ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Mùa thu trên đất Hưng Nguyên nhớ Anh hùng lao động Cao Lục (1)
Tin đăng ngày: 28/3/2019 - Xem: 187
 

Trần Hữu Vinh

Upload

    Anh hùng Lao động Cao Lục, sinh năm 1928, quê xã Hưng Thái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An là người cống hiến cả đời mình cho công cuộc xây dựng quê hương đất nước. Những năm 1960 - 1970, nói đến Hưng nguyên là nói đến HTX Ba Tơ, nói đến HTX Ba Tơ là nói đến con người tận hiến Cao Lục.

    Sinh ra trong một gia đình có bố là nhà Nho, chuyên bốc thuốc cứu người, thuở nhỏ, Cao Lục học chữ nho rồi học chữ quốc ngữ. Trước cách mạng tháng Tám, ông tham gia đội tự vệ do ông Mãn và ông Cao Duệ chỉ huy. Đội tự vệ lúc bấy giờ luyện tập võ nghệ, bảo vệ trị an, cùng nhân dân rèn vũ khí tại vườn nhà cụ Bản trong làng và sau này tham gia giành chính quyền tại địa phương.

     Năm 1949, Cao Lục đi bộ đội, được điều về Đại đoàn 308, ông tham gia nhiều chiến dịch như Biên giới (1950); Điện Biên Phủ (1954)… Đầu năm 1958, ông được phục viên về địa phương (thôn Ngọc Điền, xã Hưng Thái, huyện Hưng Nguyên).

     Về quê nhà, nhìn thấy cảnh quê hương là một vùng chiêm trũng, nhân dân chăm chỉ nhưng quanh năm lam lũ, đói nghèo, ông đã bàn với các đồng chí trong chi bộ thành lập tổ đổi công để hỗ trợ lẫn nhau trong lao động sản xuất. Mô hình này đã giúp cho những gia đình neo người kịp thời trong hoạt động sản xuất. Cuối năm 1958, Hưng Thái thành lập HTX Trung Đông do ông Cao Lục làm chủ nhiệm và HTX Nam Nhẹ do ông Cao Duy Bình làm chủ nhiệm. Tiếp đó, năm 1959, HTX Cầu Đền và Pheo Thánh cũng được thành lập.

      Đầu năm 1960, thực hiện chủ trương của TW, tỉnh ta cử đoàn cán bộ đi học tập mô hình của HTX Đại Phong (Quảng Bình) về và ra chủ trương: “Hợp tác hoá ngành nông nghiệp” thì Hưng Thái thành lập HTX Ba Tơ (hợp nhất từ bốn HTX: Trung Đông; Nam Nhẹ; Cầu Đền và Pheo Thánh), ông Cao Lục được bầu làm chủ nhiệm. Với tư duy sáng tạo, tầm nhìn chiến lược, phẩm chất của anh bộ đội cụ Hồ, tấm lòng và bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ… ông Cao Lục đã dấn thân vào công cuộc cách mạng chống đói nghèo lạc hậu, xây dựng quê hương.

      Thôn Ngọc Điền là trung tâm của xã, có vị trí đắc địa: trên bến, dưới thuyền, có chợ, có đền chùa, sân vận động với 2000 m2 nhưng lại là vùng thuần nông, cơ sở hạ tầng kém nên phụ thuộc thiên nhiên, hai phần ba diện tích chỉ làm được một vụ. Vùng đất chưa mưa đã lụt, chưa nắng đã hạn ấy có năng suất rất thấp (giống cũ dài ngày chỉ đạt 50 - 60kg/ sào), người dân phải trồng khoai lang để vừa có ăn ngay chống đói vừa phơi khô dự trữ. Lúc bấy giờ trong vùng có câu ca: “Kẻ Đìn là kẻ Đìn xiêu - Đầu gậy, đầu bị, đầu niêu ăn mày” - Kẻ Đìn chính là thôn Điền Ngọc quê Cao Lục.

Upload

 

Hưng Nguyên hôm nay  (Ảnh: Sách Nguyễn)

      Trong bối cảnh ấy, ông Cao Lục đã đêm ngày trằn trọc tìm ra hướng làm ăn cho bà con trong thôn, trong xã ngay trên chính quê hương mình. Những suy nghĩ của ông được cán bộ đảng viên và đông đảo bà con hưởng ứng.

     Chủ nhiệm Cao Lục lên kế hoạch đắp con đê bao quanh làng để chống lụt và trị thuỷ phục vụ sản xuất hai vụ/ năm; đưa năng suất cây lúa lên cao bằng giống mới; kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, hai ngành này hỗ trợ cho nhau, thúc đẩy nhau phát triển… Tư duy đổi mới ấy được đưa vào nghị quyết của Đảng uỷ địa phương, nghị quyết HTX và tiến hành thực hiện.

      Cao Lục phát động phong trào toàn dân làm thuỷ lợi, xã quan hệ với Trường Đại học Sư phạm Vinh nhờ sinh viên về lao động đắp bờ giúp HTX. Trong vòng ba năm, trên ba vạn tám ngìn mét khối đất được đào đắp lên. Một hệ thống đê hơn 3 km bao quanh xóm làng và đồng ruộng của HTX được hình thành, mở ra tiềm năng sản xuất, chăn nuôi năng suất cao cho HTX Ba Tơ.

      Sau khi bờ bao cơ bản được đắp xong, ông Lục chủ trương quy hoạch giao thông: mở hai trục đường chính xuyên suốt hai xóm 8 và 9 nối với đường 12/9. Đường được mở rộng để thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá, có thể vận chuyển bằng xe cải tiến, tiến tới vận chuyển bằng xe trâu, bò, xe cơ giới (trước đó, đường hẹp, quanh co, gồ ghề… vận chuyển chủ yếu bằng quang gánh). Đồng ruộng thì cứ khoảng 200m lại có một con đường rộng khoảng 2-3 m, kề bên một đường mương vừa dẫn nước tưới tiêu vừa phục vụ vận chuyển bằng thuyền nan.

      Từ đầu những năm 1960, ông Lục cử một đoàn cán bộ do ông Cao Cự Lập – phó chủ nhiệm HTX, ra Hà Nam học tập phương pháp nuôi cá của tỉnh bạn. Đoàn lấy giống cá mè, cá chép về và thuê một đoàn chuyên gia Hà Nam về hướng dẫn chăm nuôi. Chương trình lúc đầu được nuôi thí nghiệm tại vùng Cầu Cổng và cho thắng lợi ngay từ vụ đầu tiên. Tiếp theo, ông cho sản xuất đại trà trên toàn bộ diện tích ao rào, kênh mương trong toàn HTX, hàng năm thu được hàng trăm tấn cá. Cá nuôi đầy đồng nhưng không mất mát vì người dân tự bảo vệ sản phẩm của họ làm ra.

       Cũng từ những năm 60, ông  Lục bố trí con em xã viên đi học các lớp trung cấp nông lâm, thuỷ lợi, quản lý, chăn nuôi… để tạo nguồn nhân lực cho HTX. Trong số đó có thể kể đến một số người như các ông bà: Cao Diện, Nguyễn Thị Miền, Hoàng Xuân Lương, Hồ Sáu (trồng trọt); Cao Cự Dật, Lê Lai (thuỷ lợi); Trân Liên, Trần Hồng (chăn nuôi)… Nhân bối cảnh ở miền Bắc còn ít địa điểm tác nghiệp cho các kĩ sư, cán bộ chuyên môn, ông Lục đã mời họ về làm việc tại HTX. Đây được xem là tư duy thu hút nhân tài rất hiếm ở một cán bộ cấp xã thời bấy giờ. Đội ngũ kĩ sư này là nguồn nhân lực chất lượng cao của HTX, ai cũng rất vui, háo hức và đầy nhiệt huyết làm việc vì đây là nơi mà họ có điều kiện để thể hiện tài năng, sở trường của mình. Có thể nhắc tới một số người như: kĩ sư trồng trọt Võ Thưởng, Cao Đức Tuấn; kĩ sư chăn nuôi Nguyễn Trọng Tuyền; kĩ sư thuỷ sản Nguyễn Văn Long; bác Hoà (quê Quảng Bình) thợ cơ khí – điện, bậc 6/7.

      Nhờ áp dụng KHKT vào sản xuất, HTX Ba Tơ thu được những thắng lợi to lớn. Các giống lúa mới có năng suất cao như Nông nghiệp 5, Nông nghiệp 8 đã cho năng suất từ 180 – 200kg/ sào/ vụ (gấp 3 - 4 lần giống cũ); trại chăn nuôi có hơn 1000 đầu lợn; sản lượng cá hàng trăm tấn/ năm; có bể vật đẻ cá, hệ thống ao ươm, sản phẩm làm ra bán rất chạy, đưa Ba Tơ lên tốp đầu trong những HTX nông nghiệp trên miền Bắc XHCN. Bên cạnh đó, HTX còn chú trọng các ngành nghề như lò vôi liên hoàn, đóng gạch ngói, mộc nề, vận chuyển (xe bò kéo, thuyền gỗ), cơ khí, xay xát… Công tác quản lý cũng được chú trọng như quyết toán theo vụ, theo năm kịp thời, nhanh chóng để động viên bà con tích cực làm việc. Tích luỹ của HTX ngày càng lớn, đời sống xã viên đi lên trông thấy, giá trị ngày công thuộc hàng cao nhất miền Bắc lúc bấy giờ (1kg thóc đổi 1 đồng). Ngay trong xã Hưng Thái có 5 HTX, thì 4 HTX có thu nhập ngày công chỉ bằng 1/10 của HTX Ba Tơ.

      Năm 1970, ông Cao Lục vận động sát nhập cả 5 HTX thành HTX cấp cao Ba Tơ xã Hưng Thái với mong muốn đưa đời sống của bà con trong xã phát triển đồng đều. Sau một thời gian dắn đo, cân nhắc, cuối cùng, các đồng chí cán bộ Đảng viên và bà con trong xã cũng tin vào tài năng, tâm huyết và đức độ của ông Cao Lục nên cùng nhất trí chung tay xây dựng HTX. Đại hội đại biểu HTX đã bầu Cao Lục làm chủ nhiệm HTX Ba Tơ Hưng Thái.

      Chủ nhiệm Cao Lục lấy hai bên bờ sông Cầu Mưng làm trung tâm của HTX nhằm thuận lợi cho việc vận chuyển cả thuỷ lẫn bộ. Trung tâm Cầu Mưng cách xã phía tây và phía đông đều khoảng 1 km, giáp xã Hưng Đạo là khu sân kho (rộng khoảng 1 héc ta và nhà kho dự trữ thóc gạo, có nhà máy xay xát gần kề do một tổ phụ trách và bộ phận phụ trách máy móc. Tiếp đến là trạm điện, đội cơ khí với máy phay, máy bào, tiện… hiện đại vào loại nhất tỉnh lúc bấy giờ. Kế đến là khu vật tư, phân bón, còn khu vực lò vôi liên hoàn được bố trí theo dọc bờ sông để thuận tiện cho việc lấy nguyên liệu. Phía nam sông là khu chăn nuôi lợn, khu vực trồng rau (gần 10 mẫu) phục vụ chăn nuôi cá, nuôi lợn, hệ thống bể ươm cá giống, khu vực sản xuất gạch ngói…

      Ông Cao Lục luôn bám sát mọi hoạt động, diễn biến của HTX từ ruộng đồng, ao cá, chăn nuôi, sản xuất… Ông tự nấu cơm ăn và ngủ tại phòng làm việc, có thời gian ông ở khu vực trại chăn nuôi, thức đêm cùng cán bộ thú y chăm sóc lợn đẻ. Chính vì vậy ông không thể chăm sóc được cho con cái, gia đình và bản thân. Có lần đang mải làm việc, có người báo tin con ông đang ốm, ông bảo: “đã có ông Luận lo” (ông Lương Thể Luận là trạm trưởng trạm y tế xã lúc bấy giờ). Sự liêm khiết, vô tư của ông được bà con hết lòng ca ngợi và nể phục. Chuyện kể rằng: có lần, đêm khuya đi họp về, trời lại mưa, mấy ông bảo vệ lập mưu thử thách ông. Họ để con cá chép rõ to bên vệ đường như là cá vừa nhảy trong ao ra rồi nấp trong lùm cây chờ đợi. Ông Lục vội bước tới, ôm con cá lên, vuốt ve cá rồi thả xuống ao. Lúc nào người ta cũng thấy ông bận một chiếc quần sooc, áo may ô hoặc áo cộc tay đi rất nhanh trên đồng hoặc ao cá, trại chăn nuôi.

      HTX Ba Tơ Hưng Thái vinh dự được đón tiếp các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng – nhà nước về thăm và làm việc như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (năm 1961); Tổng Bí thư Lê Duẩn (năm 1974)... Ông Cao Lục vinh dự được Đảng – Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng Lao động năm 1962 bởi những đóng góp to lớn và những nỗ lực không biết mệt mỏi của ông.

      Cũng vì lao vào làm việc, ăn uống đơn giản, ông không chú ý gì tới sức khoẻ bản thân, trong người bị nhiều bệnh mà ông làm ngơ, mãi cho đến khi bệnh quá nặng được người thân đưa đi cứu chữa thì đã quá muộn. Anh hùng Lao động Cao Lục mất tại Bệnh viện Việt Xô (Hà Nội) ngày 05 tháng 8 năm 1974 trong sự thương tiếc và biết ơn của hàng vạn người dân quê hương.

      Nói đến anh hùng Cao Lục là nói đến một tấm gương lao động sáng tạo không ngừng nghỉ, một nghị lực không biết mệt mỏi trong cuộc chiến chống đói nghèo, xây dựng quê hương.

 

Chú thích

    (1) Bài viết dựa theo tư liệu dòng họ Cao xã Hưng Thái – Hưng Nguyên.

Ảnh tư liệu tại Trung tâm Văn Hoá – Thể thao huyện Hưng Nguyên.

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
Miền đất cổ Mường Chiêng Ngam (10/7/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (5/6/2019)
Miền Tây Nghệ An - Phong phú các loại hình văn hóa vật thể (24/5/2019)
Đào nương Trần Thị Khoan Cung phi của chúa Trịnh (21/5/2019)
Dòng họ 5 thế kỷ hát ca trù (21/5/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (24/4/2019)
Tiền sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục khoa bảng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (24/4/2019)
Họ Trần và Giáp ca Trần Đức Lương với nền ca trù xứ Nghệ (23/4/2019)
Con người nhân cách thầy đồ Nghệ dưới triều Nguyễn (2/4/2019)
Hồ Hữu Thới - Người nhạc sĩ của quê hương (29/3/2019)
Được nhà vua ban thưởng (28/3/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,174 | Tất cả: 1,785,836
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp