ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Tiền sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục khoa bảng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tin đăng ngày: 24/4/2019 - Xem: 132
 

                                                                                             Đào Tam Tỉnh

Nguyên GĐ Thư viện tỉnh Nghệ An

I. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ

Trần Đình Phong (1843-1909), tên húy là Khang, hiệu Mã Sơn, tự Hương Thúc, cải Úy Khanh, người ở xã Yên Mã, nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra trong một gia đình yêu nước, hiếu học, là con trai thứ ba của cụ Trần Đình Kiều và bà Nguyễn Thị Bình. Thuở nhỏ còn có tên là Bằng, sớm thể hiện là cậu bé thông minh và là người có ý chí nghị lực. Ông hai lần thi đậu Tú tài (Tú Kép), đậu Cử nhân năm 1878, đậu Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mão - Tự Đức 32 (1879). Làm quan: Hàn lâm sơ thụ phụ trách Biên tu lịch lý ở Kinh đô, Tri phủ Kiến An, kiêm lý cả huyện Bình Giang (Hải Dương). Năm 1885, mẹ mất, ông xin về chịu tang, rồi mở trường dạy học. Năm 1891, được gọi bổ chức Tri phủ Thọ Xuân, rồi Đốc học Quảng Ngãi, Đốc học Quảng Nam, thăng Tế tửu Quốc tử giám, kiêm Biên tu Sử quán. Ông cáo quan về nhà, khi mất được tặng Lễ bộ Thị lang.

Theo tài liệu chữ Hán về các nhân vật nổi tiếng của xã Thanh Khê: 社志集之三人物 (Xã chí tập chi tam nhân vật) do 馬山陳尉卿編輯 (Mã Sơn Trần Úy Khanh biên tập), thì phần ghi về Trần Đình Phong nguyên văn như sau:

陳廷楓年庚癸卯安馬村人初字香叔癸未年奉諱改字蔚卿其先安馬肇建三姓之一也有從兵受職者先考姓好守家產稍祫常曰我家世未有中場子知守是所願也背產何受焉男四楓第三翼宗英皇帝嗣德二十一年戊辰恩科中秀才是科英皇帝四旬大慶二十三年庚午科再中秀才二十九年丙子科中舉人解額第十六名寔科乂安解額二十二名越安上陳文券解元三十二年己卯恩科會試中格第五名殿試欽奉

Phiên âm:

Trần Đình Phong niên canh Quý Mão Yên Mã thôn nhân sơ tự Hương Thúc, Quý Vị niên phụng húy, cải tự Úy Khanh. Kỳ tiên Yên Mã triệu kiến tam tính chi nhất dã. Hữu tòng binh thụ chức giả. Tiên khảo tính hảo thủ gia sản sảo, thường viết: Ngã gia thế vị hữu trúng trường tử tri thủ thị sở nguyện dã. Bối sản hà thụ yên. Nam tứ Phong đệ tam Dực Anh Tông Hoàng đế Tự Đức nhị thập nhất niên, Mậu Thìn ân khoa trúng Tú tài. (Thật khoa Anh Hoàng đế tứ tuần đại khánh), nhị thập tam niên Canh Ngọ khoa tái trúng Tú tài. Nhị thập cửu niên Bính Tí khoa trúng Cử nhân,(giải ngạch đệ thập lục danh, thật khoa Nghệ An giải ngạch nhị thập nhị danh, Việt Yên Thượng Trần Văn Khoán Giải nguyên). Tam thập nhị niên Kỷ Mão ân khoa Hội thí trúng cách đệ ngũ danh, Điện thí khâm phụng.

Tạm dịch nghĩa:

Trần Đình Phong sinh năm Quý Mão (1843), người làng Yên Mã, lúc đầu tên tự là Hương Thúc. Năm Quý Vị do phạm húy, nên cải tự là Úy Khanh. Khởi đầu xây dựng làng Yên Mã có ba họ, trong đó họ Trần là một. Họ có người đi lính được nhận chức. Ông cha trong họ có người giỏi (thông minh), nhà có chút cơ nghiệp, thường nói: Nhà ta chưa có người con nào giỏi để thi đậu khoa bảng theo như nguyện vọng của ta! Của cải ta có ham gì! Con trai Phong thứ ba năm Dực Tông Anh Hoàng đế, niên hiệu Tự Đức 21 (1868), ân khoa Mậu Thìn thi đậu Tú tài. (Gặp dịp mừng thọ sinh nhật Dực Tông Anh Hoàng đế 40 tuổi), cũng là chính khoa Canh Ngọ năm thứ 23 lại đậu Tú tài. Khoa Bính Tý năm thứ 29 (1876) đỗ Cử nhân (Quy định của thi Hương lấy đậu 16 người chính khoa; trường Nghệ An quy định lấy đậu 22 người, Trần Văn Khoán ở Việt Yên Thượng (Đức Thọ) đậu Giải nguyên). Ân khoa Kỷ Mão - năm thứ 32 (1879) đậu thi Hội (Thi Hội đạt diểm Đồng Tiến sĩ xuất thân), vâng lệnh vào thi Điện.

Qua tài liệu Nhân vật xã chí do Trần Úy Khanh (tức Trần Đình Phong) biên tập thì ông sinh ra trong một gia đình khá giả, ông cha có mong muốn con cháu có người biết chữ, thi cử đậu đạt theo đường Nho học khoa bảng. Ông đã lập chí phấn đấu trong học tập để đền đáp công ơn tiên tổ, làm đúng theo nguyện vọng của cha ông. Ông hai lần thi đậu Tú tài (Tú Kép), rồi đậu Cử nhân và Tiến sĩ, tạo bước đường công danh hoạn lộ, làm quan tới chức Tế tửu Quốc Tử Giám (tức phụ trách trường học cao nhất, duy nhất của đất nước thời phong kiến, triều Nguyễn).

Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông không muốn ra làm quan mà chỉ muốn theo sở nguyện làm thầy dạy học ở quê nhà. Năm Ất Dậu (1885), mẹ mất, ông xin về quê cư tang và quyết định mở lớp học tại nhà để dạy cho con cháu và con em ở địa phương. Nhờ tiếng tăm và đức độ của ông, nhiều gia đình vọng tộc ở xa cũng gửi con em đến học. Ông say sưa giảng dạy, không những động viên, giúp đỡ, mà còn không nhận ở học trò bất cứ khoản đóng góp tiền bạc nào. Thời gian này ông còn để công viết mấy cuốn sách như: Trần tộc thế phả, Quỳ Trạch đăng khoa lục, Thanh Khê xã chí.

Thời gian này, vua Hàm Nghi cũng vừa phát chiếu Cần vương kêu gọi nhân dân cả nước ra sức chống giặc Pháp. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn, người ở xã Lương Điền, nay là xã Diễn Thái, Diễn Châu cùng một số sĩ phu trong vùng hưởng ứng chiếu Cần vương, tập hợp nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa. Trần Đình Phong sẵn có tinh thần yêu nước, lại có quan hệ thông gia với cụ Nghè Ôn, nên đã hết lòng vận động nhân dân ủng hộ nghĩa quân. Ông còn đóng góp nhiều ý kiến  cho nghĩa quân trong việc vạch ra các chiến lược, sách lược tổ chức xây dựng lực lượng và kỹ thuật tác chiến, nên được các nghĩa quân coi như một quân sư.

Về thi cử đỗ đạt khoa bảng và đi làm quan của Trần Đình Phong được nhiều sách của Nhà nước và nhiều tài liệu địa chí, địa phương ghi chép lại, như Quốc triều Hương khoa lục, Quốc triều khoa bảng lục (đều của Cao Xuân Dục); Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919)/ Ngô Đức Thọ CB; Khoa bảng Nghệ An (1075-1919)/Đào Tam Tỉnh; Từ điển nhân vật xứ Nghệ/Ninh Viết Giao CB., v.v... Nhưng quan trọng nhất vẫn là các thông tin trong bộ Mộc bản triều Nguyễn và được in thành sách Khoa bảng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình qua tài liệu Mộc bản triều Nguyễn/Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước - Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV (Tr. 200, 205) là bản gốc duy nhất hiện nay có khắc về ông như sau:

Khoa thi Hội năm Kỷ Mão - niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879).

1. Trần Đình Phong, Sắc ban đệ Tam giáp (Đồng Tiến sĩ xuất thân). Sinh năm: Đinh Mùi (1847). Quê quán: Yên Mã, Yên Thành, Nghệ An. Đỗ Cử nhân khoa thi năm Bính Tý (1876). Đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân năm 32 tuổi. Làm quan, chức Tri phủ Thọ Xuân, thăng chức Đốc học Quảng Ngãi; cáo quan (Hồ sơ số H62.4/3. Quốc triều đăng khoa lục, quyển 03, mặt khắc 8).

Khoa thi Hương năm Bính Tý - niên hiệu Tự Đức 29 (1876). Trường thi Hương Nghệ An có 22 người đỗ. Tham tri Nguyễn Trâm làm Chủ khảo; Án sát Nguyễn Tái làm Phó Chủ khảo.

Trần Đình Phong (cha con cùng đăng khoa). Quê quán: Yên Mã, Yên Thành. Đỗ Tam giáp khoa thi năm Kỷ Mão (1879). Làm quan, chức Tri phủ Thọ Xuân; thăng chức Đốc học Quảng Ngãi. Ông là cha của Trần Đình Đoàn (Hồ sơ số H62/6, Quốc triều Hương khoa lục).

II. TIẾN SĨ TRẦN ĐÌNH PHONG VÀ NỀN GIÁO DỤC KHOA BẢNG NƯỚC NHÀ CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX

  1. Việc tiếp thu, phát huy truyền thống yêu nước và khoa bảng ở gia đình:

Tiến sĩ Trần Đình Phong sinh ra trong một gia đình, dòng họ rất trọng đạo nghĩa và tôn sùng Nho học. Theo gia phả, ông là con trai thứ 3 của cụ Trần Đình Kiều và bà kế thất Nguyễn Thị Bình. Cụ Kiều khi nhỏ được học chữ Nho, khi trưởng thành từng tham gia nghĩa quân địa phương, từng làm chức Cai Xã thời vua Minh Mạng. Khi có loạn lạc xảy ra, dân xã phiêu tán, cụ đứng ra tuyển dụng hơn 100 bạch đinh và binh đinh tổ chức khai khẩn đất hoang được hơn 697 mẫu đất, ổn định đời sống cho bản xã. Bà Bình, hiệu Từ thiện, người làng Đức Lân, xã Giai Lạc, tính cần cù, hiền lương, hay đọc sách, vừa lo mọi công việc sắp xếp làm ăn, nội trợ trong nhà, vừa lo việc dạy dỗ con cái nên người.

Trần Đình Phong được thừa hưởng phong cách sống và đức hạnh của cha mẹ nên thành đạt nhất trong gia đình. Việc này ta cũng được thấy qua tài liệu được trích ở trên do ông biên tập viết về gia thế và bản thân một cách rất khiêm tốn. Ông là người hào hoa, thích cuộc sống khoáng đạt, thường chán cảnh quan trường đương thời, nên khi có cớ là xin cáo quan về nhà mở trường dạy học. Tư tưởng đó ta còn đọc được qua đôi câu đối treo tại nhà ông:  

                     書劍家聲宜且大

                      豪華英易繼希隆

            Thư kiếm gia thanh nghi thả đại;

            Hào hoa anh dị kế hy long.

            Tạm dịch:

            Tiếng nhà thư kiếm ưa khoáng đạt;

            Đức tốt hào hoa nối dồi dào.

Con cháu của ông về sau đều thành danh qua thi cử và có tinh thần yêu nước, thương nòi, có nhiều công lao trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước. Ông có hai bà vợ. Bà đầu là Phan Thị Tiêu có hai người con đều đỗ Tú tài, rồi ốm nặng mất ở tuổi ngoài 30. Bà kế là Hồ Thị Uẩn sinh được 13 người con: 9 trai, 4 gái, tất cả đều được ăn học chu đáo và đều đỗ Tú tài và Cử nhân. Con trai của ông là Trần Đình Đoàn (có tài liệu ghi tên là Doãn, tự Nguyên Đỉnh) theo gương cha tu chí học hành và đã thi đỗ Cử nhân. Sách Quốc triều Hương khoa lục/Cao Xuân Dục có ghi về ông:

Khoa Canh tý, Thành Thái thứ 12 (1900). Trường Thừa Thiên (lấy đậu 42 người). 12. Trần Đình Đoàn: Ấm sinh (Cha con cùng thi đậu). Người xã Yên Mã, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Thi nhờ trường này. Con Tiến sĩ Trần Đình Phong. Đậu năm 35 tuổi.

Con trai Trần Đình Diệm, đậu Cử nhân, được Hội Duy tân đề cử là Đại biểu Dân biểu xứ Trung kỳ; Cử nhân Trần Đình Phiên là giáo viên trường Dục Thanh, tiêu biểu của Duy Tân, từng làm thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Chủ sự; Giáo sư Trần Đình Chín dạy ban văn ở trường Cole Vinh; ông Trần Đình Quán là nhiếp ảnh gia đầu tiên ở thành phố Vinh, nhà ông là trụ sở liên lạc của những người yêu nước miền Trung trước Cách mạng tháng 8; Trần Đình Duy và Đình Quảng đều đậu Tú tài. Ông Trần Đình Nam là bác sĩ y khoa, tốt nghiệp ở trường Y sĩ Đông Dương Hà Nội, là bạn học của Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh). Năm 1945 ông đã nhiều lần góp ý để Đổng lý văn phòng Phạm Khắc Hòe của vua Bảo Đại làm được nhiều việc có ích cho cách mạng và chính ông là người đã soạn bài Chiếu thoái vị cho vua Bảo Đại đọc tại lễ hạ cờ, trao ấn kiếm cho đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong chính phủ của Trần Trọng Kim.

Tiến sĩ Trần Đình Phong đã lấy tôn chỉ Tiên học lễ, hậu học văn để dạy cho con cháu theo tư tưởng Nho gia, nhất là coi trọng đạo nghĩa cương thường trong dòng tộc, cũng như trong xã hội. Do đó, con cháu của ông dầu làm việc ở cương vị nào, ở xa hay gần đều luôn có hiếu với ông bà, cha mẹ, đều hướng về cội nguồn tổ tiên, dòng họ, đều làm nhiều việc thiện đối với đồng bào, xã hội. Bà Uẩn vợ kế của ông được tiếng là người phúc hậu, hiền lành được mọi người kính nể, gọi bằng U (mẹ) và bà đã giành nhiều thời gian chăm sóc con cháu không phân biệt cháu nội hay cháu ngoại. Ông bà đã trở thành tấm gương sáng về đạo đức và lòng nhân nghĩa ở đời, nên nhân dân hàng huyện đã mừng ông bà đôi câu đối:

             Gia thanh nẫm tiệp trâm anh cựu.

              Quốc sủng trường thừa vũ lộ đa.

  Tạm dịch nghĩa:

                Tiếng nhà từ trước trâm anh rạng;

                Lộc nước mãi bền mưa móc nhuần.

  1. Công lao của Tiến sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục khoa bảng nước nhà:

Tiến sĩ Trần Đình Phong được các Sĩ phu và Nho sinh đương thời tôn vinh là Danh sĩ, nhà Giáo dục, nên tục gọi là Đốc học Mã Sơn. Ông đã nối tiếp theo tiên tổ từng hiến đất xây dựng Văn chỉ của làng, xã, từng tổ chức các hoạt động cúng lễ tôn vinh đạo Nho, từng mở các buổi sinh hoạt bình văn tại Văn chỉ xã cũng như ở Văn thánh huyện để bồi dưỡng cho Nho sinh những kiến thức thiết thực trong thi cử, để đào tạo nhân tài cho khoa bảng. Để lưu giữ cho hậu thế về truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học và khoa bảng, ông đã ghi chép lại rất rõ về Văn chỉ của làng ở trong Thanh Khê xã chí như sau (theo bản dịch ở Yên Thành):

Văn chỉ làng Yên Mã: Ở xứ Đồng Cửa trên cồn đất thường gọi là Cồn Trường học, vì đời nhà Lê có ông thầy Đồ là Bùi Tuấn Trạc làm nhà dạy học ở đó. Văn chỉ hướng Tân Ất, hình con Rồng, có đai, có bút, có Văn  Tinh. Đằng trước theo phương Hợi bao quanh đến nhà, có thể phát Huấn đạo, Giải nguyên… Văn chỉ khi đầu ở xứ Cửa Hàng, lại dời đến vườn Hồng chợ An, vườn Giếng, động Am. Tự Đức 10 - Đinh tỵ mới dời đến đây. Trước sau dời đến 7 lượt.

Tiến sĩ Trần Đình Phong có ghi đôi câu đối ở Văn chỉ:

Mã Sơn có có Văn Tinh củng;

Khê Thủy tằng tằng hóa lý lưu.

Tiến sĩ Trần Đình Phong đã đóng góp rất nhiều công sức cho sự nghiệp giáo dục nước nhà, góp phần đào tạo được các nhà khoa bảng tài năng và hết lòng phụng sự cho đất nước. Khi làm quan ở các địa phương, hay ở triều đình, ông đều tỏ rõ quan điểm, tư tưởng về giáo dục, đào tạo nhân tài là quốc sách. Do đó, triều đình đặc biệt thấy được năng lực của ông trong sự nghiệp này mà thường cử ông đảm trách các chức quan về/liên quan đến giáo dục như Giám khảo thi Hương, thi Hội, Đốc học, Thị giảng… mà lớn nhất là Tế tửu Quốc Tử giám. 

Triều vua Đồng Khánh, năm 1888 đã ra chỉ dụ triệu ông đi làm Giám khảo thi Hương ở Hà Nam nhưng ông từ chối, vì không muốn hợp tác với vị vua do thực dân Pháp dựng lên. Khi được cử làm Tri phủ Thọ Xuân, Thanh Hóa, Trần Đình Phong vừa lo việc ổn định đời sống nhân dân, phát triển sản xuất, chống tham nhũng... vừa phải chăm lo cho công việc giáo dục các thế hệ trẻ Nho sinh để đào tạo ra các nhân tài cho đất nước. Ông cũng đã tự tổ chức lớp kèm cặp một số môn sinh ở ngay trong công đường. Điều này được thể hiện trên tấm bia đá do môn sinh khắc tặng thầy, có câu: Trong thôn xóm đâu đâu cũng vang lên tiếng học bài của trẻ nhỏ.

Năm Giáp Ngọ (1894), ông được thăng làm Thị giảng học sĩ Quang lộc tự thiếu khanh, rồi được bổ làm Đốc học Quảng Ngãi, Quảng Nam. Trong thời gian được cử làm Đốc học hai tỉnh này (1898-1905), ông đã có hai đóng góp quan trọng trong lĩnh vực văn học và giáo dục cho cả khu vực Trung bộ và đất nước. Công việc hợp với sở nguyện của mình, nên ông phấn khởi, mẫn cán chăm lo ngay việc chỉnh đốn lại trường ốc, sắp đặt lại đội ngũ Giáo thụ, Huấn đạo và yêu cầu họ thực thi tốt công việc của mình. Ông cũng tự mở một lớp và trực tiếp kèm cặp, bồi dưỡng kiến thức cho những sinh đồ trước khi đi thi. Ông còn tổ chức những buổi giảng văn, luận bình thơ, phú… đã thu hút nhiều Nho sinh, nhà khoa bảng ở cả kinh đô Huế và các tỉnh lân cận đến tham dự. Trường Đốc của tỉnh Quảng Nam đặt tại làng Thanh Chiêm, tổng An Nhơn, huyện Diên Phước, nay thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, vốn dưới thời chúa Nguyễn là nơi đóng dinh trấn.

Ông đã góp công đào tạo cho đất nước một thế hệ nho sĩ, trí thức có năng lực, phẩm hạnh và yêu nước. Học trò của ông nhiều người rất thành đạt, có người làm đến chức Thượng thư hoặc giữ các chức vụ tương đương; có người là các yếu nhân, sĩ phu lãnh đạo cả một phong trào yêu nước, chống thực dân xâm lược và triều đình bù nhìn, tay sai, như Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), Phó bàng Phan Châu Trinh (1872-1936), Tiến sĩ Trần Quý Cáp (1870-1908), Tiến sĩ Ngô Đức Kế (1878-1929), Phó bảng Nguyễn Đình Hiến (1872-1947)... Tiêu biểu trong số học trò của ông có 5 người đều đỗ đại khoa trong một khoa thi Hội năm Mậu Tuất (1898) và được vua Thành Thái tặng một tấm biển có khắc 4 chữ: 五鳳齊飛 - đọc là Ngũ Phụng tề phi(5 con chim Phượng cùng cất cánh bay một hàng), gồm các Tiến sĩ: Phạm Liệu (1872-1936), Phan Quang (1873-1939), Phạm Tuấn (1852-1917) và hai Phó bảng là Dương Hiền Tiến (1866-1907), Ngô Chuân (1873-1899). Khi viết về sự kiện này qua nhân vật Dương Hiền Tiến trong sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam/ Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế (HCM, Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006.- Tr. 128) có ghi:

Ông là học sinh trường Đốc Quảng cùng thọ giáo với Đốc học Mã Sơn và đồng môn, đồng khoa với các Tiến sĩ Phạm Liệu, Phan Quang… Trong khoa thi năm Mậu Tuất (1898), tỉnh Quảng Nam có một vinh dự chung là trong kỳ Hội thí tỉnh Quảng Nam có đến 5 vị trúng cách, gồm: Tiến sĩ Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn và hai Phó bảng là Ngô Chuân và ông.

Vua Thành Thái hân hoan tặng các sĩ tử trúng cách một tấm biển "Ngũ Phụng tề phi" (năm con Phụng cùng bay). Kể từ đó việc xưng tụng học trò Quảng Nam học giỏi vang vọng toàn quốc là một niềm khích lệ lớn đối với học sinh toàn quốc và Quảng Nam nói riêng.

Tổng đốc Quảng Nam Đào Tấn và Đốc học Trần Đình Phong cho là một vinh hạnh lớn cho Quảng Nam, bèn lấy tích xưa ban cho 5 tân khoa và cho thợ thêu 5 con chim Phụng trên một tấm thục, 3 con thế sải cánh (3 Tiến sĩ) và 2 con xếp cánh (2 Phó bảng) để treo tại dinh Tổng đốc trong lễ Vinh qui của 5 đại khoa.        

Từ một vùng đất xứ Quảng nổi tiếng có nhiều người học giỏi, lại càng thêm nức tiếng sau khi Tiến sĩ Trần Đình Phong đến làm Đốc học và trực tiếp bồi dưỡng cho các sĩ tử đi thi, đậu cao trong khoa bảng. Ông cũng đã truyền vào lớp sĩ phu, nho sinh ưu tú xứ Quảng tinh thần yêu nước và tư tưởng chống thực dân cùng triều đình bù nhìn thuộc Pháp mà tầng lớp sĩ phu, văn thân xứ Nghệ đã nối tiếp nổi lên rất mãnh liệt. Các sĩ phu xứ Quảng cũng đã nối tiếp tinh thần, tư tưởng đó trong công cuộc chống Pháp và Duy Tân đất nước, mà điển hình nhất là Phó bảng Phan Châu Trinh và Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng, v.v… Mối giao thoa giữa hai vùng văn hóa xứ Nghệ - xứ Quảng là nguồn cảm hứng để ông sáng tác ra bài Quảng Nam tỉnh phú ca ngợi cảnh đẹp non nước địa linh nhân kiệt và tinh hoa văn hóa, nhân vật nổi tiếng… Bài phú còn đề cao một vùng đất hiếu học và khoa bảng:

          … Trải xem sơn cao thủy thanh, thấy rõ hùng châu danh thắng. Mới biết địa linh nhân kiệt, nay sinh anh tuấn khác thường.

          Nam cung ứng tuyển, Nhạn Tháp đề danh

          Xuân thi khôi khoa, văn trinh thẳng bước

          Hoặc bà con một họ, Tiến sĩ, Phó bảng ghi tên

          Hoặc dòng dõi một nhà, khoa trước khoa sau đều đỗ

          Khoa trường đã thịnh, hoạn lộ càng hanh, phò vua lập được công to, trừ cọp chỉ dùng ngòi bút.

          Thanh liêm nổi tiếng, khí tiết nêu cao. Biết bao những bậc anh hào, còn lưu sử sách.

          Trong trấn được lòng dân chúng, tuấn tiết ở chốn biên cương, mô phạm xứng tài sứ trình nổi tiếng, cảm thấy bao nhiêu công  nghiệp, chẳng ngớt ngợi khen! Không những nhiều bậc văn  thần, cũng có lắm tay võ lược. Thi đỗ Nhị giáp, Tam giáp, quan đến trung quân, hữu quân.

          Khẳng khái anh hùng, biểu dương trí dũng. Tùy thời xuất hiện có đủ hạng người…

 Năm Canh Tý (1900) triều vua Thành Thái cử ông làm Phó Chủ khảo kỳ thi Hương tại Thanh Hoá. Ông đã đề nghị triều đình cử Cử nhân Nguyễn Sinh Sắc, người Kim Liên, Nam Đàn tham gia vào ban sơ khảo. Về sau, Nguyễn Sinh Sắc dự thi Hội (1901), bài thi dù đạt điểm nhưng bị người chấm loại. Rất may, lúc đó Trần Đình Phong giữ chức duyệt quyển thi thí sinh (cùng với chủ ý cho đọc lại bài một số thí sinh của Tổng tài Quốc sử quán - Chánh Chủ khảo Cao Xuân Dục) nên đã can thiệp kịp thời xét đặc cách cho vào thi Đình và ông Sắc đã đậu Phó bảng. Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc có thêm nhiều cơ hội tiếp xúc với các Sĩ phu có tư tưởng chống thực dân Pháp, để từ đó định hướng đi đúng đắn cho con trai Nguyễn Tất Thành trong hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân tộc thoát khỏi ách đô hộ, mở ra một kỷ nguyên mới làm rạng rỡ non sông đất nước - Thời đại Hồ Chí Minh.

Năm 1905, Tiến sĩ Trần Đình Phong được thăng làm Tế tửu Quốc Tử Giám (như Hiệu trưởng trường Đại học cao nhất và duy nhất của nước Đại Nam) và được phong Quang lộc tự khanh. Ông đã chấn chỉnh lại đội ngũ Tư nghiệp kết hợp với việc biên soạn lại giáo trình, cải cách lối học và từ năm 1906 đưa vào các môn học mới như Cách trí, Toán pháp... Các học trò hàng đầu của ông ở xứ Quảng đã thấm nhuần tư tưởng cách tân, đổi mới việc học, đã đi tiên phong trong phong trào Duy Tân, đã lập Hội và các trường học theo lối học mới thực tế, bỏ lối học cũ lỗi thời. Năm 1906, Phan Châu Trinh ở Nhật về, ra Hà Nội cùng các đồng chí lập trường Đông Kinh nghĩa thục theo chủ ý đã dự định, khi họ mật họp ở nhà Nguyễn Thành từ năm 1904 và trước nữa. Phạm vi hoạt động của phong trào Duy Tân rất rộng lan ra khắp cả nước, có mở lớp học Quốc ngữ, chữ Pháp và các hoạt động hội thương, hội nông,v.v… và có tổ chức khá quy củ khá rõ ở các nghĩa thục Quảng Nam (1902-1908)…Về lí thuyết, phương pháp, cơ cấu tổ chức đều do Phan Châu Trinh, Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng… phụ trách. Việc áp dụng và sắp đặt thực hành  được giao cho người địa phương ở mỗi xã, huyện quản lãnh. Kết quả công việc Duy Tân cũng rất khả quan, nhất là việc thực hành ở các trường ở Bình Thuận (Trường Dục Thanh, Phan Thiết) và Hà Nội (Đông Kinh nghĩa thục) đã khiến phong trào có một tiếng vang lớn, tạo một bước ngoặt quan trong trong lịch sử giáo dục nói riêng và sinh hoạt chính trị nói chung. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân và cũng là những yếu tố đích thực khiến chính phủ bảo hộ Pháp và Nam triều chuẩn bị cho việc hình thành "Học qui" và lập "Hội đồng cải lương Học vụ" năm 1906 và bộ "Học luật" ban hành ngày 21/12/1917. Ảnh hưởng của phong trào Duy Tân đã thúc bách chính quyền đương thời phải ban hành và áp dụng một nền giáo dục mới trên toàn cõi Bắc và Trung Kỳ.

Tiến sĩ Trần Đình Phong đã có công rất lớn trong xây dựng cơ sở cải cách giáo dục cho phù hợp với thời đại mới. Đến năm 1907, triều đình đã cho lập thêm một bộ mới là Bộ Học và giao cho An Xuân tử Cao Xuân Dục làm Thượng thư (Bộ trưởng), cũng nhằm để cho phù hợp với việc phải đào tạo một số lớn viên chức phục vụ cho nền hành chính công quyền trên toàn cõi Đông Dương.

Tháng giêng năm Kỷ Dậu (1909), ông bị bạo bệnh mất ở Huế. Các môn sinh ở các nơi đều đổ về Huế để cùng đưa quan tài ông về chôn tại quê nhà. Họ đã làm đôi câu đỏi điếu có nội dung ví thầy Đốc học Phong như Hán Dũ và Đổng Trọng Thư.

            祭酒翰公國史不寂寞矣

            博士董氏學者皆師尊之

  Tế tửu Hàn công quốc sử bất tịch mịch hĩ;

  Bác sĩ Đổng thị học giả giai sư tôn chi.

Nghĩa:

Tế tửu Quốc Tử Giám (Trần Đình Phong) được ví như Hàn Dũ không lặng lẽ khi được ghi vào quốc sử;

Học thức cao rộng tựa như ông Đổng Trọng Thư được các học giả tôn gọi bằng thấy.

Tạm dịch:

Tế tửu như Hàn Công, danh ghi vào quốc sử;

Tài cao tựa Đổng Trọng, tôn gọi bậc sư thầy.

Chú thêm:

- Hàn tức là Hàn Dũ, tự Thối Chi, người đời Đường, sinh năm 768 - mất 823. Lúc 21 tuổi đỗ Tiến sĩ, làm quan Giám sát Ngự sử, Sử quán tu soạn, Hình bộ Thị lang. Bị vua Đường giáng chức do bài xích đạo Phật. Ông còn là một thi sĩ có tài.

- Đổng tức Đổng Trọng Thư, người Quảng Xuyên, đời Hán. Tuổi trẻ chuyên học Xuân Thu. Đời vua Cảnh Đế làm Bác sĩ, buông rèm dạy học, ba năm không ngắm cảnh vườn. Học giả đương thời tôn là bậc thầy. Ông được coi là bậc đại Nho đời Hán.

Hàng năm, cứ đến ngày giỗ là học trò ở các nơi lại họp nhau tại mộ thầy ở Yên Mã Sơn để dâng hương tưởng nhớ công lao và đức độ của thầy. Họ đã cùng nhau đóng góp tiền của để sửa sang lại nhà thờ, xây mộ và dựng bia cho thầy. Tiến sĩ  Huỳnh Thúc Kháng đã được cử thay mặt cho các môn sinh biên soạn bài văn khắc lên bia đá ca ngợi công đức của thầy, trong đó có câu: Anh khí của đất Hồng Lam đã hun đúc nên Tiên sinh. Sử sách đời đời còn soi sáng.

Di thư của Tế tửu Quốc Tử Giám Trần Đình Phong gồm có: Trần tộc thế phả (Gia phả họ Trần Yên Mã); Quỳ Trạch đăng khoa lục (sách ghi chép về các nhà khoa bảng từ Sinh đồ - Tú tài, Hương cống - Cử nhân đến Tiến sĩ của tổng Quỳ Trạch); Thanh Khê xã chí (Ghi chép về địa chí, lịch sử, văn hóa… của xã Thanh Khê); Quảng Nam tỉnh phú (Bài phú ca ngợi non sông gấm vóc, lịch sử, văn hóa, nhân vật… của tỉnh Quảng Nam); Quốc triều chính biên toát yếu (Gồm 7 Q. Khái lược về lịch sử triều Nguyễn, từ thời các chúa Nguyễn. Soạn năm Mậu Thân - Duy Tân 2 (1908), do Cao Xuân Dục làm Tổng tài; Đặng Văn Thụy, Lê Hoàn hiệu đính).

          ------------------

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Cao Xuân Dục. Quốc triều Hương khoa lục.- H., Lao động - TT Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2011.
  2. Cao Xuân Dục. Quốc triều khoa bảng lục.-
  3. Khoa bảng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình qua tài liệu Mộc bản triều Nguyễn/Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước - Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV (Tr. 200, 205)
  4. Các nhà khoa bảng Việt Nam: 1075 - 1919/Ngô Đức Thọ CB.- H., Văn học, 1993.
  5. Ninh Viết Giao. Từ điển nhân vật xứ Nghệ.- NXB. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2008.
  6. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam/Đinh Xuân Lâm - Trương Hữu Quýnh CB. và...
  7. Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam/ (HCM, Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006.- Tr. 128).
  8. Nguyễn Q. Thắng. Từ điển tác gia Việt Nam.- H., Văn hóa - TT, 1999.
  9. Nguyễn Q. Thắng. Khoa cử và Giáo dục Việt Nam.- H., VH-TT, 1994.
  10. Câu đối xứ Nghệ. T.1/Cảnh Nguyên, Nguyễn Thanh Hải, Đào Tam Tỉnh.- Nghệ An, 2005.
  11. Đào Tam Tỉnh. Khoa bảng Nghệ An (1075-1919).- Nghệ An, 2005.
  12. Hồng Sâm. Cao Xuân Dục nhà văn hóa lớn thời cận đại.- Nghệ An, 2009.
  13. Nguyễn Phước Tương. Tiến sĩ Trần Đình Phong trên đất Quảng Nam.- Thông tin Khoa học Công nghệ Nghệ An. Số 5 - 2006.
  14. Đông Yên nhị huyện khoa phổ.- Bản chữ Hán, lưu họ Trần xã Công Thành, huyện Yên Thành.
  15. Hải Nguyễn. Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng.- H., Thông tin và Truyền thông, 2013.
  16. Trực tiếp điền dã tại nhà thờ Họ Trần và Trần Đình Phong xã Mã Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An.

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
Miền đất cổ Mường Chiêng Ngam (10/7/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (5/6/2019)
Miền Tây Nghệ An - Phong phú các loại hình văn hóa vật thể (24/5/2019)
Đào nương Trần Thị Khoan Cung phi của chúa Trịnh (21/5/2019)
Dòng họ 5 thế kỷ hát ca trù (21/5/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (24/4/2019)
Tiền sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục khoa bảng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (24/4/2019)
Họ Trần và Giáp ca Trần Đức Lương với nền ca trù xứ Nghệ (23/4/2019)
Con người nhân cách thầy đồ Nghệ dưới triều Nguyễn (2/4/2019)
Hồ Hữu Thới - Người nhạc sĩ của quê hương (29/3/2019)
Được nhà vua ban thưởng (28/3/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 496 | Tất cả: 1,787,555
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp