì nay chúng ta cũng theo phương châm khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Chuyến thăm Việt Nam của cựu Tổng thống B. Clinton cách nay đã lâu chứng tỏ điều ấy khi ông đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du (lời Kim Trọng với Thúy Kiều: “Hoa tàn mà lại thêm tươi/ Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa” - câu 3123, 3124).

Người tiên phong mở đường

Đọc Di cảo Nguyễn Minh Châu (Nxb. Hà Nội, 2009) chúng tôi chú ý đến một câu chuyện nhà văn ghi chép tháng 5 - 1962, tại Thái Nguyên (được ghi chú là “Nhật ký kháng chiến chống Pháp”). Mẩu chuyện này có nhan đề giản dị Anh Yên và chị Chiều: “Yên và Chiều là hai chiến sỹ du kích. Yên bị bắt. Anh vận động chuẩn bị vượt trại giam trốn thoát nhưng không thành. Chúng nó bức anh đi lính. Anh nảy ra một kế: Đi lính rồi tìm cách trốn sang hàng ngũ ta. Anh vào lính đã có thời cơ trốn nhưng rùng rình muốn lôi kéo thêm được một số thì mới ra. Trong một trận phục kích, bất ngờ anh bị bắt. Yên trở thành tù binh. Yên rất khó xử. Ai hiểu cho hoàn cảnh của Yên? Anh muốn xung phong vào bộ đội, giết giặc lập công để tỏ rõ tấm lòng của mình, nhưng chính sách của ta chỉ nhận cho vào bộ đội những hàng binh mà không nhận tù binh. Qua một thời gian học tập chính sách khoan hồng của Chính phủ ở trại tù binh, anh được phóng thích trở về làng. Lúc này vợ anh đang làm xã đội phó. Vợ anh khinh anh ra mặt, tuy ít nhiều vẫn còn tình yêu chồng. Mẹ anh thì vẫn yêu thương, nhưng có cái gì khác trước. Trong con mắt mẹ vẫn nhìn anh bằng cái nhìn những kẻ lầm lạc. Gia đình xóm làng cư xử với anh đúng như một tên ngụy binh. Họ không chửi mắng gì nhưng họ e dè, đối xử theo đúng chính sách. Anh sống trong cô quạnh, như một kẻ bị cuộc đời bỏ rơi. Một ý nghĩ táo bạo và nguy hiểm đến: ta sẽ vào lính Commanđô và từ trong lòng quân đội địch đầy tội ác ấy ta sẽ làm lại cuộc đời, để cho mọi người biết. Thế là anh đăng lính Commanđô. Ở tỉnh, tụi địch nhận anh một cách tín nhiệm. Ba tháng sau anh đã gây được một tổ phản chiến tiến tới nhiều tổ. Và một đêm Yên lãnh đạo số binh lính giết chết tên chỉ huy cùng mười anh em vác súng trở về. Bên ta đón anh trở về như một người có công lớn. Đơn vị nhận anh vào bộ đội cùng số anh em anh vận động được. Trước khi gia nhập bộ đội anh được về thăm làng. Lúc trở về, mẹ anh đã chết. Trước lúc chết mẹ anh nguyền rủa anh ghê gớm và vợ anh đã bỏ đi, không ai biết là chị đi dâu. Có người nói chị đã thoát li để khỏi mang tiếng xấu với làng nước và đã lấy chồng khác. Thế là tan nát hết. Anh trở về gia nhập bộ đội và chiến đấu rất hăng với một động cơ điên rồ: để chết. Nhưng qua bao nhiêu trận đánh anh vẫn sống. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trên đường hành quân đơn vị Yên bị máy bay bắn dữ, anh bị thương và được đưa vào quân y. Trong quân y viện anh gặp một người cán bộ phụ nữ dân công bị bom bị thương cụt cả hai chân và một mảnh đạn vào ngực, không ngờ người đó là Chiều, người vợ mà anh vẫn yêu và đi tìm. Người vợ cũng nhận ra anh. Anh đến ôm lấy Chiều. Nhưng chị vụt nhớ ra, chị ngồi nhổm dậy chỉ vào mặt anh và thét to cho mọi người biết: “Nó là thằng gián điệp chui vào bộ đội, không dè nó báo cho máy bay đấy, bắt lấy nó!”. Chị tắt thở. Yên lặng đi bên xác vợ, anh bước từng bước như người mất hồn ra ngoài khu rừng. Bên ngoài súng vẫn nổ giòn giã” (sđd, tr. 27-28). Thiết nghĩ, ghi chép này đã như một tác phẩm trọn vẹn, trong đó nhà văn muốn bằng văn chương “san lấp” cái hố ngăn cách lòng cựu thù gây nên bởi hoàn cảnh chiến tranh, muốn đặt một vấn đề về hòa giải hòa hợp xuất phát từ nhân tâm, từ truyền thống “lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”.

Mười một năm sau, trong nhật ký (13-5-1973), nhà văn Nguyễn Minh Châu vẫn đau đáu viết về chủ đề này: “Cái khổ cái chết giăng bẫy khắp mặt đất, khắp mặt trái đất này, không, nơi khác, người ta không sống thế. Hình như chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Tối qua một cậu bị bò cạp cắn phải cõng tới 52, 6 cậu ở Ái Tử bị một vụ nổ bom bi dứa, 1 cậu 19 tuổi sáng nay phải múc mắt. Sau chiến tranh mà người bị thương vẫn nằm la liệt trong các lán bệnh viện, nhưng xét cho cùng, cái chết chóc thương tật cũng không tác hại người ta ghê gớm bằng cái khổ sở, cái thiếu thốn, cái bệnh tật, cái nhếch nhác, cái buồn tủi, cái chia ly, cái chia lìa mẹ con, vợ chồng, cái mồ hôi và nước mắt vẫn chảy thành đại dương và cái máu chỉ là con sông. Hai bên, ai sẽ dám đứng ra thách thức đối phương một thái độ này: tất cả mọi công việc của mình làm để hướng về việc cho người dân bình thường đỡ bớt đi phần đau khổ. Ai sẽ nghĩ đến con người hơn một chút?” (chúng tôi nhấn mạnh, BVT, sđd, tr.295). Ngay trong chiến tranh nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nghĩ rất xa, đón đầu vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc khi đặt câu hỏi: “Hai bên, ai sẽ dám đứng ra thách thức đối phương một thái độ này…”. Câu hỏi nhức nhối ấy được các nhà văn tiếp tục trả lời trong sáng tác sau 1975.

Hai năm sau ngày hòa bình (30-4-1975), nhà văn Nguyễn Minh Châu ra mắt tiểu thuyết Miền cháy (Nxb. Quân đội Nhân dân, 1977). Có thể nói, đây là tác phẩm văn chương đầu tiên sau 1975 viết về tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc bằng ngôn ngữ văn chương/tiểu thuyết. Chủ đề của tác phẩm sáng rõ: Bước ra khỏi chiến tranh cũng khó khăn và đòi hỏi chúng ta phải có bản lĩnh như khi bắt đầu bước vào cuộc chiến. Vẫn cần ở mỗi người tinh thần cách mạng triệt để, đồng thời cũng cần ở mỗi người một tinh thần nhân đạo cao cả trong việc giải quyết những vấn đề của đời sống thời hậu chiến. Tư tưởng này được hòa quyện trong một câu chuyện thấm đẫm tinh thần của cái bi kịch (được hiểu như là một phạm trù mỹ học cơ bản). Đại đội trưởng Nghĩa hy sinh vào giờ phút chót của chiến tranh. Đó là những giờ phút tháo chạy của tàn quân địch. Vợ chồng Phu La (là trung tá biệt động) đã thoát chết nhờ cõng theo đứa con nhỏ trên lưng (chính đại đội trưởng Nghĩa tử trận vì viên đạn bắn lén của Phu La). Vợ chồng Phu La đã bỏ lại đứa con để dễ bề tháo chạy sau cú vấp ngã trên đường đào tẩu. Trèo lên được một chiếc tàu chở người di tản, chính vợ của Phu La bị tàn quân ngụy bao vây hãm hiếp, còn Phu La thì bị ném lên bờ. Sau nhiều ngày lẩn trốn Phu La buộc phải ra trình diện trước Ủy ban Quân quản dưới một cái tên khác. Bé Sinh - con trai Phu La - được các chiến sỹ đại đội nuôi nấng, dĩ nhiên đã làm xáo trộn sinh hoạt và công tác của đơn vị. Người vợ cả của Phu La biết chuyện xin đem Sinh về nuôi nhưng bị đơn vị từ chối. Bà Êm, mẹ đẻ của Nghĩa ở Triệu Phú, Quảng Trị lại chính là người sau đó đơn vị gửi gắm nuôi dưỡng bé Sinh. Ban đầu đơn vị chỉ thông báo với mẹ Êm rằng Sinh là đứa trẻ bị lạc cha mẹ trong chiến tranh. Lúc này bà mẹ Êm vẫn chưa biết Nghĩa - đứa con trai cuối cùng đã hi sinh (chồng mẹ và 5 đứa con của mẹ lần lượt hi sinh). Sau này khi biết bé Sinh chính là con trai của kẻ đã ra tay bắn chết Nghĩa thì lòng bà mẹ tan nát. Mặc dù dằn vặt, đau khổ nhưng khi đơn vị ngỏ ý mang Sinh đi theo thì mẹ Êm vẫn một mực giữ bé Sinh lại nuôi nấng. Phu La sau khi trình diện đã được đưa vào trại cải tạo, sau đó trốn trại, bị bắt lại. Đầu óc Phu La sau những ngày cải tạo dần sáng ra. Hắn được điều động về vùng Chân Mây san lấp hố bom. Tại đây đã diễn ra cuộc “gặp mặt lịch sử” giữa mẹ Êm và cha con Phu La.

Một cái kết “có hậu” theo truyền thống tâm lý dân tộc “đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại”. Mẹ Êm là một nhân cách lớn, một giá trị văn hóa của người Việt Nam thời đại cách mạng và chiến tranh. Với mẹ, hy sinh lớn cũng là một hạnh phúc. Mẹ đích thực là một nhịp cầu hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Có thể nói, Miền cháy là tác phẩm văn chương đầu tiên sau 1975 viết về cuộc đấu tranh tinh thần khó khăn ngay trong nội bộ những người chiến thắng để giải quyết mối quan hệ phức tạp và tinh tế với những người vốn là thù địch trong bối cảnh chồng chất khó khăn của thời hậu chiến. Tác phẩm gửi một thông điệp nghệ thuật đến bạn đọc: Trong tình hình mới chúng ta vẫn cần một tinh thần ý chí cách mạng triệt để, nhưng cần hơn là phẩm chất nhân văn của người cách mạng/ người chiến thắng. Đó chính là nguồn lực tinh thần quan trọng trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục đời sống trong hòa bình, xây dựng lòng hữu ái giữa người với người.

Một lần trả lời phỏng vấn, được hỏi “Nhà văn Việt Nam nào, theo ông, cuối thế kỷ XX có thể chuyển giao sang thế kỷ XXI cho bạn đọc các thế hệ không biết gì về chiến tranh?”, tôi đã không ngần ngại trả lời “Nguyễn Minh Châu!”. Vì sao? Vì tinh thần rộng lượng, hòa hiếu, khoan dung, vị tha của người Việt Nam thể hiện sâu sắc trong những tác phẩm của nhà văn tài năng.

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Hình tượng người đi đường và bài học triết lý về đường đời… (Đọc Tẩu lộ của Hồ Chí Minh, Ngữ văn 8, tập hai, Nxb Giáo dục) (10/6/2019)
Dạy học tích hợp Ngữ văn lấy văn bản văn học làm ngữ liệu đồng thời gắn liền với các vấn đề về giáo dục đạo đức học sinh (6/6/2019)
Tư tưởng đoàn kết - Một trong những nội dung cốt lõi của Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (6/6/2019)
Phát triển du lịch biển bền vững tại thị xã Cửa Lò Nghệ An (3/6/2019)
Biến đổi văn hóa trong gia đình cư dân vùng biển Cửa Lò qua chuyển đổi nghề nghiệp (3/6/2019)
Trường Tiểu học Pháp - Việt tại Vinh nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng theo học (3/6/2019)
Sứ mệnh hòa giải, hòa hợp dân tộc của văn chương nhìn từ phương diện văn hóa - nhân văn (Qua sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu) (21/5/2019)
Chính quyền cấp xã - Nhìn từ góc độ chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy (21/5/2019)
Tổ chức chính quyền làng xã dưới triều nhà Nguyễn (21/5/2019)
Toàn cầu hóa và các xu hướng phát triển của pháp luật (7/5/2019)
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Giá trị lịch sử và hiện thực (24/4/2019)
Tản mạn về làng phong Quy Nhơn (10/4/2019)
Địa danh A Lô và chiến thuật tấn công hạ đồn Đại Mang năm 1285 - Mở màn cho chiến dịch giải phóng Thăng Long của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn (27/3/2019)
"Dưới bóng hoàng lan" từ góc nhìn thi pháp học (22/3/2019)
Lễ hội đầu năm nhìn từ góc độ giới (22/3/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 541 | Tất cả: 1,744,915
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp