NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Toàn cầu hóa và các xu hướng phát triển của pháp luật
Tin đăng ngày: 7/5/2019 - Xem: 27
 

GS.TS. Võ Khánh Vinh, 

Nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

 (06/05/2019 )Tóm tắt: Bài viết bước đầu đặt ra và tìm hiểu dưới dạng khái quát nhất những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu các xu hướng phát triển của pháp luật. Những vấn đề được trình bày trong bài viết là một nội dung nghiên cứu cơ bản, cần được tiếp tục nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn trong thời gian tới.

Abstract: This paper preliminarily raises and studies theoretical issues and research methodology for tendencies of law development. The issues presented in this paper are basic ones which are in need of being further and more comprehensively studied in the time to come.

 1. Đặt vấn đề*

Trong quá trình nhận thức về vật chất pháp luật, thông thường, những nhà nghiên cứu pháp luật quan tâm nhất đến khái niệm, bản chất, hình thức thể hiện và nội dung của pháp luật, nói cách khác, tập trung nhất đến những vấn đề của vật chất pháp luật ở trạng thái tĩnh. Những nguyên nhân cơ bản, sâu xa, các quy luật và các xu hướng phát triển của pháp luật – những vấn đề của vật chất pháp luật ở trạng thái động ít được quan tâm nghiên cứu.

Tuy vậy, chỉ trong sự thống nhất của cái tĩnh và cái động, của việc sử dụng rộng rãi cách tiếp cận tĩnh và cách tiếp cận động đối với quá trình nhận thức về những hiện tượng pháp luật, cũng như mọi hiện tượng khác, mới có thể thu nhận được quan niệm sâu sắc và toàn diện.

Ở đây, nhận thức về pháp luật ở trạng thái tĩnh cho phép xem xét pháp luật từ các quan điểm thực tế và pháp lý hình thức chỉ ở các giai đoạn được ghi nhận về mặt lịch sử nhất định của sự phát triển xã hội và Nhà nước, bao gồm cả giai đoạn hiện tại; đem đến khả năng xác định thực trạng của nó, nói một cách hình tượng là chỉ “ở giai đoạn hiện tại”. Đồng thời, việc nghiên cứu pháp luật ở trạng thái động cho phép xác định thực trạng của nó không chỉ ở những bộ phận “đã được ghi nhận”, được tách ra một cách cụ thể trong sự phát triển lịch sử của xã hội và của Nhà nước, mà còn xem xét sự tiến triển của nó từ quá khứ đến hiện tại và từ hiện tại đến tương lai. Trong mối quan hệ này, cần phải dựa vào quan điểm còn giữ nguyên giá trị cho đến hiện nay của V.I.Lênin rằng, “nếu như xem xét bất cứ một hiện tượng xã hội nào trong quá trình phát triển của nó cần phải hiểu rằng trong nó có các tàn tích của quá khứ, các cơ sở của hiện tại và các mầm mống của tương lai”[1].

Cách tiếp cận động đối với nhận thức về pháp luật cho phép nhìn thấy được, và khi cần thiết, điều chỉnh được các định hướng vận động cơ bản của nó, đồng thời xác định được các triển vọng phát triển và hoàn thiện tiếp theo của pháp luật.

Các xu hướng phát triển của pháp luật - các xu hướng nảy sinh ở các trình độ phát triển khác nhau của pháp luật quốc gia, khu vực và toàn cầu - đóng vai trò quan trọng và các xu hướng đó là các bộ chỉ báo đặc thù cho phép xác định được thực trạng này hay thực trạng khác của pháp luật cũng như các định hướng phát triển cơ bản của nó.

Các xu hướng phát triển của pháp luật, với tư cách là các hiện tượng và các khái niệm phản ánh chúng không xuất hiện từ chính mình và không tồn tại cho chính mình. Các xu hướng đó xuất hiện và phát triển trên nền tảng và trong phạm vi của hệ thống pháp luật này hay hệ thống pháp luật khác, dưới sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, thường xuyên tác động đến pháp luật. Trong các yếu tố đó có toàn cầu hóa và khu vực hóa. Ở nước ta, các yếu tố đó đã và đang tồn tại, được phản ánh một cách đặc thù cả trong chính pháp luật lẫn trong các xu hướng phát triển của nó.

Ở đây, có thể kể đến các xu hướng như:

  • Các xu hướng cục bộ xuất hiện và biểu hiện trong phạm vi các hệ thống pháp luật quốc gia;
  • Các xu hướng vùng thể hiện trong phạm vi của các vùng; và
  • Các xu hướng toàn cầu xuất hiện và vận động ở phạm vi toàn cầu.

Cũng có cả các xu hướng như: Các xu hướng đang được hình thành và các xu hướng đã được hình thành; các xu hướng mà tính chất xác định của chúng đang được xuất hiện và các xu hướng đã được ổn định; các xu hướng tạo thành hệ thống hỗ trợ cho việc củng cố sự thống nhất của hệ thống pháp luật và các xu hướng phá vỡ hệ thống; các xu hướng phát triển của hệ thống pháp luật này hay của hệ thống pháp luật khác nói chung và các xu hướng phát triển của các bộ phận cấu thành cụ thể của hệ thống pháp luật…

  1. Những vấn đề phương pháp luận của việc nghiên cứu pháp luật và các xu hướng phát triển trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa

Có một vấn đề vừa mang tính chất phương pháp luận vừa mang tính chất lý luận đó là: Toàn cầu hóa và khu vực hóa có tác động đến pháp luật và các xu hướng phát triển của nó hay không? Nếu có thì chúng tác động đến pháp luật theo những hướng nào? Việc hiểu biết về vấn đề đó có giá trị ra sao?

2.1. Trong những thập niên gần đây, những vấn đề của toàn cầu hóa và khu vực hóa được nghiên cứu ngày càng nhiều trong sách báo nước ta và nước ngoài. Tuy vậy, vẫn còn một nhóm rộng lớn các vấn đề có ý nghĩa lý luận và phương pháp luận chưa được giải quyết. Đó là những vấn đề liên quan đến chính toàn cầu hóa: Khái niệm, nội dung, mức độ hiện thực hoặc tính ảo của nó…, cũng như tính chất tác động của nó đến các hiện tượng và quá trình khác nhau gắn liền chặt chẽ với nó, chẳng hạn như pháp luật cũng như quá trình phát triển và hoàn thiện của pháp luật.

Tôi cho rằng, có các mối liên hệ đang tồn tại một cách khách quan giữa toàn cầu hóa và quá trình phát triển, hoàn thiện pháp luật ở giai đoạn hiện nay của xã hội, bởi vậy, chúng ta không thể nhận thức được một cách sâu sắc và toàn diện về bản chất và các xu hướng phát triển của pháp luật nếu thiếu hiểu biết về toàn cầu hóa.

Nhìn từ phương diện cách tiếp cận phương pháp luận, toàn cầu hóa có các đặc điểm mang tính phương pháp luận.

Thứ nhất, toàn cầu hóa mang tính hệ thống (sự bao quát “đã được điều chỉnh” mang tính chất tương đối các lĩnh vực đời sống xã hội khác nhau và các tầng lớp xã hội), tính năng động (toàn cầu hóa không phải là trạng thái tĩnh, mà là trạng thái động, là quá trình) và tính tập hợp (chủ nghĩa toàn cầu hóa không phải là quá trình duy nhất, một phương diện diễn ra trong một lĩnh vực riêng biệt nào đó, mà là tổng thể nhiều quá trình diễn ra trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và nhà nước).

Thứ hai, toàn cầu hóa là quá trình khách quan, quá trình tự nhiên. Toàn cầu hóa là hiện thực khách quan, là quá trình tự nhiên được quyết định bởi tính kín đáo của hành tinh, bởi sự hình thành nên nền kinh tế thế giới, bởi các giao tiếp toàn cầu và bởi các yếu tố khác.

Thứ ba, toàn cầu hóa có tính chất bao quát rộng lớn và đang phát triển không đồng đều. Trong giai đoạn hiện nay, quá trình đó ở chừng mực quyết định bao quát các lĩnh vực tài chính và kinh tế, ở mức độ ít hơn bao quát lĩnh vực chính trị, còn ở mức độ ít nhất bao quát đời sống tinh thần của xã hội, truyền thống và văn hóa dân tộc.

Thứ tưtoàn cầu hóa có sự phát triển vượt trước về phương diện chức năng so với phương diện thể chế. Khi nói về toàn cầu hóa, trước hết là nói về quá trình, về xu hướng liên kết, chứ không phải về toàn cầu hóa như một hiện tượng tĩnh nào đó được thể hiện dưới dạng “một tiêu chuẩn văn minh nhất định”. Nhưng không được xem thường phương diện thể chế, bởi vì toàn cầu hóa tác động đến Nhà nước và pháp luật không chỉ bởi phương diện chức năng của mình mà còn bởi phương diện thể chế.

Thứ năm, toàn cầu hóa không phải là hiện tượng không có giới hạn, mà có các giới hạn nhất định. Đó là các giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, pháp luật, xét xử…

Thứ sáu, toàn cầu hóa có cơ sở tư tưởng ở các giai đoạn phát triển ban đầu là chủ nghĩa tự do, còn ở các giai đoạn tiếp theo làchủ nghĩa tự do mới[2].

Như vậy, có thể hiểu toàn cầu hóa là một quá trình khách quan, tự nhiên, là sự liên kết mang tính hệ thống, nhiều phương diện và trình độ khác nhau của các chế định, tư tưởng, nguyên tắc, mối liên hệ pháp luật - nhà nước, kinh tế - tài chính và chính trị - xã hội, các giá trị chính trị - đạo đức, vật chất và các giá trị khác, các quan hệ xã hội đa dạng đang tồn tại trên thế giới.

Toàn cầu hóa tác động trên thực tế đến Nhà nước và pháp luật ở mọi lúc và ở tất cả các giai đoạn phát triển của nền văn minh nhân loại.

2.2. Tùy thuộc vào trình độ phát triển và sự lôi kéo cơ cấu kinh tế, tài chính và pháp luật - nhà nước của các nước khác nhau vào đời sống kinh tế - tài chính và chính trị - xã hội, mà mức độ tác động của toàn cầu hóa và khu vực hóa đến Nhà nước này hay Nhà nước khác và hệ thống pháp luật này hay hệ thống pháp luật khác là không giống nhau.

Kinh nghiệm chính trị - xã hội của một số nước cho thấy, các lĩnh vực tác động chủ yếu của toàn cầu hóa đối với Nhà nước và pháp luật là khác nhau. Do vậy, cần có cách nhìn nhận mang tính chất phân hóa khi nhận thức về sự tác động của toàn cầu hóa đến Nhà nước và pháp luật ở các nước khác nhau.

Qua nghiên cứu, dưới dạng khái quát nhất có thể nêu ra một số hướng tác động cơ bản của toàn cầu hóa và khu vực hóa đến vật chất pháp luật - nhà nước. Đó là:

Thứ nhất, toàn cầu hóa tác động đến mặt bản chất, nội dung của Nhà nước và pháp luật, đến các giá trị, lợi ích được thể hiện trong hoạt động của Nhà nước và pháp luật.

Thứ hai, cùng với các yếu tố (các mặt) bản chất và nội dung, toàn cầu hóa tác động đến tất cả các mặt và bộ phận cấu thành của các chế định pháp luật - nhà nước: Các hình thức nhà nước và pháp luật, các phương thức hoạt động của Nhà nước, các nguyên tắc thực hiện pháp luật, lĩnh vực sử dụng quyền lực công, chủ quyền của quốc gia và pháp luật, các chức năng của Nhà nước và pháp luật. Đặc biệt, các chức năng truyền thống của Nhà nước và pháp luật cũng được thay đổi, xuất hiện các chức năng mới của Nhà nước và pháp luật dưới sự tác động của toàn cầu hóa.

Thứ ba, toàn cầu hóa tác động đến những thay đổi diễn ra trong các nguồn của pháp luật; trong cơ chế thực hiện pháp luật; trong các ngành luật tư khác nhau (đặc biệt là pháp luật dân sự, pháp luật hải quan, pháp luật thương mại…) và các ngành pháp luật công (pháp luật hiến pháp, pháp luật hành chính, pháp luật hình sự…); trong hệ thống các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý…

Cùng với toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng tác động tương tự đến vật chất pháp luật – nhà nước. Sự khác nhau chỉ là ở chỗ, nếu như toàn cầu hóa tác động ở toàn bộ, hoặc ít hơn, ở phần lớn lãnh thổ của trái đất, thì khu vực hóa tác động đến cơ chế pháp lý – nhà nước chỉ trong phạm vi các vùng địa kinh tế nhất định bao quát một số quốc gia và vùng lãnh thổ.

2.3. Sự tác động của toàn cầu hóa và khu vực hóa đến tính chất của mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật.

Là hiện tượng bao quát rộng lớn, toàn cầu hóa, cũng như khu vực hóa, không chỉ tác động tích cực đến vật chất pháp luật – nhà nước nói chung, mà còn đến tính chất của các mối quan hệ bên trong của Nhà nước và pháp luật.

Dưới sự tác động của toàn cầu hóa và khu vực hóa, đang hình thành một cách song hành hai lý luận về Nhà nước và pháp luật.

Lý luận thứ nhất đề cập đến nhà nước - pháp luật hiện nay và nhà nước - pháp luật trong tương lai trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa. Các định đề của nó là những luận điểm về “sự xói mòn” của chủ quyền quốc gia dưới sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, “việc lấn át nhà nước và pháp luật quốc gia ra ngoại biên của chính trị và kinh tế quốc tế, và sự thay đổi từng bước Nhà nước và pháp luật quốc gia bằng các thể chế toàn cầu”[3].

Lý luận thứ hai đề cập đến chính bản chất của nhà nước quốc gia (dân tộc) cũng như bản chất của xã hội và của pháp luật có mối tương quan với nhà nước đó trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa[4]. Đó là lý luận đã được lý tưởng hóa: “Nhà nước pháp quyền”, “xã hội dân sự”, “pháp luật lý tưởng”.

Toàn cầu hóa và khu vực hóa tác động đến tính chất của mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật theo các hướng sau đây:

- Làm xuất hiện và phát triển xu hướng ngày càng lớn lên và mạnh mẽ đến tính chất của mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật quốc gia;

- Tác động đến sự hình thành nguyên tắc về tính tối thượng của pháp luật trong mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật, đề cao pháp luật quốc tế, pháp luật khu vực so với pháp luật quốc gia, ví dụ, đề cao pháp luật châu Âu so với pháp luật của các quốc gia thành viên;

- Hình thành và thực hiện nguyên tắc hiệu lực trực tiếp của pháp luật “siêu quốc gia” (pháp luật liên minh), đề cao pháp luật liên minh.

2.4. Quyền con người trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa: Khía cạnh phương pháp luận.

Khi nghiên cứu pháp luật và các xu hướng phát triển của nó trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa, điều có ý nghĩa lớn về lý luận và thực tiễn là cần phải quan tâm đến khía cạnh phương pháp luận cũng như các khía cạnh khác của quyền con người trong các điều kiện đó.

Ở phương diện lý luận, điều đó cho phép nhận thức sâu sắc hơn và toàn diện hơn các đặc điểm của pháp luật khách quan – pháp luật vật chất và pháp luật tố tụng, làm sáng tỏ một cách rõ ràng hơn các xu hướng phát triển của pháp luật trong giai đoạn đó. Ở phương diện thực tiễn, điều đó tạo ra khả năng cho việc soạn thảo các kiến nghị không chỉ để hoàn thiện pháp luật mà còn tăng cường các bảo đảm quyền con người.

Quyền con người được xem xét ở những mặt, phương diện khác nhau. Nhưng để nhận thức sâu sắc hơn pháp luật và quyền con người ở giai đoạn hiện nay – “thời đại của chủ nghĩa toàn cầu” – và để xác định chính xác hơn các xu hướng và viễn cảnh phát triển quyền con người trong tương lai, cần tập trung nghiên cứu nhiều hơn không chỉ đến khía cạnh pháp lý – hình thức mà còn cả các khía cạnh nội dung, lịch sử cụ thể, bản chất của chúng.

Cho dù quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa trong giai đoạn hiện nay bao quát phần lớn lĩnh vực kinh tế, tài chính, giao tiếp và một số lĩnh vực khác của đời sống, nhưng chúng cũng có tác động rất lớn đến lĩnh vực xã hội, đến quyền con người và các xu hướng phát triển của chúng.

Một trong những đặc điểm được phản ánh trong sự tiến triển của quyền con người và lý luận về quyền con người thể hiện ở chỗ, nếu như ở những giai đoạn phát triển ban đầu của xã hội, sự tiến triển lý luận về quyền con người bị hạn chế phần lớn bởi các phạm vi quốc gia (bên trong quốc gia), và tương ứng quyền con người và lý luận về quyền con người được hình thành phần lớn dưới sự tác động của các yếu tố bên trong quốc gia, thì hiện nay không chỉ các yếu tố quốc gia, mà còn các yếu tố siêu quốc gia, toàn cầu tác động rất lớn đến quyền con người và các xu hướng phát triển của chúng.

Trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa, khi mà các quyền của cá nhân gắn liền tất yếu, không thể tách rời với các quyền của toàn thể xã hội loài người, của cộng đồng hành tinh chúng ta thì quyền con người có được ý nghĩa, giá trị của vấn đề toàn cầu độc lập trong những vấn đề toàn cầu.

Điều có ý nghĩa lý luận và phương pháp luận thể hiện ở chỗ, toàn cầu hóa và khu vực hóa các quá trình toàn cầu đã đem đến nhiều điều mới trong các cách tiếp cận đến quyền con người mà không làm thay đổi các nguyên tắc xuất phát điểm chung của quyền con người, coi quyền con người là giá trị cao nhất của xã hội loài người. Nhưng có điều không thể tranh cãi rằng, khi làm thay đổi đáng kể các điều kiện cuộc sống của cộng đồng quốc gia, khu vực và thế giới, toàn cầu hóa và khu vực hóa đặt ra sự cần thiết cấp bách và nhu cầu chỉnh sửa một số cách tiếp cận đến quyền con người, cũng như tư duy lại nhiều luận điểm mang tính nền tảng đã được hình thành từ lâu và vững chắc. Ở đây, tôi muốn nói đến các môn học như: Xã hội học, lịch sử thế giới, nhân chủng học, các khoa học chính trị, quan hệ quốc tế, các khoa học kinh tế… Đặc biệt, điều đó đề cập đến khoa học pháp lý nói chung, các ngành khoa học pháp lý cụ thể, cũng như khoa học về quyền con người và quyền công dân.

Trong từng giai đoạn phát triển của xã hội, cùng với việc xuất hiện thế hệ quyền con người mới làm nảy sinh sự cần thiết khách quan và nhu cầu tự nhiên của việc nghiên cứu, nhận thức sâu sắc, và tiếp đến tư duy lại quyền con người. Thế hệ quyền con người thứ nhất là các quyền dân sự, chính trị. Thế hệ quyền con người thứ hai là các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Thế hệ quyền con người thứ ba có tên gọi là các quyền tập thể, ở phương diện lý luận chung là kết quả của việc nhận thức về giai đoạn phát triển mới của quyền con người gắn liền với quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa, và tương ứng của sự tư duy lại các giai đoạn tiến triển trước đó của quyền con người. Có thể gọi thế hệ quyền con người thứ ba là “các quyền của nhân dân”, “các quyền của sự đoàn kết”. Ở phương diện lý luận – phương pháp luận, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là môi trường toàn cầu hóa và khu vực hóa tác động như thế nào đến quá trình phát triển của quyền con người và đến sự tiến triển lý luận về quyền con người. Quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa, theo bản chất và tính chất của mình không thể không tác động tương ứng đến quyền con người, và do đó, đến các xu hướng phát triển lý luận về quyền con người, cũng như các quan điểm và tư tưởng là cơ sở của lý luận đó. Vấn đề về mức độ và tính chất tác động của quá trình toàn cầu hóa đến quyền con người cũng cần phải được nghiên cứu.

  1. Các xu hướng phát triển của pháp luật – một hiện tượng và một phạm trù triết học

3.1. Khái niệm và ý nghĩa xã hội của các xu hướng phát triển của pháp luật

Trong quá trình nhận thức về vai trò và ý nghĩa của pháp luật trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa, điều có ý nghĩa quan trọng là phải quan tâm đến các xu hướng phát triển của nó ở các cấp độ nhận thức của đời sống pháp luật – nhà nước. Đó chính là ở cấp độ toàn cầu, khu vực, quốc gia.

Xu hướng phát triển của pháp luật là gì? Có nội dung như thế nào? Để trả lời các câu hỏi đó, điều có ý nghĩa lý luận và phương pháp luận quan trọng là cần phải xuất phát từ cách tiếp cận tổng thể và sự phân tích các mặt và các biểu hiện khác nhau của chúng.

Trong quá trình làm sáng tỏ và nghiên cứu các xu hướng phát triển của pháp luật toàn cầu, pháp luật khu vực và pháp luật quốc gia, trước hết cần quan tâm đến các dấu hiệu và đặc điểm hình thành nên quan niệm về khái niệm và nội dung của chúng. Đó là:

- Các xu hướng phát triển của pháp luật – là những định hướng phát triển của pháp luật đang được định hình hoặc đã được định hình, chứng minh về sự tiến triển của vật chất pháp luật nói chung (ở mức độ toàn cầu hoặc ở mức độ khác) hoặc của các bộ phận cấu thành cụ thể của vật chất pháp luật (các ngành luật, các chế định pháp luật…). Có các xu hướng phát triển chung của pháp luật và các xu hướng phát triển cụ thể của pháp luật.

- Nghiên cứu các xu hướng phát triển của pháp luật, đặc biệt ở mức độ toàn cầu và khu vực, trước hết là về pháp luật thực chứng “cổ điển” – tức là về các xu hướng phát triển và hoàn thiện pháp luật thực chứng, chứ không phải về “các biến thể” khác của pháp luật, bao gồm pháp luật tự nhiên.

- Các xu hướng phát triển của pháp luật trong quan hệ chính trị – xã hội và pháp lý không phải là các hiện tượng trừu tượng mà là các xu hướng tư tưởng, pháp lý – hình thức rõ ràng dưới dạng các tư tưởng và khát vọng phản ánh mặt phát triển này hay mặt phát triển khác của pháp luật quốc gia hoặc của mức độ pháp luật khác, cũng như dưới dạng các quan điểm và lợi ích xã hội nhất định, các quan điểm và lợi ích khác được phản ánh trong các xu hướng đó. Có các xu hướng bảo thủ và các xu hướng tiến bộ, các xu hướng ly tâm và các xu hướng hướng tâm.

- Các xu hướng phát triển của pháp luật có giới hạn thời gian và không gian nhất định. Nói cách khác, cùng với pháp luật sinh ra chúng, các xu hướng phát triển của pháp luật tồn tại và vận động trong phạm vi thời gian và không gian nhất định.

- Các xu hướng phát triển của pháp luật là các hiện tượng biến động, tạo thành một bộ phận hợp thành không thể thiếu trong quá trình phát triển của chúng, phần lớn là của hoàn thiện các xu hướng đó.

- Các xu hướng phát triển của pháp luật được nghiên cứu từ quan điểm của các phạm trù “cái chỉnh thể” và “cái bộ phận”, “khả năng” và “hiện thực”.

- Các xu hướng phát triển của pháp luật mang tính chất tĩnh và tính chất động, được phản ánh và vật chất hóa không chỉ trong các quan niệm, học thuyết, cấu trúc lý luận mà cả trong thực tiễn pháp lý. Chẳng hạn, trong các hình thức và biểu hiện như: Hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động áp dụng pháp luật, hoạt động bảo vệ pháp luật của các cơ quan nhà nước…

- Các xu hướng phát triển của pháp luật cho phép suy xét không chỉ về trạng thái của các hệ thống pháp luật quốc gia, khu vực và toàn cầu ở thời điểm hiện đại mà còn xác định viễn cảnh phát triển của chúng, cũng như các mục đích chiến lược, cuối cùng của chúng trong tương lai. Việc làm sáng tỏ các xu hướng phát triển của pháp luật tạo điều kiện cho việc hình thành chính sách pháp luật tương ứng và các phương tiện thực hiện chính sách đó.

Ngoài ra, dựa trên cơ sở làm sáng tỏ và phân tích các xu hướng phát triển của pháp luật có thể nhận định về tính chất và các nhịp độ phát triển của pháp luật: Theo giai đoạn, liên tục, bên trong loại tiến triển hoặc nhảy vọt, giữa các loại…

Như vậy, dưới dạng khái quát nhất có thể hiểu, các xu hướng phát triển của pháp luật là các định hướng chuyển động hoặc phát triển của pháp luật.

3.2. Tiêu chuẩn phân loại và các loại xu hướng phát triển cơ bản của pháp luật

Với tư cách là hiện tượng phức tạp, nhiều mức độ, nhiều khía cạnh, pháp luật là sự thống nhất của rất nhiều các mặt và các xu hướng khác nhau mà việc nhận thức chúng tất yếu đòi hỏi phải có cách tiếp cận sâu sắc đến từng mặt và xu hướng tiếp cận. Do vậy, việc phân loại các xu hướng phát triển của pháp luật có thể được tiến hành theo các tiêu chuẩn khách quan khác nhau. Phạm vi các tiêu chuẩn phân loại các xu hướng phát triển của pháp luật bao quát chính các mặt và các khía cạnh khác nhau của vật chất pháp luật, cũng như các trạng thái khác nhau của các xu hướng phát triển của pháp luật.

Dựa vào trình độ của sự hình thành và phát triển các xu hướng, mức độ độc lập tương đối và tính độc lập của chúng, không phụ thuộc vào cấp độ quốc gia, khu vực, toàn cầu, các xu hướng phát triển của pháp luật được phân thành: Các xu hướng đã được hình thành, trở nên ổn định, vận động trong một khoảng thời gian dài và các xu hướng vừa mới xuất hiện, mới được sinh ra biểu hiện ra bên ngoài trong thời gian ngắn; các xu hướng ngắn hạn và các xu hướng dài hạn.

Dựa vào lĩnh vực xuất hiện và biểu hiện, cũng như các thông số lãnh thổ, các xu hướng phát triển của pháp luật được phân thành: Các xu hướng phát triển của pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, xã hội, văn hóa và trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội; các xu hướng phát triển của pháp luật ở phạm vi quốc gia, khu vực, toàn cầu.

Dựa vào tiêu chuẩn thế giới quan (tư tưởng), các xu hướng phát triển của pháp luật được phân thành: Các xu hướng phát triển của pháp luật thực chứng và của pháp luật thực chứng mới; các xu hướng phát triển của pháp luật theo chủ nghĩa tự do và của pháp luật theo chủ nghĩa tự do mới; các xu hướng phát triển của pháp luật tiến bộ và của pháp luật thoái hóa, bảo thủ; các xu hướng phát triển của pháp luật có tương lai và của pháp luật không có tương lai.

Dựa vào tiêu chuẩn phản ánh trình độ và tính chất của mối liên hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau của pháp luật thực chứng và pháp luật tự nhiên, các xu hướng phát triển của pháp luật được phân thành: Các xu hướng ở trình độ thấp, các xu hướng ở trình độ trung bình, các xu hướng ở trình độ cao của mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau của pháp luật thực chứng và pháp luật tự nhiên.

Dựa vào các tiêu chuẩn phán ánh tính chất mâu thuẫn của mối liên hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau của pháp luật quốc tế, khu vực, quốc gia, các xu hướng phát triển của pháp luật được phân thành: Các xu hướng quốc tế hóa, các xu hướng khu vực hóa, các xu hướng quốc gia hóa.

Dựa vào tiêu chuẩn khác, các xu hướng phát triển của pháp luật có thể được phân thành: Các xu hướng phát triển bản chất giai cấp – xã hội của pháp luật; các xu hướng phát triển hình thức và nội dung của pháp luật; các xu hướng tăng cường sự hội tụ trong các quan hệ giữa các họ pháp luật được xuất hiện do có sự ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa và các yếu tố bên ngoài khác, và các xu hướng tự phát triển của pháp luật, của sự tiến triển bên trong của nó.

3.3. Tính quyết định của các xu hướng phát triển của pháp luật bởi các yếu tố khách quan và chủ quan[5]

Các xu hướng phát triển của pháp luật, cũng như chính pháp luật, xuất hiện và tiến triển không phải tự thân, trên nền trống, mà ở trong mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau với môi trường vật chất, xã hội và môi trường khác, cũng như chịu sự tác động của xã hội nói chung và các thành phần cụ thể của nó nói riêng.

Theo bản chất và tính chất của mình, các yếu tố tác động đến quá trình hình thành và tiến triển các xu hướng phát triển của pháp luật, về mặt lý luận và thực tiễn được phân thành các nhóm và tiểu nhóm khác nhau. Nhóm các yếu tố mang tính vật chất và nhóm các yếu tố mang tính chất khác; nhóm các yếu tố khách quan và nhóm các yếu tố chủ quan. Sự hình thành các xu hướng phát triển của pháp luật là một quá trình nhiều yếu tố đòi hỏi phải được nghiên cứu cụ thể.

Trong hệ thống các yếu tố tác động trực tiếp đến pháp luật - quá trình hình thành pháp luật, áp dụng pháp luật và bảo vệ pháp luật, và tác động gián tiếp đến quá trình xuất hiện và phát triển các xu hướng của nó, trước hết phải nói đến các yếu tố vật chất. Đó là các điều kiện khách quan, bên ngoài, bao gồm chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, các yếu tố xã hội rộng lớn, môi trường tự nhiên và các yếu tố khách quan khác. Cần lưu ý rằng, không được tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế trong việc nhận thức các yếu tố khách quan tác động đến sự hình thành và phát triển các xu hướng của pháp luật.

Cùng với các yếu tố khách quan, các yếu tố chủ quan tác động rất lớn đến pháp luật và các xu hướng phát triển của nó ở các mức độ khác nhau của quá trình hình thành pháp luật, xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật, Đó là các yếu tố: Trình độ nghề nghiệp của chủ thể hình thành pháp luật, xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật, trạng thái tâm lý, thế giới quan, định hướng chính trị và tư tưởng, trình độ văn hóa pháp luật và ý thức pháp luật, lợi ích… của chủ thể đó.

Khi nói về sự tác động của những yếu tố khách quan và chủ quan đến quá trình phát triển của pháp luật và sự hình thành các xu hướng của nó cần phải quan tâm đến các yếu tố bên trong được sinh ra bên trong hệ thống pháp luật và tác động đến quá trình đó. Các yếu tố bên trong đó không phải được sinh ra và hoạt động tự thân mà do có việc xuất hiện và giải quyết các mâu thuẫn bên trong hệ thống pháp luật. Các mâu thuẫn xuất hiện trong phạm vi của hệ thống pháp luật là động lực bên trong, cùng với các yếu tố bên ngoài, quyết định trực tiếp sự tự phát triển của pháp luật và các xu hướng phát triển của nó.

  1. Các xu hướng phát triển của pháp luật ở phạm vi toàn cầu

4.1. Tính đa dạng của các xu hướng phát triển của pháp luật trong điều kiện toàn cầu hóa

Các xu hướng phát triển của pháp luật trong điều kiện toàn cầu hóa là rất phong phú, đa dạng. Ở đây, tôi chưa phân tích nội dung của các xu hướng đó mà chỉ nêu ra các xu hướng để hình thành nên nhận thức khái quát ban đầu. Dựa vào việc phân loại các xu hướng phát triển cơ bản của pháp luật đã nói ở trên, có thể nêu ra các xu hướng phát triển của pháp luật ở phạm vi toàn cầu và khu vực như sau:

  • Xu hướng bách khoa hóa và thống nhất hóa pháp luật ở phạm vi toàn cầu và khu vực.
  • Xu hướng hình thành rộng lớn hơn và sử dụng tích cực hơn các nguyên tắc của pháp luật với tư cách là những tác nhân điều chỉnh các quan hệ xã hội.
  • Xu hướng tăng cường vai trò và ý nghĩa của pháp luật án lệ và thực tiễn xét xử.
  • Xu hướng mở rộng khu vực pháp lý liên quan đến quyền con người và quyền công dân.
  • Xu hướng làm sâu sắc hơn mối liên hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau của pháp luật quốc tế với pháp luật khu vực và pháp luật quốc gia.
  • Xu hướng biến đổi dần dần chủ nghĩa lập hiến quốc gia và chính bản thân Hiến pháp quốc gia thành chủ nghĩa lập hiến “quốc tế”, “khu vực” theo tính chất và quy mô của mình.

4.2. Xu hướng tăng cường mối liên hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau của pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật của các quốc gia có chủ quyền trong điều kiện toàn cầu hóa

Nghiên cứu thực tiễn phát triển của hiện thực pháp luật cho thấy, từ thời điểm ra đời của pháp luật quốc tế cho đến nay xu hướng về mối liên hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau của pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật của các quốc gia có chủ quyền ngày càng được mở rộng và tăng cường, đặc biệt từ khi quá trình toàn cầu hóa được diễn ra.

Có nhiều nguyên nhân – yếu tố quan trọng làm phát sinh xu hướng đó. Đó là các nguyên nhân khách quan – chủ quan, một mặt, từ ban đầu làm phát sinh và phát triển các quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa, mặt khác, chính các nguyên nhân đó đã trở thành hậu quả và nội dung vật chất của các quá trình. Trước hết, đó là dây chuyền rộng lớn các mối liên hệ đa dạng và các mối liên hệ khác giữa các quốc gia và các thiết chế siêu quốc gia tạo thành cơ sở của các quá trình khách quan – chủ quan và của hệ tư tưởng phản ánh các quá trình đó hướng đến tính phổ biến và tính tổng hợp ở phạm vi toàn cầu và khu vực.

Cùng với những nguyên nhân – yếu tố nói trên, cần phải nói đến các yếu tố nằm trong chính quá trình liên hệ và tác động lẫn nhau của các hệ thống pháp luật nói trên. Đó là các dấu hiệu và đặc điểm chung của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia được biểu hiện cùng với những dấu hiệu và đặc điểm đặc thù của chúng. Thể hiện ở những vấn đề sau:

  • Tính chất điều chỉnh của hệ thống pháp luật quốc tế và của các hệ thống pháp luật quốc gia.
  • Tính chất ý chí – nhà nước của các quy phạm của pháp luật quốc tế và của pháp luật quốc gia.
  • Sự hiện diện các đặc điểm chung và các đặc điểm đặc thù trong các khách thể và đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc tế và của pháp luật quốc gia.
  • Sự hiện diện các đặc điểm chung và các đặc điểm đặc thù liên quan đến các chủ thể của pháp luật quốc tế và của pháp luật quốc gia.
  • Sự hiện diện các đặc điểm chung và các đặc điểm đặc thù trong các nguồn của pháp luật quốc tế và của pháp luật quốc gia.

4.3. Tính chất của các mối quan hệ lẫn nhau giữa pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật của các quốc gia có chủ quyền

Khi nghiên cứu tính chất của các mối quan hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau của pháp luật quốc tế và các hệ thống pháp luật quốc gia, do tính quan trọng và tính tổng hợp của vấn đề, cần phải quan tâm đến các mối liên hệ trực tiếp và ngược lại của nó với các hệ thống pháp luật quốc gia.

Sự tác động của pháp luật quốc tế đến pháp luật quốc gia được thể hiện trong một số hướng. Đó là: Sự thể hiện của các nguyên tắc và các quy phạm chung của pháp luật quốc tế và công ước quốc tế trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác của nhiều quốc gia; sự chuyển hóa các quy phạm chứa đựng trong các điều ước cụ thể và pháp luật quốc tế vào các quy phạm của pháp luật quốc gia (nội luật hóa).

Đến lượt mình, pháp luật quốc gia cũng tác động ngược lại pháp luật quốc tế. Một số loại văn bản quy phạm và các nguyên tắc của pháp luật quốc gia tác động đến pháp luật quốc tế. Trước hết, đó là các nguyên tắc của chính sách đối ngoại của quốc gia: Nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Quá trình tác động của pháp luật quốc gia đến pháp luật quốc tế được thực hiện bằng hai phương thức: Phương thức xác định trước bản chất của pháp luật quốc tế; phương thức tác động của pháp luật quốc gia đến quá trình xây dựng và thực hiện các quy phạm pháp luật quốc tế.

4.4. Sự thay đổi tính chất của pháp luật thực chứng theo mức độ phát triển của xã hội và sự hình thành nhà nước pháp quyền

Quá trình phát triển của xã hội và nhà nước pháp quyền, những thành tựu của quá trình phát triển đó trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa đã làm thay đổi tính chất của pháp luật thực chứng. Đây là xu hướng phát triển đặc thù về bản chất và nội dung của pháp luật thực chứng. Sự thay đổi trong tính chất của pháp luật thực chứng được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản sau:

  • Mở rộng và làm sâu sắc thêm các bộ phận cấu thành ý chí của pháp luật thực chứng: Pháp luật thực chứng không chỉ thể hiện ý chí của nhà nước, mà còn ý chí, lợi ích của toàn xã hội.
  • Mở rộng và làm sâu sắc hơn các nền tảng dân chủ, công bằng, nhân đạo, đạo đức, quyền con người của pháp luật thực chứng.
  • Thay đổi mối quan hệ giữa pháp luật thực chứng và nhà nước pháp quyền theo hướng, thay vì Nhà nước quyết định pháp luật thực chứng là sự quyết định lẫn nhau của pháp luật thực chứng và nhà nước pháp quyền.

4.5. Pháp luật thực chứng và pháp luật tự nhiên - Sự tiến triển mối liên hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau trong điều kiện toàn cầu hóa

Quá trình toàn cầu hóa, quá trình tự phát triển của pháp luật thực chứng và pháp luật tự nhiên đã thúc đẩy sự tiến triển mối liên hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau của chúng, hình thành nên xu hướng phát triển tăng cường mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau của pháp luật thực chứng và pháp luật tự nhiên. Xu hướng này thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

  • Sự khẳng định tính thứ nhất, tính đứng đầu, tính quy định của pháp luật tự nhiên so với pháp luật thực chứng.
  • Tăng cường vai trò điều chỉnh của pháp luật tự nhiên trong điều chỉnh pháp luật.
  • Sự kết hợp chặt chẽ, bổ sung cho nhau của pháp luật thực chứng và pháp luật tự nhiên, hình thành nên quan niệm pháp luật tự nhiên – thực chứng.
  • Sự xích lại gần của pháp luật thực chứng và pháp luật tự nhiên.

4.6. Các xu hướng phát triển cơ bản của quyền con người trong điều kiện toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa tác động rất lớn đến quyền con người và các xu hướng phát triển quyền con người. Toàn cầu hóa làm cho vấn đề quyền con người trở thành vấn đề toàn cầu, tạo ra các yếu tố tác động mang tính quy định đối với sự phát triển của quyền con người. Trong điều kiện toàn cầu hóa, đã và đang hình thành nên các xu hướng phát triển của quyền con người. Có thể nêu ra một số xu hướng phát triển cơ bản sau:

  • Xu hướng quốc tế hóa quyền con người.
  • Xu hướng khu vực hóa quyền con người.
  • Xu hướng “đẩy ra” dần dần quốc gia dân tộc khỏi lĩnh vực quyền con người và thay thế nó bằng các thiết chế siêu quốc gia.
  • Xu hướng tăng cường sự không phù hợp giữa lý luận và thực tiễn thực hiện quyền con người, giữa sự tuyên bố mang tính hình thức quyền con người trong điều kiện toàn cầu hóa và việc thực hiện chúng trên thực tế.
  • Xu hướng bách khoa hóa quyền con người.
  1. Các xu hướng phát triển của pháp luật ở phạm vi khu vực (hệ thống pháp luật liên minh châu Âu)

Nghiên cứu các xu hướng phát triển của pháp luật ở phạm vi khu vực không chỉ giúp cho việc nhận thức sâu sắc hơn hệ thống pháp luật đó ở trạng thái hiện nay, mà còn xác định được các định hướng phát triển có thể có trong tương lai. Châu Âu, có thể nói, là “phòng thí nghiệm lý tưởng” để nghiên cứu làm sáng tỏ pháp luật và các xu hướng phát triển của nó ở phương diện thực tiễn.

Nghiên cứu thực tiễn phát triển của pháp luật Liên minh châu Âu có thể nêu lên một số xu hướng phát triển cơ bản như sau:

  • Xu hướng Âu hóa các hệ thống pháp luật của các quốc gia – thành viên Liên minh châu Âu và của các nước thứ ba.
  • Xu hướng thể chế hóa Liên minh châu Âu và hệ thống pháp luật của Liên minh châu Âu.
  • Xu hướng tăng cường mối liên hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau của xu hướng Âu hóa và của xu hướng thể chế hóa Liên minh châu Âu và hệ thống pháp luật của Liên minh châu Âu.
  • Xu hướng hiến định hóa hệ thống pháp luật của Liên minh châu Âu.
  • Xu hướng tăng cường sự điều chỉnh pháp luật tổng hợp các quan hệ ở Liên minh châu Âu.
  • Xu hướng mở rộng mối liên hệ lẫn nhau và sự tác động lẫn nhau của pháp luật Liên minh châu Âu và pháp luật quốc tế.
  • Xu hướng phát triển pháp luật án lệ ở Liên minh châu Âu.
  1. Các xu hướng phát triển cơ bản của pháp luật ở phạm vi quốc gia (Việt Nam)

Nghiên cứu các xu hướng phát triển của pháp luật ở phạm vi quốc gia, cũng như ở phạm vi toàn cầu và khu vực, giúp cho việc nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn hệ thống pháp luật quốc gia dân tộc cả ở trạng thái hiện nay lẫn khả năng phát triển của nó trong tương lai. Pháp luật Việt Nam có thể nói là một trong những ví dụ điển hình.

Nghiên cứu quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, bước đầu có thể nêu lên một số xu hướng phát triển cơ bản của nó như:

  • Sự phát triển của xu hướng hiến định hóa ở Việt Nam. Điều này được thể hiện rất rõ trong lịch sử lập hiến ở Việt Nam, đặc biệt trong Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013.
  • Xu hướng đề cao vai trò và ý nghĩa của các văn bản cá biệt trong cơ chế điều chỉnh pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
  • Xu hướng tăng cường mối quan hệ lẫn nhau của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế.
  • Các xu hướng phát triển của pháp luật Việt Nam ở phạm vi ngành: Pháp điển hóa, phân hóa, nhân đạo hóa…

Nghiên cứu các xu hướng phát triển cơ bản của pháp luật Việt Nam là một chủ đề có nội dung rộng lớn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, và có thể coi là một trong những chủ đề nghiên cứu quan trọng của khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay.

Kết luận

Toàn cầu hóa và các xu hướng phát triển của pháp luật là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa phương pháp luận, lý luận và thực tiễn quan trọng. Đây là vấn đề nghiên cứu mang tính chuyên ngành, đa ngành, liên ngành và xuyên ngành luật học, đòi hỏi phải có cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành luật học: Luật học thực định, triết học pháp luật, xã hội học pháp luật, luật học so sánh…, cần được khoa học pháp lý Việt Nam đẩy mạnh nghiên cứu.

Nghiên cứu các xu hướng phát triển của pháp luật cho phép nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về vật chất pháp luật, đặc biệt nhận thức về nó ở trạng thái động, cung cấp những hiểu biết cần thiết cho việc nhận thức, xây dựng và thực hiện chính sách phát triển pháp luật nhằm hiện đại hóa hệ thống pháp luật ở phạm vi toàn cầu, khu vực, quốc gia.

Việt Nam đang thực hiện sự nghiệp đổi mới sâu sắc và toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới hệ thống pháp luật, do vậy, việc nghiên cứu các xu hướng phát triển của pháp luật lại càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, cung cấp những luận chứng có cơ sở khoa học để xây dựng và thực hiện chính sách đổi mới pháp luật Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Khi trở thành nguồn của pháp luật sẽ là căn cứ xử lý các tình huống pháp lý, góp phần giúp luật pháp kịp thời đáp ứng các đòi hỏi của cuộc sống và tạo ra những hướng phát triển mới cho các quan hệ xã hội.

Từ đó, pháp luật cần được hiểu theo nghĩa rộng và cách hiểu rộng ấy sẽ làm cho pháp luật có được nội dung phù hợp, sinh động, gắn với thực tiễn đang thay đổi nhanh chóng, không bị xơ cứng, thiếu khả năng điều chỉnh. Các đạo luật từ đó sẽ bớt đi tính tư biện, tính lý thuyết, bởi các nguồn pháp luật mới này được hình thành từ các hoàn cảnh khác nhau của đời sống xã hội và có đầy đủ khả năng cùng với pháp luật điều chỉnh đầy đủ hơn và kịp thời hơn các quan hệ xã hội phát sinh, bảo đảm và bảo vệ một cách kịp thời, đầy đủ các quyền con người, quyền công dân trong nền kinh tế thị trường và trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc sử dụng án lệ, các nguồn luật như tập quán, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật và lẽ công bằng càng đòi hỏi nhiều hơn việc bảo đảm sự độc lập của Tòa án và mặt khác, chính những tình huống cần đến việc mở rộng nguồn pháp luật đó cũng đòi hỏi năng lực độc lập của Tòa án.

Tư duy về chức năng bảo vệ công lý của Tòa án hướng tới một vấn đề khác là, Tòa án cần được quyền giải thích các quy phạm đang áp dụng theo hướng phù hợp với bối cảnh của các quan hệ pháp lý nảy sinh, tức là Tòa án cần được quyền “có ý kiến” đối với những quy phạm pháp luật thực định hiện hành trong những tình huống nhất định, nhằm tạo ra những bảo đảm pháp lý vững chắc, minh bạch, dễ có được sự đồng thuận giữa các bên liên quan, bảo đảm tối đa sự công bằng và công lý.

 Nguồn: TẠP CHÍ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT SỐ 7/2017

 

[1] Lênin V.I. Toàn tập, Tập 1, tr.181.

[2] Xem: Marchenko M.N, Các xu hướng phát triển của pháp luật trên thế giới hiện nay, Mátxcơva, 2015, tr.7-22.

[3] Tham khảo: Beetbam D, The Future of the Nation State. The Idea of Modern State. L,1984; Albrow M, The Global AgeState and Society Beyond Modernity, Stanford, 1997; Dunn J, Introduction: Crisis of the Nation State?, Political Studies, 1994, Vol.42. Robinson W, Theory of the Global State: Globality as an Unffinished Revolution, The American Political Science Review, 2001/ Dec.; Vawmen R.Sovereignty, Globalizational Relation of the Asia,  Pacific, 2001.

[4] Tham khảo: Albrow M, The Global Age, State and Society Beyond Modernity, Stanford, 2007.

[5] Xem: Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật: Những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, 2015, tr.225-267.

 

 

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Sứ mệnh hòa giải, hòa hợp dân tộc của văn chương nhìn từ phương diện văn hóa - nhân văn (Qua sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu) (21/5/2019)
Chính quyền cấp xã - Nhìn từ góc độ chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy (21/5/2019)
Tổ chức chính quyền làng xã dưới triều nhà Nguyễn (21/5/2019)
Toàn cầu hóa và các xu hướng phát triển của pháp luật (7/5/2019)
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Giá trị lịch sử và hiện thực (24/4/2019)
Tản mạn về làng phong Quy Nhơn (10/4/2019)
Địa danh A Lô và chiến thuật tấn công hạ đồn Đại Mang năm 1285 - Mở màn cho chiến dịch giải phóng Thăng Long của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn (27/3/2019)
"Dưới bóng hoàng lan" từ góc nhìn thi pháp học (22/3/2019)
Lễ hội đầu năm nhìn từ góc độ giới (22/3/2019)
Tăng cường công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể ở miền Tây Nghệ An (20/3/2019)
Từ truyền thuyết Chung Quỳ trừ tà, vu thuật "Tiến dạ hồ" đến âu đối đỏ và cành đào đón Tết (30/1/2019)
Hoan Nam sứ giả Nguyễn Đề xướng họa cùng sứ thần Triều Tiên (2/1/2019)
Tìm hiểu các nguyên lý bài trí thờ tự - tại di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An (4/12/2018)
Góp phần cải chính về năm mất của Nguyễn Công Trứ (4/12/2018)
Hoàn cảnh ra đời câu thơ của Trần Nhân Tông (14/11/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 789 | Tất cả: 1,713,376
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp