ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Con người nhân cách thầy đồ Nghệ dưới triều Nguyễn
Tin đăng ngày: 2/4/2019 - Xem: 204
 

Đậu Kỷ Luật

(Đại tá - Hội viên Hội CCB Nghệ An)  

 Rõ ràng Đạo Nho cũng là một thành phần của văn hóa Việt Nam, tất nhiên Nho giáo vào Việt Nam cũng như các tôn giáo khác đều bị khúc xạ bởi bản lĩnh Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam sàng lọc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Tuy trong học thuyết của Khổng Tử có những điều không đúng, song những điều hay trong đó thì ta nên học. Chỉ có những người cách mạng chân chính thì mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của đời trước để lại. Lênin dạy chúng ta như vậy”.

“Đạo Nho không phải là một tôn giáo. Đạo Nho là một hộc thuyết đạo đức, triết học có tính tôn giáo. Nói gọn hơn, nó là đạo đức tôn giáo”.

Giáo sư Trần Văn Giàu, nhà nghiên cứu, người thầy của nhiều thế hệ học giả, trong chuyến đi khảo sát và dự hội nghị khoa học về Nho giáo ở Yohama - Nhật Bản, thăm Nam Triều Tiên và Đài Loan đã phát biểu trả lời phỏng vấn tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam ngày 28 - 3- 1992, xin trích vài ý sau đây: “Đến thời kỳ thành một nước quân chủ thống nhất tập trung thì có nhu cầu Hán học với nội dung nho giáo. Nên thời Lý mới mở Văn Miếu, mở khoa thi, phát triển qua Trần, đến Lê thế kỷ thứ XV trở đi thì thành chính thống, trở thành Nhà nước Việt Nam thu nhận Nho giáo do nhu cầu của độc lập, quân chủ tập trung, chủ yếu Nho giáo có thành tích tức Việt Nam tiếp tục Nho giáo trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước. Nhưng cái học của nó theo lối từ chương, khoa bảng và nó học nhiều ở khía cạnh bảo thủ…”. “Tôi tán thành là Nho giao bổ sung cho cái hiểu của Chủ nghĩa Mác”.

“Trong Nho giáo nguyên thủy có nhiều yếu tố của sự bình đẳng và công bằng hơn là về sau, Mạnh Tử trở về trước có nhân tố dân chủ, lễ ký với đại đồng. Bài dịch Quốc tế ca đầu tiên Internationale là đại đồng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh Đạo Nho chủ yếu là đạo đức học. Đối với Nho giáo cái nhân đạo là cái số một. Theo Nho giáo, con người là quyết định nhất. Cái lớn nhất của Chủ nghĩa Mác là cứu vớt con người bị tha hóa bởi xã hội tư bản, cho nên chữ NHÂN của khổng Tử rất dễ gặp gỡ chủ nghĩa nhân đạo của Chủ nghĩa Mác”.

Ở Việt Nam, Nho giáo thế kỷ XVI, XVII, Nho học Việt Nam không hoàn toàn Tống Nho nữa. Càng về sau càng có tác động của Minh nho. Sự nghiệp thống nhất đất nước được đặt ra và thực hiện cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX là một quá trình. Quá trình này có thể chia làm 3 giai đoạn, gắn liền với ba vị hoàng đế: Quang Trung là người đặt nền móng, Gia Long là người tiến hành xây dựng những điều cần thiết và cuối cùng Minh Mệnh là người hoàn tất quá trình quốc gia đó. Một quá trình chính thức được đặt ra từ Lạng Sơn đến Cà Mau trên đất liền và tới tận các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Hoàng Sa, Trường Sa. Thời gian đã xuất hiện trong tiến trình tư tưởng thế kỷ XIX, đó là một khuynh hướng muốn thể nghiệm xây dựng một hệ tư tưởng riêng, mang dấu ấn Việt Nam, tuy vốn lấy Nho giáo làm nòng cốt, càng về sau lại càng không hoàn toàn dựa vào Tống nho nhưng không thể nào thoát ra khỏi cái khung “Tam cương ngũ thường” được, vẫn coi khinh thương nghiệp và khoa học kỹ thuật, một sự trì trệ bài thương ghê gớm, vì là Nho giáo. Tuy rằng từ một nơi sản sinh ra nó, sang Việt Nam có khúc xạ theo bản sắc văn hóa Việt Nam. Đây cũng là vấn đề con người và tình người của bất cứ thành phần nào.

Tính từ 1075 khoa thi đầu tiên đến khoa thi cuối cùng, trong 844 năm lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam đã tổ chức được 183 kỳ Đại khoa, lấy đỗ 2.848 tiến sĩ (Theo Đinh Văn Niêm “thi cử, học vấn, học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam”), trong đó triều Nguyễn tổ chức được 47 khoa thi lấy đỗ cử nhân và tiến sĩ 5.226 người, có 38 khoa thi lấy đỗ, 558 tiến sĩ, trong đó Nghệ An đỗ 91 người, đứng đầu cả nước (Theo Đào Tam Tỉnh “Khoa bảng Nghệ An”). Người mở đầu cho đại khoa bảng Nghệ Tĩnh là Bạch Liêu, quê làng Nguyên Xá, đỗ trạng Nguyên khoa Thiệu Long thứ 9 đời Trần Thánh Tông (1266).

Từ xưa , ba chữ “thầy đồ Nghệ” đã trở nên nêu danh khắp cả nước, đạo thông cả trời đất, học rộng có tiết tháo, có tình nghĩa và đào tạo được nhiều người thành danh, mà cái quan trọng nhất là họ không chỉ là “bậc kinh sư” (thầy dạy chữ) mà còn là bậc “nhân sư” (thầy dạy làm người). Phát huy truyền thống các nho sĩ yêu nước các thời trước, các nho sĩ yêu nước triều Nguyễn trên đất Nghệ An, người ra làm quan vẫn về quê hay những người ở quê đều dạy học, thầy thuốc, thầy tướng số, phong thủy… Họ gắn bó, gần gũi với làng quê, với nông dân, có thể họ là trí thức của nông dân. Hàng ngàn người tú tài, cử nhân, tiến sĩ ở Nghệ An đã góp phần tích cực vào nét đặc sắc của văn hóa xứ Nghệ trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Họ hầu hết là các nho sĩ bình dân. Họ là những người gương mẫu về đạo đức, từ đi lại, nói năng trong nhà cũng như ra xã hội, phải lo tròn bổn phận với xã hội. Những thầy đồ nghèo nhưng có đông học trò là niềm vinh dự, tự hào. Nho sĩ sống gần dân, họ là tấm gương cho nông dân, cho quần chúng xóm làng ngưỡng mộ. Vì họ dạy đạo đức, lễ giáo cho học trò nên họ hết mực mô phạm, không ai chê trách được. Họ thực hiện đúng “Tiên học lễ, hậu học văn” làm đầu. Học đạo làm người, phải nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Phải có hiếu, phải nhân nghĩa từ trong gia đình, họ hàng. Quả là họ xứng là bậc NHÂN, TRÍ, DŨNG. Họ là những cây tre, cây tùng mọc thẳng, không lay chuyển trước giông bão. Họ thực hành đạo đức nhân văn của Khổng Tử, làm theo lời dạy của Mạnh Tử “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Họ không sa ngã trước mua chuộc của tiền tài, địa vị làm mục đích. Họ trọng lòng nhân ái “thương người như thể thương thân” đó chính là bản chất truyền thống Việt Nam. Họ trung vua nhưng không ngu trung, nếu có ông vua hại dân và không thương dân họ sẵn sàng lật đổ ông vua ấy để thay vua khác tiến bộ hơn, hợp lòng dân hơn.

        Từ khi Pháp xâm lược nước ta 1858 cho đến 1884 thì thôn tính hoàn toàn Việt Nam. Các nhà nho yêu nước đau xót việc mất nước, họ không khoanh tay ngồi yên, đối với nước, với nhà là hai bổn phận của các nho sĩ nằm trong nhân cách Việt Nam.

Nói về nhân cách của con người xứ Nghệ thì thầy đồ Nghệ một vị trí, uy tín nhất định.

Văn hóa xứ Nghệ, một vùng văn hóa đặc biệt, có nhiều nét nổi trội do lịch sử, địa lý, hoàn cảnh hun đúc nên, có những nét trội đậm trong một số nhân cách Việt Nam nói chung. Tất nhiên họ cũng có những cái mạnh, cái yếu của tính cách Nghệ. Các học giả, các nhà văn hóa Việt Nam có uy tín đã có nhiều phát biểu về văn hóa, con người xứ Nghệ. Chúng tôi muốn dẫn ra đây lời Phó Toàn quyền Đông Dương là Charles Chatela trong đề tựa cuốn sách giá trị “AN TĨNH CỔ LỤC” (Le VieuX AN - TĨNH) của Le Breton, một nhà giáo nhiều năm dạy ở trường Quốc học Vinh, xuất bản tại Huế năm 1936.

Chatela viết: “Nghệ Tĩnh là một trong những miền đất của xứ Đông Dương có những bản sắc và đặc điểm rõ rệt hơn đâu hết. Trong cuộc đời làm quan của tôi, đã hai lần tôi phải hoạt động và phải vất vả nhiều trên mảnh đất này. Mặc dầu phải sống qua những giờ phút khó khăn, nhưng tôi cũng đã gắn bó với tỉnh miền Trung này, gắn bó với những con người có khí phách, yêu văn học, hăng hái trong lao động và dũng cảm, nhẫn nại trên một vùng đất cam go thử thách. Sở dĩ những người dân ở đây có bản lĩnh đặc biệt như vậy, chắc chắn vì họ đã được tôi luyện qua một quá khứ lâu dài và chỉ điều đó mới giải thích được cho người ta hiểu những đặc thù rất rõ rệt trong tính cách và trong tình cảm của họ…”.

Ông đồ Nghệ, Thầy đồ Nghệ ấy có cá tính, một nhân vật lịch sử trong Folklore mà như nhà văn hóa Phan Ngọc đã bộc bạch: “Tôi là đồ Nho xứ Nghệ, mà văn hóa Nghệ Tĩnh là tiêu biểu ở thái độ rạch ròi đến mức khô khan, cực đoan đến mức toán học. Biểu hiện bên ngoài văn hóa ấy là cái gàn. Xét về thao tác luận, gàn là làm theo cái mô hình trong óc, coi mô hình trong óc lớn hơn thực tế. Con người quê hương tôi không hòa mình vào cuộc đời như con người Nam bộ mà thích nghi với cuộc đời bằng cách vạch giữa cuộc đời với mình với giới hạn cho phép anh ta sống với cái thế giới mô hình mà anh ta ham thích…”.

Nói về chuyện học thì giai thoại “cá gỗ” cả nước ai cũng biết là người Nghệ, cần kiệm đến hết mực. Truyền thống hiếu học người Nghệ mà nay con cháu đã phát huy tốt thật là có “phúc”. Vượt qua khó khăn với nghị lực, ý chí phi thường:

“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa

Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà”.

Nhà văn Đặng Thai Mai có nhận xét khá tinh tế: “Khi mà chế độ khoa cử còn thịnh, cơ hồ mỗi làng đều nhận thấy trong núi của mình một cái bảng, một quản bút, một cái án thư….”.

Và ở Quỳnh Đôi, theo “Quỳnh Đôi hương biên ” từ khoa đầu tiên cho đến ngày bỏ thi chữ Hán thì Quỳnh Đôi đã có hơn 700 người đỗ từ tú tài trở lên:

“Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa

 Quỳnh Đôi, khoa bảng thủ khoa ba đời”.

Nghệ Tĩnh có nhiều dòng họ khoa bảng nổi tiếng như: họ Nguyễn Huy (Hà Tĩnh), họ Tôn (Thanh Chương), họ Cao Xuân, Đặng Văn (Diễn Châu), họ Nguyễn Cảnh (Đô Lương), họ Hồ (Quỳnh Lưu)…

Sau đây là kể một số nho sĩ tiêu biểu mà cả nước đều ngưỡng mộ. Và theo quan điểm của nhà nho là nông dân ta thực hiện: nghe, thấy, biết và thực hành trong thực tiễn có hiệu quả.

 

NGUYỄN ĐỨC ĐẠT

Như ta đã biết các học giả triều Tự Đức dù về quê dạy học vẫn chú trọng đặc biệt đến vấn đề thực tế luận của Tống nho. Thực tế luận là vấn đề thực tiễn, nhưng nặng về tu dưỡng nội tâm. Một trong những học giả kiệt xuất của hàng nho sĩ khoa bảng cao là Nguyễn Đức Đạt, người Nghệ An, tự là Khoát Như, môn đồ thường gọi ông là NAM SƠN PHU TỬ (1823 -1887). Muốn tìm hiểu đầy đủ Nguyễn Đức Đạt cần xem bộ sách “NAM SƠN TÙNG THOẠI” (2 quyển).

Năm 1885, kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn. Cùng với nhiều danh sĩ văn thân khác, Nguyễn Đức Đạt được giao nhiệm vụ Cần Vương, sau đó 2 năm ông mất. Nối nghiệp ông là “trưởng tràng” Tiến sĩ Đinh Văn Chất (người từng hoàn thành nhiệm vụ hiệu đính sách “Nam Sơn Tùng Thoại”) đã hy sinh trong một trận đánh. Nhiều môn đệ khác của ông như Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Huy, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế… đều trở thành những nhân vật lịch sử nổi tiếng về lòng yêu nước của kẻ sĩ, biểu hiện cao cả của CON NGƯỜI NHÂN CÁCH. Họ thực hành: rộng lượng với mọi người, hiểu biết để có thái độ đúng trong mọi hoàn cảnh; dũng cảm nhận trách nhiệm; giữ mình đúng lễ. Nói tóm lại là có tính người, có tình người, tất cả để thành CON NGƯỜI NHẤT.

Về vấn đề tính luận Nguyễn Đức Đạt cũng phân biệt tính với tình và giải thích sự thiện ác một cách biện chứng. Thiện là dương mà dương thì chủ đi lên; ác là âm mà âm là chủ đi xuống. Trèo lên núi, rơi xuống hầm, đâu là lên, đâu là xuống? Theo Nguyễn Đức Đạt, thiện là làm theo những khuynh hướng cao cả của nhân loại nên khó, ác là làm theo những khuynh hướng thấp hèn của động vật, cho nên dễ.

Ông quan niệm quân tử chỉ cần một chữ thành mà thôi. Thành với Cha thì dân nên hiếu, thành với mẹ thì dân nên trung, thành với dân thì thiên hạ chẳng ai không trí.

Trong hệ tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt thì chữ “tính”, chữ”tình”, chữ “tài”, chữ “thần”, chữ “thành” có liên quan mật thiết với nhau.

Ở thiên PHÁP CHẾ trong “Nam Sơn Tùng Thoại”, Nguyễn Đức Đạt đã phát triển tư tưởng chỉ đạo việc lập pháp và hành pháp.

Lập pháp và hành pháp đều phải lấy chuẩn là lợi ích và nguyện vọng của nhân dân và phải đều tùy thời mà thay đổi các điều khoản cụ thể.

Trong lĩnh vực, ông nêu một quan điểm tư tưởng đặc sắc rằng: trị dân nên khoan, đốc thúc quan lại nên nghiêm, khảo sát quan lại cần có kỳ hạn, kỳ hạn phải ngặt khiến cho quan lại không có thì giờ nhàn rỗi mà làm việc gian tà. Sai khiến dân chúng cũng phải có kỳ hạn, kỳ hạn này phải rộng, để dân chúng có thời gian làm ăn, cho nên có câu rằng “Trị nên khoan, đốc thúc quan lại nên nghiêm”.

Khi xem xét quan hệ giữa “Vua và pháp luật”, Nguyễn Đức Đạt nêu một tư tưởng độc đáo ở “Thiên quân đạo” của “Nam Sơn Tùng Thoại” mà không có trong Tứ thư và trong di sản tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX về trước ông viết: “Vua để chế ngự các quan, mà pháp luật là để ngăn cấm vua. Ôi bề tôi mà chuyên hoạch là vì vua bỏ mất quyền; vua mà độc đoán là pháp luật bị bỏ xó. Cho nên, bề tôi phục tùng vua là để giữ pháp. Vua lập ra pháp luật là để giữ mình cho ngay thẳng. Muốn bảo vệ dưới thì trên phải giữ yên đã. Muốn cho dân khuôn phép thì phải tự răn mình khuôn phép trước khi cấm vua được. Có cấm được vua thì mới cấm dân được, vua không tự phạm thì dân mới không dám phạm”.

 

NGUYỄN THIẾP (La Sơn Phu Tử) (1723 – 1804)

 Nhà giáo dục học lừng danh, sách vở, các học giả lúc bấy giờ đề cao các thầy có tâm và có tài cao như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Thiếp.

Cái nổi bật ở La Sơn phu tử là phương pháp học, cách học, không câu nệ học thuộc lòng mà không suy ngẫm rộng ra để ứng dụng vào xã hội có lợi cho dân cho nước. Không phải học chỉ lo thi cử để làm quan. Tuy rằng lúc bấy giờ các nho sĩ hoặc làm quan hoặc về đi cày, về dạy học ở thôn xóm vẫn đào tạo ra nhiều bậc hiền tài, tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Đó là NGUYỄN THIẾP mà mọi người tôn vinh là LA SƠN PHU TỬ.

Ông sinh ngày 25 - 8 năm Quý Mùi tức năm 1723 tại làng Mật, xã Nguyệt Áo, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Nội ngoại ông đều dòng dõi khoa bảng: Nguyễn Hành, Nguyễn Huy Quýnh, Nguyễn Huy Tự đều học giỏi nổi tiếng và đỗ đạt cao. Cũng như các mẹ của Chu Văn An và Nguyễn Bỉnh Khiêm, mẹ Nguyễn Thiếp cũng có truyền thống trong việc học. Bà thương yêu và dạy dỗ con rất nghiêm với phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”, học làm người để ích nước lợi dân. Quê ông cũng là vùng có truyền thống học tập nổi tiếng, có tiến sĩ Phan Như Khuê, tiến sĩ Phan Khiêm Thu, tiến sĩ Bùi Dương Lịch… các huyện kề như huyện Nghi Xuân có họ Nguyễn, huyện Can Lộc có họ Phan Huy… nhiều người đỗ đại khoa lừng danh cả nước. Tuy cái lối học thuộc lòng ông có giỏi, có trí nhớ lớn nhưng ông không dừng lại ở đó mà phải phát phát huy kiến thức đó theo chiều sâu rộng để học và hành.

Ông có thơ rằng: “Học đừng vụn vặt nên suy rộng,

Sách chẳng cần nhiều cốt tinh hay”

Nguyễn Thiếp sớm quan tâm đến việc lý giải xã hội, lưu ý tìm hiểu các vấn đề kinh tế, địa lý, văn học, sử học và đặc biệt là triết học. Ông lưu tâm đến các tác phẩm của nhà bác học Lê Quý Đôn vấn đề tình, lễ, lý khí…

Ông lặn lội đến quê Nguyễn Bỉnh Khiêm để tìm hiểu và tưởng niệm nhà học giả lớn này. Và hẳn là do say sưa tìm hiểu học vấn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và nghiên cứu kỹ Trạng Trình nên ông rất am hiểu kinh pháp, thông hiểu thời thế và đoán trước được một số sự kiện có tính chất thời sự. Sự kiện xuất hiện người anh hùng áo vải Quang Trung là tất yếu.

Ông đặc biệt có hiếu với mẹ đã già, nhà đông con, nghèo nên ông càng tu chí học để truyền lại sự hiểu biết đó cho người khác. Lúc còn trẻ, thầy giáo Nguyễn Thiếp đều được mọi người kính trọng, coi ông là bậc thầy của mặt đạo đức, ông đã ảnh hưởng trong nhân dân về xây dựng gia giáo, gia lễ, gia phong trong gia đình. Việc này có ảnh hưởng cả một vùng quê. Ông cũng được triều đình gọi ra làm quan huấn đạo vài ba năm, rồi bổ chức tri phủ huyện Thanh Giang (tức là Thanh Chương ngày nay). Ông luôn giữ là một nhân cách nho sĩ gần dân, được dân yêu, làm quan là ông quan thanh liêm, mẫu mực. Rồi ông tiếp tục từ quan về quê mở trưởng dạy học ở núi Thiên Nhẫn để thực hiện điều tâm đắc cả đời mình “Con người là sinh ra trong trời đất, cái vinh quang ở thế không bị nhục”.

Nhiều quan lại ở thăng Long mời ông ra thảo luận học thuật, trong đó có nhà học giả danh trùm thiên hạ và đương giữ chức Hiệp trấn lúc bấy giờ là Bùi Huy Bích đã làm thơ để tặng ông, trong đó có câu:

“Khác người chỉ có một ông

Chức quyền trao trả, non sông thỏa tình”.

Ông là một trong những nhà học giả danh tiếng sớm có mối liên hệ với quân Tây Sơn và sau đó trở thành nhà giáo dục đầu tiên của vua Quang Trung. Chuẩn bị đổi mới. Quang Tung rất chú ý đến chữ Nôm của dân tộc đã bị cái thời phong kiến trước khinh rẻ. Ba lần Quang Trung mời Nguyễn Thiếp ra làm việc ông đều từ chối, nhưng cuối cùng trong thâm tâm ông nghĩ và quý đức độ “hạ hiền” của vị anh hùng trẻ tuổi Nguyễn Huệ, và rồi năm 1788 trên đường ra Bắc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp lại gặp nhau hội kiến tại Nghĩa Liệt (Hà Tĩnh). Cuộc hội kiến giữa hai vị anh hùng trên hai lĩnh vực võ công - văn đức diễn ra thân mật, thẳng thắn, sòng phẳng rất bổ ích. Nguyễn Huệ có lẽ cũng đã nói nói đến đôi điều về sách lược của thời cuộc. Qua đây thể hiện tầm nhìn sâu của nhà chiến lược Nguyễn Huệ cũng phù hợp với Nguyễn Thiếp.

Lịch sử ghi lại, khi hành quân ra Bắc đánh giặc Thanh xâm lược, thời gian ở Nghệ An mấy ngày có trao đổi về chiến lược đánh giặc giữa Quang Trung và La Sơn phu tử. Nguyễn Thiếp nói: “Quân Thanh ở xa đến, mệt nhọc, không hiểu tình hình khó dễ thế nào; thế nên tiến thủ ra sao và có bụng khinh ta. Nếu ta đánh nhanh thì trong 10 ngày có thể giữ được, nếu trù trừ khó thắng nổi”. Nguyễn Huệ mừng, trả lời: “phu tử nói chính hợp ý ta”.

Sau này Quang Trung ca ngợi Nguyễn Thiếp “một lời nói dấy nổi cơ đồ”.

Sau khi đánh đuổi giặc Thanh, Nguyễn Thiếp trở thành người mà Quang Trung tin tưởng nhất. Vua Quang Trung rất quý trọng học vấn và tư cách của Nguyễn Thiếp phong ông là LA SƠN PHU TỬ và gọi là tiên sinh chứ không gọi tên.

Tờ chiếu của Vua Quang Trung gửi Nguyễn Thiếp:

“Ông tuổi đức đều cao, tất cả sĩ phu đều trông theo như trông núi Thái Sơn, sao Bắc Đẩu. Nay trong nước đã yên, trẫm chuẩn bị sửa sang việc học tập. Mấy lần trước ông đã bàn về phương pháp tổ chức học hành rất rõ, trẫm rất vui. Nay trẫm định thiết lập cơ quan Sùng Chính Thư viện ở Vĩnh Kinh, tại núi Nam Hoa; nay phong ông làm chức Viện trưởng viện Sùng Chính. Phong ông hiệu La Sơn tiên sinh và giao ông chuyện coi việc giảng dạy. Và việc học cứ theo pháp của Chư tử, cốt đào tạo nhân tài và làm cho phong hóa tốt đẹp”.

Bởi vua Quang Trung mất sớm nên việc dở dang. Thế là cuộc cải cách giáo dục trong lịch sử nước nhà chưa thực hiện được. Và 25 tháng chạp năm Quý Hợi (1804) Nguyễn Thiếp mất tại quê nhà. Tất cả tầng lớp nho sĩ và nhân dân quê nha vô cùng thương tiếc một bậc thầy vĩ đại, đức tài chu toàn Cả vùng xứ Nghệ lại:

“Bao giờ Ngàn Hống hết cây

Sông Rum hết nước, đó đây mới hết tình”

(Sông Rum = sông Lam)

Nguyễn Thiếp mãi mãi mãi là bậc thầy của nền giáo dục Việt Nam.

 

NGUYỄN CÔNG TRỨ (1778 - 1858)

Upload

Nguyễn Công Trứ hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, quê làng Uy Viễn, nay xã Xuân Giang, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Được cha là người có học, làm quan thanh liêm, kèm cặp, khuyên bảo về học hành, Nguyễn Công Trứ trở thanh người có văn tài, có ý chí mãnh liệt. Khi cha hỏi chuyện thì Nguyễn Công Trứ bộc bạch:

- Làm trai chỉ lo vô tài. miễn mình có tài… chỉ người giỏi mới biết mình biết thời thế, có duyên thì ở đâu chẳng phong lưu.

28 năm làm quan với 26 chức vụ khác nhau, 4 lần làm tướng đi dẹp loạn, một lần làm lính thú. Đã 3 lần đi chấm thi Hương, có lần đã làm chánh chủ khảo trường Hà Nội.

Ta thấy, Nguyễn Trãi đã dâng kế sách Bình Ngô để bàn cách giải phóng đất nước thì Nguyễn Công Trứ, người dân xứ Nghệ đã dâng Gia Long “Thái Bình thập sách”. Đó là vào năm 1874 khi Gia Long mới lên ngôi 2 năm. Bản này không còn được được lưu giữ. May mà còn 6 bài sớ quan trọng mà nhà nho yêu nước biểu hiện một NHÂN CÁCH của ông một nho sĩ tài hoa lo việc nước, việc dân. Các nội dung có thể tóm lược như sau: Giữ nghiêm pháp luật để trừ giặc cướp; thưởng phạt nghiêm minh để răn quan lại; khai khẩn đất hoang để giảm khổ cho dân nghèo; nghiêm trị bọn cường hào ở thôn xã; đặt nhà học và cấp học ở thôn quê; lập các hội giã thương để giúp dân khi gặp thiên tai; bảo đảm an ninh, tổ chức bảo vệ xóm làng, tổ chức quân đội chuyên nghiệp; xóa bỏ tệ nạn nhà giàu trốn lính và một số đề nghị nhằm bảo đảm an toàn cho biên giới. Nhân dân và dân tộc mãi mãi nhớ ơn ông khi giữ chức Dinh điền và đã mở mang các vùng đất Tiền Hải và Kim Sơn. Nhân dân đã lập đền thờ ông ở các địa phương trên.

Năm 1858 khi Pháp xâm lược Đà Nẵng ông đã làm đơn xin ra chống giặc. Lúc này ông đã 81 tuổi và sau đó ông từ trần.

Có thể nói theo ngôn ngữ hôm nay là tư duy đổi mới sáng giá. Học và hành là chất của nho sĩ yêu nước, của dân tộc, lại mang đậm sắc thái xứ Nghệ kiên trung. Qua văn thơ ông ta thấy rõ NHÂN CÁCH CON NGƯỜI ÔNG.

“Đã sinh ra ở trên đời

 Phải có danh gì với núi sông”

Từ trẻ ông đã đặt ra cho mình một trách nhiệm xã hội chữ “danh” của ông không gắn liền với chữ “lợi” mà gắn liền với chữ “công”. Trong tư duy ước vọng của Nguyễn Công Trứ không hề có khái niệm “danh lợi” mà chỉ có khái niệm “công danh”. Ông khinh miệt tác dụng tiêu cực của đồng tiền.

“Thế thái nhân tình gớm chết thay

  Lạt nồng trong chiếc túi vơi đầy

  Hễ không điều lợi, khôn thành dại

  Đã có đồng tiền dở cũng hay”.

Trái lại ông rất coi trọng việc lập công với đất nước.

“Có sự nghiệp đứng trong trời đất

 Không công danh thề mất với cỏ cây…

 Lo sự nghiệp vì dân vì nước

 Túi kinh luân từ trước để về sau”.

Thấy xã hội con người với con người hết tình hết nghĩa, sông đảo điên Nguyễn Công Trứ nói lên nỗi đau của lòng mình với những lời đầy khí phách và đạo nghĩa.

“Không dưng ngồi trách ông Xanh

 Khi vui muốn khóc, buồn tênh muốn cười…

  Kiếp sau xin chớ làm người

 Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

Cây thông trồng trước mộ ông là từ ý thơ này.

Đúng như ông đã có thơ:

 “Trời đất cho ta một chữ tài

 Dắt lưng làm vốn tháng ngày chơi”

Nguyễn Công Trứ tài mà ngông là vậy!

Bây giờ ta chuyển sang vấn đề canh tân đất nước những nho sĩ yêu nước lúc bấy giờ cũng thật rõ nét NHÂN CÁCH NHO SĨ vì nước vì dân. Trong đó người con xứ Nghệ có những đóng góp đáng kể - có thể nói là tiêu biểu của đất nước làm cho con cháu Nghệ - Tĩnh sau này đáng tự hào phải gìn giữ và phát huy hơn nữa .

 Xin kể vài nhân vật lớn trong giai đoạn này:

 

PHAN ĐÌNH PHÙNG (1847 - 1895)

Upload

Hiệu Châu Phong, quê làng Đông Thái, Huyện La Sơn, Hà Tĩnh. Đỗ tiến sĩ đình nguyên, một đại nho làm quan chức ngự sử. Ông là người cương trực khảng khái, một chí sĩ yêu nước lớn. Do tính tình thẳng thắn của ông có những việc trái mắt ông đều có ý kiến với triều đình. Và sau ông bị phế truất thải hồi về quê.

Ông đã cùng viên tướng tài ba của mình là Cao Thắng tổ chức vùng Hương Khê - một căn cứ kháng chiến hùng hậu. Phạm vi hoạt động trong 4 tỉnh: Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa.

Cao Thắng một người xuất thân từ bình dân, là một chỉ huy quân sự đã biết tổ chức các lực lượng của mình một cách có hiệu quả và đã trang bị cho họ một loại súng trường được chế tạo theo kiểu súng của Pháp 1870. Phong trào mở đầu năm 1885, năm 1893 Cao Thắng cầm đầu đội quân của mình tiến về tỉnh lỵ Nghệ An và bước đầu đánh bật nhiều đồn giặc, có lần Pháp và tay sai phải điều 5 nghìn quân giải cứu. Ông chủ trương có công sự kiên cố và có cách đánh du kích.

Khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1895), 10 năm kháng chiến gây cho kẻ giặc nhiều thiệt hại và hốt hoảng. Nổi bật là trận Vũ Quang tháng 10 - 1894 dùng bao cát chặn nước. Phan Đình Phùng bị trọng thương và mất ngày 28 - 12 - 1895. Rồi cuộc kháng chiến lịm dần. Cuộc kháng chiến chống Pháp của Phan Đình Phùng lãnh đạo là tiêu biểu nhất trong phong trào Cần Vương lúc bấy giờ.

Cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng làm rạng danh cho đất nước, cho các nho sĩ yêu nước với phong trào Cần Vương. Và con người xứ Nghệ càng được tô đậm về khí chất kiên trung vì nước, vì dân, trung hiếu kiên cường.

 

NGUYỄN XUÂN ÔN (1825 - 1889)

Thực dân Pháp mở cuộc hành quân “gọng kìm” từ Trung Kỳ ra Bắc Kỳ để truy bắt vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết. Suốt 8 tháng ròng rã từ 19 - 7 - 1885 đến 10 - 3 - 1886, địch đã phải chống cự quyết liệt với nghĩa quân yêu nước.

 Đặc biệt ở Nghệ An chúng phải đối đầu chật vật với nghĩa quân do Nguyễn Xuân Ôn lãnh đạo. Chúng kêu gọi nghĩa quân ra đầu thú với một danh sách dài, trong đó có Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã (Nghệ An), Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh)… Người Pháp tiếp tục thắt chặt cuộc bao vây nơi ẩn náu của vua Hàm Nghi. Vua bị bắt 1-1-1988 do có kẻ phản bội và vua Hàm Nghi bị đày sang Angiêri .

Nghệ An, Hà Tĩnh, các nho sĩ yêu nước lãnh đạo quân cùng với các địa phương cả nước chống trả quyết liệt.

Nguyễn Xuân Ôn, một con người trung vua (không ngu trung) yêu nước và thương dân của trí thức nho sĩ xứ Nghệ, một trong những văn thân nổi tiếng của dân tộc ta thế kỷ XIX, Nguyễn Xuân Ôn còn là một nhân vật để lại nhiều ý kiến xuất sắc trong quá trình tư duy Việt Nam, nhận thức về sự nghiệp bảo vệ tổ quốc đương thời.

Quê ông ở làng Quần Phương, tổng Thái Xá, huyện Yên Thành, Nghệ An (nay là xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, Nghệ An). Ông đỗ tú tài năm 1844, cử nhân năm 1867 và tiến sĩ năm 1871. Ông đã từng tập sự 3 năm ở kinh đô Huế, làm tri phủ huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, đốc học tỉnh Bình Định, làm ngự sử ở triều đình, làm Án sát tỉnh Bình Thuận, là nơi tiếp giáp với Nam Kỳ bị chiếm đóng. Năm 1879, ông đã gửi về triều đình những kiến nghị chứa chan lòng yêu nước và có một tầm nhìn sâu xa hơn sĩ phu đương thời.

Nguyễn Xuân Ôn phản đối triều đình Tự Đức trượt dài chủ trương cầu hòa, thủ tiêu chiến đấu, cản trở phong trào kháng chiến của các sĩ phu chủ chiến và nhân dân. Ông xin được về quê nhà dạy học và mang tư tưởng chủ chiến và vận động các quan chức trong vùng chuẩn bị kháng chiến.

Đến năm 1885, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi phong ông làm “An - Tĩnh hiệp đốc quân đại thần” thống lĩnh quân đội hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh chống Pháp. Ông cùng các sĩ phu yêu nước tập hợp được vài ngàn quân và lập căn cứ lâu dài ở vùng núi Yên Thành. Trong khoảng 1885 - 1887 nghĩa quân của ông đã nhiều lần phục kích địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Nguyễn Xuân Ôn bị thương nhiều lần trong chiến đấu. Ngày 25 -8 -1887, do có tay sai chỉ điểm, giặc bắt ông trên giường bệnh, khi ông đang điều trị vết thương nặng. Mấy tháng sau ông lâm bện nặng và từ trần, thọ 65 tuổi.

Tư tưởng của Nguyễn Xuân Ôn rất đặc sắc lúc đương thời. Ông nhận thức sâu sắc kẻ thù, ông nhận ra chỗ yếu của nó, ông nói giặc không mạnh, mà do ta phạm nhiều sai lầm để cho giặc lợi dụng được. Rút bài học từ truyền thống chống giặc ngoại xâm dân tộc ta nên ta có thể đánh giá quan điểm cơ bản của ông nhấn mạnh, con người là nhân tố quyết định trong chiến tranh. Ông chỉ ra rằng yếu tố vũ khí, kỹ thuật không phải quyết định. Ông đề xuất nhiều ý kiến về quốc phòng, về chiến tranh. Ông đã nêu lên những tư tưởng căn bản của lĩnh vực tổ chức và phát động chiến tranh nhân dân.

Hiện nay có đủ cứ liệu bằng văn bản để coi Nguyễn Xuân Ôn là nhà tư tưởng quân sự đứng ở vị trí cao đối với vấn đề mà thực tại đấu tranh bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỷ XIX (xem 2 tập văn thơ đồ sộ của ông để lại đã chứng minh điều đó).

 

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ (1830 - 1871)

Upload

Về canh tân đất nước thì đầu tiên phải kể đến Nguyễn Trường Tộ. Ông sinh ra trong một gia đình nhiều đời theo đạo Gia Tô, ở làng Bùi Chu, nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Lúc còn nhỏ ông nổi tiếng là người thông minh, có trí nhớ tuyệt vời nhưng không thích lối học từ chương máy móc mà thích cái học thực tiễn. Ông không dự một khoa thi nào của triều đình và cũng không có một chút địa vị xã hội nào, nhưng nhân dân vẫn tôn ông là “Trạng Tộ”. Ông có trình độ Nho học uyên thâm và những hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật, chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao, pháp luật.

Ta khẳng định ông là người say mê học hỏi và sáng tạo chỉ mong làm được việc có ích cho đạo, cho đời. Qua cuốn “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo” được lưu giữ tại viện sử học đã được Trương Bá Cẩn giới thiệu. Những biện pháp canh tân Nguyễn Trường Tộ đề xuất đủ các mặt: kinh tế, văn hóa, giáo dục, ngoại giao, quân sự.

Nguyễn Trường Tộ là nhà cải cách nghĩ xa thấy rộng và cũng là người thực tế. Những đề nghị cải cách của ông trong mọi lĩnh vực đều có thể thực hiện được nếu như triều đình Tự Đức thực sự muốn đổi mới đất nước.

Nhà yêu nước lớn Phan Bội Châu khi viết cuốn “Việt Nam quốc sử khảo” xuất bản tại Nhật Bản cách đây hơn 100 năm đã đánh giá Nguyễn Trường Tộ “Ông chính là người đã giồng cái mầm khai hóa trước tiên ở nước ta”.

Tất cả các nhà nghiên cứu các thời kỳ tiếp cận 58 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đều chung một ý nghĩ: khó có một trí thức nào ở thế kỷ XIX làm được một cách toàn diện và hệ thống như ông.

Tôi dẫn chứng ý kiến xác đáng của học giả lớn Cao Xuân Huy trong cuốn “Tư tưởng Phương Đông….” (Tr. 276 - 277):

“… Đến đây chúng tôi đã trần thuật xong cái tình hình tư tưởng của xã hội Việt Nam dưới thời Tự Đức. Chúng tôi đã phân tích cái tư tưởng thống trị cùng thời ấy, đó là tư tưởng Tống nho, một thứ Nho giáo được lý luận hóa, hệ thống hóa, vay mượn triết học của Lão Tử và của Phật giáo để làm cơ sở lý luận cho “tam cương ngũ thường”. Các nhà nho thời bấy giờ nhìn nhận hiện thực tư bản chủ nghĩa mới xuất hiện thông qua những cái khung cố định, tức là những phạm trù tư tưởng phong kiến đã có vận mệnh hơn 2000 năm, do đó họ thấy cái hiện thực mới là những hiện tượng phi thường và quái gở, nhất là những nhận định sai lầm về văn minh khoa học kỹ thuật của phương Tây… Trong khi xung quanh Nguyễn Trường Tộ, người ta nhìn hiện thực mới bằng những cái khung cũ kỹ, do đó mà nhìn lệch thì chỉ có Nguyễn Trường Tộ có đủ nhãn lực để nhìn đúng cái hiện thực như vậy là vì sao? Là vì những người xung quanh Nguyễn Trường Tộ chỉ đứng trên lập trường tư tưởng phong kiến để nhìn hiện thực tư sản, còn Nguyễn Trường Tộ đã có can đảm đứng trên lập trường tư sản để nhìn hiện thực tư sản. Đó cũng là lý do để đời sống tư tưởng dưới thời Tự Đức, đứng về mặt nào đó có thể gọi là “tập đại thành” của tư tưởng học thuật Phương Đông trong mấy ngàn năm, và thực tế đã sản sinh được những nhà tư tưởng kiệt xuất, rốt cuộc vẫn không thể trụ lại được với chủ nghĩa tư bản trong cuộc đọ sức lâu dài và để cuối thế kỷ XIX dẫn đến kết cục thất bại. Đó là một kết quả tất yếu của lịch sử.

Những cuộc cải cách đất nước trong lịch sử nước ta trước đó chỉ biểu hiện tư duy bằng hành động cụ thể, còn ở Nguyễn Trường Tộ tư duy cải cách lại có trước để chỉ đạo hoạt động. Do đó khi chưa kịp hành động thì tư duy cải cách vẫn là một di sản được coi trọng (nhà sử học Văn Tạo).

Bây giờ ta tìm hiểu cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX sẽ thấy rõ hơn giá trị “gieo mầm” này. Đó là ảnh hưởng của Tân Thư với các nhà nho yêu nước, với cả nước nói chung và Nghệ Tĩnh nói riêng.

 

PHAN BỘI CHÂU (1867 - 1940)

Upload

Phong trào canh tân đất nước đầu thế kỷ XX ảnh hưởng của Tân Thư với các nhà nho yêu nước. Từ thời Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch đã có ảnh hưởng của Tân Thư. Nhưng đến đầu thế kỷ XX thì nó ảnh hưởng rõ rệt trong các phong trào yêu nước của các nhà nho, những thầy đồ ở nông thôn, nhận được ở Tân Thư những cái mới tích cực hơn, phù hợp hơn với trào lưu thế giới.

Ở Việt Nam duy tân đầu tiên là để giành quyền độc lập tự chủ, độc lập dân tộc, Giáo sư Đặng Thai Mai đã viết: chung quanh ông Giải San dẫn đến một số thanh niên Bắc, Trung, Nam tập hợp lại trong bọn họ có những người thuộc phái “kịch liệt”, cũng có nhiều phần tử “trung hòa”, nhưng mục đích chung là hy vọng gắn bó với ý chí của mọi người làm một: khôi phục độc lập của nước Việt Nam. Đặc biệt ở Phan Bội Châu có sự chuyển biến từ dân tộc tiến tới dân chủ và đang tiệm cận với chủ nghĩa Mác.

Một điểm nổi bật là từ 1907, thế hệ trẻ Đông Kinh Nghĩa Thục, đây là những sĩ phu tư sản hóa của Việt Nam, thế hệ đầu thế kỷ biết bao nhân vật nổi tiếng cùng lớp Phan Bội Châu có Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng. Dù họ có khác nhau chỗ nào đó nhưng đều là phục vụ cho nhu cầu giải phóng dân tộc. Sự ra đời của lớp trí thức mới không theo những nguyên lý cha ông ngày trước mà theo hoàn cảnh mới của Việt Nam trong yêu cầu đấu tranh với mục tiêu chung, những con người tiêu biểu của dân tộc đều gặp nhau ở chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là độc đáo của văn hóa Việt Nam.

Phan Bội Châu với Duy tân Hội - phong trào Đông Du - Việt Nam Quang phục Hội

Phan Bội Châu còn gọi là Phan Văn San, ông Giải San, Sào Nam (1807 - 1940) chí sĩ cứu nước và là nhà cách mạng nổi tiếng tiếp thu xu hướng bạo động ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Quê ông ở làng Đan Nhiệm (nay xã Xuân Hòa, Nam Đàn) lúc nhỏ nổi tiếng là “thần đồng”, năm 13 tuổi thạo các thể văn cử tử, đỗ giải nguyên (1900). Năm 17 tuổi đã viết hịch “Bình Tây Thu Bắc”, năm 19 tuổi lập đội sĩ tử Cần Vương để hưởng ứng chiếu Cần Vương chống Pháp. Năm 1904 lập Hội Duy Tân, chủ trương “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam”. Từ năm 1905 - 1909 trực tiếp lãnh đạo phong trào Đông Du, tổ chức gồm 200 thanh niên yêu nước xuất dương sang Nhật Bản học tập quân sự, khoa học kỹ thuật. Tháng 3 - 1909 tổ chức Đông Du bị giải tán, Phan Bội Châu bị trục xuất khỏi Nhật Bản. Ông về Trung Quốc rồi sang Xiêm (Thái Lan) xây dựng cơ sở cách mạng. Sau khi cách mạng Tân Hợi (1911) thành công, ông trở lại Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang phục hội với cương lĩnh chính trị “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc”. Rồi Phan Bội Châu bị quân phiệt Trung Quốc bắt giam, năm 1917 ra tù, tìm hiểu cách mạng tháng mười Nga, viết báo ca ngợi Lênin.

Giữa năm 1924, với phong trào Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn ông định cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân đảng. Nhưng sau khi gặp Nguyễn Ái Quốc, ông bỏ ý định đó mà có những ý tưởng theo hướng XHCN. Ngày 30-6-1925 bị thực dân Pháp bắt tại Thượng Hải giải về nước xử án tử hình. Do nhân dân biểu tình đòi thả cụ Phan, thực dân Pháp buộc đưa ông về an trí tại Bến Ngự (Huế). Phan Bội Châu vẫn kiên trung đường lối vì nước vì dân, ông cống hiến to lớn cho sự nghiệp văn học yêu nước vì cách mạng của dân tộc, đã để lại trên 2000 tác phẩm lớn, nhỏ gồm đủ các thể loại: phú, văn tế, hát nói, thất ngôn, tứ tuyêt, lục bát, truyện ngắn, truyện dài, kịch bản tuồng, tiểu phẩm, hồi ký… vừa Hán vừa Nôm. Điều làm người đọc hấp dẫn là ở tâm huyết của nhà văn trước số phận đất nước, giống nòi… Ông là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập dân tộc được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” (lời Nguyễn Ái Quốc).

Ông chủ trương “vận động đổi mới tư duy” quần chúng để chuyển thành hành động đấu tranh, rồi ông dẫn đến đổi mới tư duy chính trị dân chủ tư sản tiến gần với chủ nghĩa xã hội. Ông thấy làm cách mạng bây giờ là phải làm cách mạng xã hội và phải dựa vào giai cấp công nhân và nông dân. Cụ đã muốn đi với Nguyễn Ái Quốc để nhờ góp ý kiến sửa đổi tôn chỉ, chương trình, tổ chức. Kiên trì đường lối vũ trang cứu nước nhưng không loại trừ hay bài xích biện pháp cải lương, chú trọng lực lượng trẻ, bồi dưỡng, đào tạo nhân tài, bước đầu nêu cao tư tưởng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo, đoàn kết binh lính, tạo tiền đề cho hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam sau này.

Sau khi đi nước ngoài về, phan Bội Châu đề cao tinh thần dân chủ, tư tưởng dân chủ, dân quyền trong suy nghĩ của Phan tiên sinh càng ngày càng sâu đậm. Quan niệm của Cụ không chỉ ở dân trí, dân ý mà là dân quyền. Phan Bội Châu đã chuyển biến tư tưởng từ dân tộc tiến đến dân chủ về đang tiệm cận với chủ nghĩa Mác. Cụ đã tìm thấy sự gặp gỡ đường đi gắn bó thuyết XHCN khoa học của Các Mác với thuyết đại đồng của Khổng Tử. Phan Bội Châu còn tìm hiểu cả khoa học hiện đại Cantô, Copecnic (1473 - 1543), Galilê (1564 - 1642), Anhstanl (1879 - 1955), tất cả đến với ông qua chữ Hán.

Phan Bội Châu là người mang rõ nét sắc thái văn hóa xứ Nghệ. Quê hương xứ Nghệ, một trong những vùng văn hóa sâu sắc, điển hình của văn hóa Việt Nam.

Quê hương đã hun đúc nên Phan Bội Châu và chính ông đã làm rạng danh cho quê hương, tô đậm văn hóa xứ Nghệ phát triển không ngừng cho sau này.

Và nhân đây ta cũng tiếp tục tiêu biểu các nhà nho, những thầy đồ Nghệ gần dân, được dân yêu mến và hành động theo phong trào yêu nước và cách mạng. Ta có thể kể tới những đồng chí và những nho sĩ yêu nước nổi bật theo đường đi của Phan Bội Châu với bản sắc dân tộc và sắc thái. Con em xứ Nghệ đầy tâm thức văn hóa truyền thống Việt Nam như các THẦY ĐỒ NGHỆ gắn bó với nông dân, gắn bó với xóm làng như: Đặng Nguyên Cẩn (1867 - 1923), Đặng Thái Thân (Ngư hải 1873 - 1940), Đặng Thúc Hứa (1870 - 1931), Đặng Tử Kính (1875 - 1928), Ngô Đức Kế (1879 - 1929) v.v…

Làng quê nào cũng có những tấm gương các nho sĩ yêu nước - họ là những thầy đồ Nghệ giản dị, khiêm tốn và vũ lực không hề họ bị khuất phục, giàu sang hay nghèo hèn không làm họ chuyển lay cái tố chất văn hóa xứ Nghệ.

 Truyền thống ấy tiếp tục được phát triển sau cách mạng tháng 8 - 1945 với những tên tuổi có danh với núi sông, họ cũng là những ông thầy đồ Nghệ về tư chất truyền thống mà thế hệ học trò tiếp theo đều mến mộ, kính phục: Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, Nguyễn Khắc Viện, Hoài Thanh, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Đổng Chi… (có những tên tuổi còn vang xa ra ngoài biên giới hôm nay).

Và tiếp là những tên tuổi cũng khá quen thuộc và có ấn tượng trong nhân dân cả nước: Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Ngọc, Nguyễn Từ Chi, Trần Đình Hượu, Đinh Xuân Lâm, Hà Văn Tấn, Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Huệ Chi, Phan Đình Diệu, Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Đình Chú… hầu hết họ là con của các gia đình nho sĩ yêu nước, những nhà khoa bảng có tên tuổi.

Và con cháu hôm nay trên ghế nhà trường đang rèn luyện theo lớp cha anh tu đức, tu tài, lập nghiệp để xứng danh quê hương hiếu học.

Và đỉnh cao của văn hóa mà lúc bấy giờ người nước ngoài cũng đã thấy đó là NGUYỄN ÁI QUỐC.

Upload

 

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

Vào năm 1923, một nhà thơ Nga nổi tiếng là Oxíp Manđenxtan đã nhìn thấy ở Nguyễn Ái Quốc, lúc này chưa phải là lãnh tụ mà chỉ là một con người cách mạng bình thường, cái đặc điểm sẽ tạo thành vị danh nhân kiệt xuất của văn hóa thế giới: “cái diện mạo Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải như văn hóa Châu Âu, mà có lẽ là một văn hóa tương lai…”.

Nguyễn Ái Quốc ngay trong hoàn cảnh khó khăn đã để lại một ấn tượng khó quên ở nhà thơ Nga, nhà thơ viết:

“Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và thanh lịch, chuộng nếp điều độ và ghét thái quá. Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, ta thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái, đoàn kết bao la như đại dương”.

Và con người ưu tú ấy là Hồ Chí Minh, đỉnh cao của văn hóa Việt Nam.

Người và Đảng ta biết sự khác nhau cơ bản giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin và Nho giáo là ở bản chất khoa học, ở dân chủ, cái mà các nho sĩ ta còn thiếu, nhưng nhờ lòng yêu nước mà trong hoạt động thực tiễn đã khiến họ tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không nhờ vào sách vở, họ đã thay đổi tư tưởng, những cái hay của Nho giáo đã góp vào văn hóa Việt Nam.

Ta luôn coi Nho giáo và sự nghiệp của các nhà nho yêu nước là tài sản quý giá của dân tộc cần phải kế thừa và phát huy, không phải “sổ toẹt”. Đó chính là tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, mà cũng là sự kế thừa của học thuyết Mác - Lênin.

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (5/6/2019)
Miền Tây Nghệ An - Phong phú các loại hình văn hóa vật thể (24/5/2019)
Đào nương Trần Thị Khoan Cung phi của chúa Trịnh (21/5/2019)
Dòng họ 5 thế kỷ hát ca trù (21/5/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (24/4/2019)
Tiền sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục khoa bảng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (24/4/2019)
Họ Trần và Giáp ca Trần Đức Lương với nền ca trù xứ Nghệ (23/4/2019)
Con người nhân cách thầy đồ Nghệ dưới triều Nguyễn (2/4/2019)
Hồ Hữu Thới - Người nhạc sĩ của quê hương (29/3/2019)
Được nhà vua ban thưởng (28/3/2019)
Mùa thu trên đất Hưng Nguyên nhớ Anh hùng lao động Cao Lục (1) (28/3/2019)
Nguyễn Tất Thành ở Luân Đôn (22/3/2019)
Việc thờ tự xưa và nay ở Làng Quỳnh (30/1/2019)
Dọc ngang sông biển Quỳnh Lưu (9/1/2019)
Phan Sào Nam và hát đối dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh (2/1/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 608 | Tất cả: 1,744,982
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp