NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Địa danh A Lô và chiến thuật tấn công hạ đồn Đại Mang năm 1285 - Mở màn cho chiến dịch giải phóng Thăng Long của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn
Tin đăng ngày: 27/3/2019 - Xem: 97
 

 

       Đặng Hùng

 Hội viên Hội Khoa học lịch sử Việt Nam

 

  1. Xác định vị trí đồn Đại Mang và địa danh A Lỗ xưa

Sách "ĐVSKT" (Tập 2 - bản in Nội Các Quan Bản (1697) - trang 60) có ghi: ..."ngày 20 hai vua tiến đánh Đại Mang Bộ. Tổng quản giặc Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Hôm đó, ta đánh bại giặc ở Tây Kết, giết và làm bị thương rất nhiều, chém đầu Nguyên soái Toa Đô. Nửa đêm Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hóa, hai vua đuổi theo nhưng không kịp, bắt được hơn 5 vạn dư đảng giặc đem về. Ô Mã Nhi chỉ còn một chiếc thuyền vượt biển trốn thoát".

Ở phần chú thích (của sách này) có ghi: "Đại Mang Bộ là tên bến trên sông Hồng nhưng chưa rõ ở đâu"...

Sách: "ĐVSK Tiền Biên" của sử gia Ngô Thì Sĩ (triều Lê Trung Hưng) - (được Ngô Thì Nhậm in vào năm 1800 - triều Tây Sơn) - có ghi: ...“vua cùng Thượng hoàng tiến quân đánh vào đồn Đại Mang. Tổng quản nhà Nguyên là Trương Hiển đầu hàng”...; nhưng sách này cũng không cho biết rõ bến Đại Mang nằm ở địa phương nào?

Sách: "Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII (Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm) - (NXB Khoa học XHHN 1975) - (trang 221 -222); đã cho chúng ta thấy rõ hơn về căn cứ Đại Mang Bộ trên đất A Lỗ; sách này ghi: "… Các cứ điểm của giặc (Quân nguyên) đóng dọc khúc sông Hồng chảy qua Hưng Yên ngày nay. Chiếm được phòng tuyến này, quân Trần có thể thực hiện việc cắt đứt con đường nối Toa Đô và Thoát Hoan, đồng thời có thể tiến đánh chiếm Thăng Long"….

Rõ ràng trận đánh đồn Đại Mang là một trận chiến then chốt, rất quan trọng. Nếu thắng trong trận này quân ta mới có thể đánh Tây Kết, Hàm Tử, Thăng Long được.

"Trong tháng 4 năm Ất Dậu, Hưng Đạo Vương đã đem quân tấn công đồn Đại Mang (A Lỗ). Đồn này nằm gần chỗ sông Hồng nối với sông Luộc; có lẽ đây là cứ điểm đầu tiên trên phòng tuyến của quân Nguyên trên sông Hồng nối với sông Luộc ngày nay. Viên tướng Nguyên giữ đồn này là Vạn Hộ Lưu Thế Anh đã phải rút chạy"… "Cũng  cùng ngày hôm đó và trong tháng 4 âm lịch, một loạt các đồn trại khác của giặc trên sông Hồng bị quân ta tấn công"…. ở Tây Kết, cửa Hàm Tử, Chương Dương và thành Thăng Long.

Theo Giáo sư Hà Văn Tấn: Sách "Kinh thế Đại điển tự lục" và sách "An Nam chí (Nguyên)" chép rằng: "Sông Hải Triều phân lưu từ sông A Lỗ, sông Hải Triều là sông Luộc. Vậy sông A Lỗ là đoạn sông Hồng chảy qua chỗ nối với sông Luộc. Do đó, chúng tôi (Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm) xác định đồn A Lỗ mà "Kinh tế Đại Điển Tự Lục" chép là ở gần chỗ này" (SDd) nhưng ông Hà Văn Tấn cũng không chỉ rõ được địa danh A Lỗ hiện nay nằm ở đâu?

Qua các tài liệu lịch sử, các thần tích thần sắc, tư liệu điền dã, chúng ta được biết trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285), vua quan và quân đội thời Trần đã từng phá đồn Đại Mang - A Lỗ bắt hàng tống binh Trương Hiển của giặc Nguyên - Mông. Hiện nay ở khu vực xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà còn tồn tại địa danh A Lỗ (Làng Nỏ) đã từng chứng kiến quân dân thời Trần tập kích để tiêu diệt quân Nguyên - Mông. Theo thần tích, thần phả và tư liệu điền dã do cụ Phạm Thám 97 tuổi, làng Xuân Lôi, Hồng Minh và các cụ già trong xã cho biết: Khu vực làng Thâm Động có lăng mộ và đền thờ 7 vị vua thời Trần. Trước đây đất làng Thâm Động nhìn sang là đến đò Hữu Bị (tỉnh Hà Nam) và một bên đất thuộc tỉnh Hưng Yên, một bên thuộc Thái Bình (cửa sông Phạm Lỗ - A Lỗ - ngày nay mà các tài liệu xưa thường gọi là cửa Tuần Vường). Ngày trước cả làng có 600 mẫu ruộng thì 300 mẫu giao cho đền Thái Lăng (nơi thờ vua Trần) và 300 mẫu giao cho dân làng cày cấy hàng năm đóng góp cũng tế ở đền Vua và không phải nộp thuế cho triều đình. Vì nằm sát bến sông, khi dòng nước bị thay đổi do bão lụt, triều dâng, dẫn đến đất bên Thâm Động bị lở và bồi sang Hà Nam, phần đất còn lại được cắt sang làng Phú Hiếu (trước đây có con sông Giai chảy từ cầu Lê - xã Tiến Đức qua thôn Phú Hiếu xã Độc Lập) đến làng Gạch (Cổ Trai - Hồng Minh) rồi chảy ra sông Trà Lý (ở cửa sông thuộc làng Phú Nha - Thâm Động). Qua nhiều lần vỡ đê do phù sa bồi vào nên cửa sông bị lấp; vì thế dòng sông bị uốn dòng chảy ra sông Tịnh (Tịnh Xuyên, gần UBND xã Hồng Minh ngày nay). Trước đây cánh đồng Lỗ thuộc vùng A Lỗ nằm sát cửa Phạm Lỗ (tức cửa A Lỗ); do đất bên bờ sông bị lở, dòng chảy lại bị nắn dòng nên đất A Lỗ bị lở và bồi sang phía bờ bên kia thuộc đất của huyện Lý Nhân (Hà Nam); hiện tại ở chân đê phía trong đồng còn lại nền của ngôi chùa Giỗ - chùa làng Lỗ. Tương truyền chùa được xây dựng sau chiến thắng Nguyên - Mông, nhằm để tưởng nhớ và giỗ trận những người chiến sĩ và nhân dân đã hi sinh khi đánh giặc ở đồn Đại Mang. Hiện tại trong nền đất của khu vực chùa Giỗ xưa, người ta đã tìm được những viên gạch, ngói thời Trần. Chùa Giỗ cách lăng đền Thâm Động khoảng 1km. Theo các tài liệu và các cụ già trong làng kể lại: làng A Lỗ (làng Nỏ) - trước đây do sông nắn dòng, lụt lội triền miên nên bị lở hết đất, dân làng viết đơn trình với vua nhà Nguyễn (triều vua Minh Mệnh): ..."Dân vô sở cư, thần vô sở hưởng, tử táng tại trung hà"... (Dân không có đất ở nên khi có người chết phải đem táng ở giữa sông). Sau đó triều đình nhà Nguyễn đã cắt ruộng công điền cho dân cư vào ở làng Đồng Lỗ (thôn Nỏ ngày nay). Trước đây khu vực này chưa có đê (hoặc nếu có cũng chỉ là đê thấp chủ yếu để ngăn nước dâng chứ chưa có đê kiên cố như sau này). Vào thời vua Minh Mệnh nước lụt dâng lên tràn khắp vùng. Đến thời vua Triệu Trị mới tổ chức đắp đê để ngăn nước triều dâng, phòng chống lụt bão".

Ngay gần cửa A Lỗ xưa, sau này nhà Trần đã xây dựng hành Cung Lỗ Giang để Khâm Từ  Hoàng Hậu về sống và tu hành ở đó. Một câu hỏi đặt ra liệu có phải xuất phát từ ý nghĩa của từ ghép: "Giang” là sông- và Lỗ là cửa sông A Lỗ thời Trần? Vì thế hành cung này mới có tên là Hành Cung Lỗ Giang. Rất có thể giả thiết trên là đúng.

Qua quá trình tìm hiểu các tài liệu và thực địa thị sát ở Sông Hồng, sông Luộc, cửa sông Tam Tỉnh, cửa Sông Phạm Lỗ cho thấy: Đoạn sông Luộc chảy đến gần sông Hồng thì tách nhánh (nhánh sông đó chảy sâu vào nội địa Thái Bình rồi đổ ra cửa biển Trà Lý (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) - ngã ba cửa sông này chính là khu vực cửa sông A Lỗ xưa (nay gọi là cửa Phạm Lỗ) - còn dòng chính sông luộc tiếp tục chảy khoảng 4 km - 6km thì gặp sông Hồng từ thượng lưu đổ về và tách nhánh (nhánh bị tách này gọi là sông Thái Bình - (dòng sông găn cách 2 tỉnh Thái Bình - Nam Định - nơi cửa ngã ba sông được gọi là cửa Tam Tỉnh (thuộc địa phận xã Hồng Lý, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, sông Thái Bình đổ ra biển qua cửa Ba Lạt).

 Điều đó hoàn toàn khớp với những gì mà Đại Việt sử ký toàn thư và "Kinh thể Đại Điển Tự Lục", "An Nam chí (Nguyên)" đã ghi và Giáo sư Hà Văn Tấn đã tìm hiểu, phân tích nhưng ông cũng chỉ dừng lại ở việc: xác định đồn Đại Mang (A Lỗ) theo "Kinh thể Đại Điển Tự Lục" chép là ở gần chỗ này: "Vậy sông A - Lỗ là đoạn sông Hồng chảy qua gần chỗ sông Hồng nối với sông Luộc" (Sđd).

Qua các tư liệu lịch sử và tư liệu điền dã cùng với các chuyến đi thực tế cho thấy: tại cửa sông Phạm Lỗ (thuộc địa phận làng A Lỗ xưa (nay là làng Nỏ - đồng Nỏ xã Hồng Minh) - từng có địa danh là bến Đại Mang; như vậy không còn nghi ngờ gì nữa phần lớn khu vực đồn Đại Mang xưa đã bị nước thủy triều, lụt lội tràn qua cuốn đi; qua các trận lụt kinh khủng vào thời các triều đại phong kiến trước đây như lời tấu của dân làng A Lỗ vào triều vua Minh Mạng: ...“dân vô sở cư, thần vô sở hưởng, tử táng tại trung hà”... chúng ta tin rằng Đại Mang Bộ (bến Đại Mang xưa) nơi có đồn của giặc Nguyên đóng trên đất A Lỗ chính là khu vực thuộc làng A Lỗ (làng Nỏ) xã Hồng Minh, Hưng Hà ngày nay. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, do sông đổi dòng và có sự lấn dòng nên nhiều khả năng khu vực đồn Đại Mang xưa đã bị lở và bồi sang đất Hà Nam ngày nay.

Upload

 

Tượng Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ở Nam Định (Ảnh: Ditichlichsuvanhoa)

2. Xác định địa điểm, bí mật tập kết quân áp sát đồn giặc của vua Trần và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nay thuộc địa phương nào?

Qua các tài liệu lịch sử, cho chúng ta biết khi quân đội nhà Trần bất ngờ tấn công căn cứ tiền tiêu A Lỗ của giặc Nguyên trên sông Hồng thì quân Nguyên trở tay không kịp và viên tướng Nguyên giữ đồn là Vạn Hộ Lưu Thế Anh đã vội vàng rút chạy; tướng Trương Hiển phải đầu hàng quân ta.

Một câu hỏi được đặt ra: để giữ được bí mật việc điều quân và áp sát đồn giặc thì nơi tập kết quân của Hưng Đạo Vương phải ở rất gần khu vực A Lỗ. Vậy địa điểm tập kết của vua và các tướng cùng quân đội nhà Trần ở đâu? Đây là câu hỏi không dễ gì giải đáp một sớm một chiều được.

Qua khảo sát ở các xã: Độc Lập, Chí Hòa, Làng Tịnh Xuyên, Hồng Minh, Bạch Đằng, Hồng Giang, Hồng Châu, Hồng Việt, Thăng Long v.v… đã cho chúng ta nhiều gợi ý quan trọng về địa điểm tập kết đóng quân của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trước khi tấn công quân Nguyên vào năm 1285.

Chúng ta đều biết, để chống lại sức mạnh của quân Nguyên với vũ khí quân nỏ, giáo dài, thiện chiến và hạn chế điểm mạnh của kỵ binh giặc; vua quan nhà Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã tận dụng tối đa địa hình sông ngòi chằng chịt của nước ta để khi lui có thể bảo toàn được lực lượng, khi tấn công có thể khiến giặc bất ngờ. Đúng như binh pháp của Hưng Đạo Vương đã chỉ rõ: "Lấy đoản binh để chế trường trận…, lấy ít địch nhiều…, lấy yếu thắng mạnh…".  Ở vào thời Trần như sử sách từng ghi: Quân dân thời Trần rất thiện chiến về đánh thủy với các chiến công: Hàm Tử, Chương Dương, cửa biển Đại Bàng và đỉnh cao là trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng.

Từ những suy nghĩ trên chúng tôi xác định địa điểm tập kết quân của Hưng đạo vương phải rất thuận tiện cả đường bộ và đường thủy và không thể không ở sát ven sông Trà Lý và gần khu vực làng A Lỗ - nơi có đồn Đại Mang của quân Nguyên được. Có gần mục tiêu như vậy mới tạo được yếu tố bất ngờ để quân thủy, bộ cùng áp sát tấn công địch ở căn cứ đồn Đại Mang trên đất A Lỗ.

Qua khảo sát ở xã Hồng Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; tiếp xúc với các cụ già trong làng được biết: tương truyền vào thời Trần: Hưng Đạo Vương đã đóng quân ở khu vực thuộc các xã Hồng Châu, Hồng Giang, Bạch Đằng,… ngày nay, để tấn công giặc Nguyên tại căn cứ đồn Đại Mang (thuộc đất A Lỗ); vì thế sau khi Người mất dân làng ở nhiều nơi trong vùng đã lập đền thờ để tướng nhớ tới Người. Tìm hiểu thực tế tại các địa danh nói trên, các con đường thủy, bộ ở trong xã Hồng Châu, Hồng Giang, Bạch Đằng, Hồng Việt, Hồng Minh,… đã cho thấy: Trước đây ở xã Hồng Châu có đền thờ Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn tại bến Đáy và đền thờ các vua Tiền Lý Nam Đế. Đền thờ tướng Trương Định (tên húy), (còn tên thật chưa rõ) thời Trần. Đáng tiếc các ngôi đền này đã bị phá vào năm 1962 - 1963. Hiện bài vị, ngai thờ của Đức thánh Trần đã được đưa về để trong một cung nhỏ tại chùa Bơn (Hồng Việt). Ngai thờ và bài vị của tướng Trương An Định được đưa về để ở miếu thờ Thổ Thần nằm sát sông bến Đáy thuộc xóm Đông Hương, thôn An Liêm (làng Bơn), xã Hồng Châu. Ở xã Bạch Đằng và một số xã quanh vùng hiện vẫn còn đền thờ Hưng Đạo Vương. Đáng chú ý ở các địa phương này còn lưu giữ tên của các địa danh (tướng truyền) có liên quan tới Hưng Đạo Vương và quân của người khi đóng quân, khi hành quân, tấn công căn cứ đồn Đại Mang trên đất A Lỗ. Đó là các địa danh: Cầu Quân (tương truyền xưa kia nhân dân bắc cầu tre cho quan quân nhà Trần đi đường bộ vượt qua cánh đồng Long Xà (Hồng Châu), Bạch Đằng, Chí Hòa, Hồng Minh  để bất ngờ tấn công căn cứ đồn Đại Mang. Ngoài ra còn có địa danh cống Ba Vạn (tương truyền nơi đây xưa kia là khu vực có 3 vạn quân và  thủy quân nhà Trần ém thuyền từ khúc sông (xã Hồng Giang), đến khu vực sông thuộc xã Hồng Châu và cửa Ba Vạn (xã Hồng Việt); để có thể ra sông Trà Lý (ở khu vực xã Hồng Giang hoặc Tịnh Xuyên (Hồng Minh). Trước đây trong khu vực các xã trên có con sông tên là sông Cửu Long, sông này có đường ra sông Diêm và cũng có đường ra sông Trà Lý. Nay con sông cổ xưa nhiều đoạn đã bị lấp vào năm 1980 để nhân dân trồng lúa. Khu vực xã Hồng Châu, Thăng Long, Bạch Đằng, Hồng Giang… là vùng đất cổ. Thời Nguyễn: làng An Liêm là xã An Liêm (thuộc tổng Vị Sĩ, huyện Thư Trì. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1950 - 1951); là An Liêm cùng với làng Hậu Trung, An Lộng, Vạn Di (Ri) thuộc xã Bạch Đằng, huyện Tiên Hưng; hiện nay An Liêm là một thôn của xã Hồng Châu. Qua các sắc phong và tư liệu tại chùa Bơn cho thấy vào thời Lý, chùa Bơn là nơi thiền sư Không Lộ thường tới đây tu hành và xây dựng chùa để làm nơi đi lại và tu hành cầu Phật. Theo các tài liệu và các tư liệu điều dã tìm hiểu được ở chùa Bơn thôn An Liêm và xã Hồng Châu cho thấy: Để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược vào vị trí tiền tiêu của giặc Nguyên vào mùa hè năm 1285; Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương đã điều quân theo đường sông Diêm bí mật tiến về áp sát phòng tuyến của quân Nguyên do Vạn Hộ Lưu Thế Anh chỉ huy đang trấn giữ căn cứ Đại Mang (A Lỗ) - với ý đồ ngăn chặn sự tiến công của quân ta từ sông A Lỗ, sông Luộc vào sông Hồng tới kinh thành Thăng Long. Để tạo yếu tố bất ngờ cho trận A Lỗ được toàn thắng. Hưng Đạo Vương đã cho đóng quân tại các làng ven sông (sông Trà Lý ngày nay) - (lợi dụng địa thế cây cối, rừng rậm um tùm để che giấu thuyền bè, lương thảo và quân lính). Trại Bơn là nơi gần căn cứ A Lỗ; nơi đây là địa điểm Hưng Đạo Vương hội các tướng; bến Đáy tương truyền là nơi Hưng Đạo Vương  đóng đại bản danh và cũng tiện cho việc quan sát, nắm tình hình giặc để đảm bảo cho việc tấn công bất ngờ, đánh chiếm A Lỗ; mở đường cho quân đội nhà Trần tiến theo sông Hồng đánh Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương và giải phóng kinh thành Thăng Long.

Qua khảo sát thực tế tại xã Hồng Châu cho thấy từ chùa Bơn có con đường đi sang xã Bạch Đằng (xã Bạch Đằng lại nằm sát sông Trà Lý). Trước đây ở khu vực các xã: Bạch Đằng, Hồng Việt, Thăng Long, Hồng Châu, Hồng Giang, Chí Hòa, … có nhiều nhánh sông chảy qua các xã nói trên mà nhân dân vẫn gọi là sông Cửu Long. Sau này quan Thượng thư Lương Quy Chính cho đào sông Sa Lung, cắt thẳng từ Chí Hòa, Hồng Việt, Thăng Long ra sông cầu Kim Bôi, rồi đổ ra sông Tiên Hưng. Hiện ở xã Hồng Châu, Hồng Giang, Bạch Đằng còn nhiều đoạn sông cụt đã bị lấp làm ruộng hoặc trở thành các ao, hồ, đó là khi đào sông Sa Lung thì sông Cửu Long bị cắt ra thành nhiều khúc, nhiều đoạn.

Sông Trà Lý, (đoạn chảy qua sát xã Hồng Giang ngày nay) - từ xưa vẫn có cửa sông (sau này mới làm cống) - chảy qua cầu Quân (xã Hồng Châu) lượn qua miếu thờ tướng Trương An Định (xã Hồng Châu), qua làng Bơn, làng Quán, qua đền thờ Hai Bà Trưng đến ngã ba Vạn (Hồng Việt) thì tách làm hai nhánh. Một nhánh chảy qua Chí Hòa, lên Tịnh Xuyên (xã Hồng Minh) và lại đổ ra sông Trà lý ở cửa cống Tịnh Xuyên. Còn nhánh kia từ ngã Ba Vạn (Hồng Việt) chảy qua Thăng Long ra sông Cầu (Kim Bôi) rồi đổ ra sông Tiên Hưng và chảy xuống cống Trà Linh (Diêm Điền) ra biển Đông.

Nếu tính từ điểm tập kết thủy quân của nhà Trần tại các xã thuộc Hồng Châu, Bạch Đằng, Hồng Việt, Hồng Giang thì từ cống Lấp (Hồng Giang) hiện nay theo đường chim bay đến cửa sông Phạm Lỗ (địa phận A Lỗ - Hồng Minh) chỉ 1 - 1,5km đường thủy. Còn nếu đi từ Hồng Châu theo đường bờ sông Trà Lý ngày nay thì khoảng 4km là tới điếm Yên Lại (xã Hồng Minh). Nếu theo đường bộ, từ vị trí chùa Bơn, bến Đáy (theo truyền thuyết) qua cầu Quân, qua thôn Quyết Thắng, qua cánh đồng Long Xà thuộc địa phận Hồng Châu, Bạch Đằng, Chí Hòa là tới cánh đồng xã Hồng Minh và tới làng A Lỗ (làng Nỏ - Đồng Lỗ ngày nay) - chỉ khoảng 1 - 1,5 km theo đường chim bay. Nếu tính đi đường bộ khoảng 3 - 4km là tới đồn Đại Mang trên đất A Lỗ xưa.

Qua các tư liệu lịch sử và tư liệu khảo cổ học, đã cho biết khi quân Nguyên đem quân thủy bộ tấn công Thiên Trường, 2 vua và quan quân chạy ra cửa biển Vạn An rồi không rõ đi về đâu. Điều này cho thấy có sự trùng khớp với căn cứ bí mật thời Trần trên đất Thụy Hồng (Thái Thụy); thực tế qua các tư liệu lịch sử, khảo cổ học... cho biết trong hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên (1285 và 1288) - Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã xây dựng căn cứ bí mật tại Thụy Hồng (Thái Thụy ngày nay). Điều đó rất có lý như các tài liệu lịch sử đã ghi: "Hai vua và các quan ra đến cửa biển Vạn An rồi không rõ đi về đâu"…Chúng tôi đặt giả thiết, rất có thể khi quân ta từ căn cứ bí mật Thụy Hồng theo đường thủy ra sông Diêm về khu vực sông Tiên Hưng và từ đó bí mật tập kết vào các xã ven sông sát căn cứ của địch (như: Hồng Giang, Bạch Đằng, Hồng Châu,…) rồi từ đó chia thành 2 đạo quân thủy bộ bất ngờ trong đêm tấn công căn cứ A Lỗ, hạ đồn Đại Mang (tuyến phòng thủ chiến lược đầu tiên của giặc Nguyên trên sông Hồng); mở đường cho các trận đánh tiếp theo trong cùng ngày 20, cùng tháng 4 âm: Tây Kết, Chương Dương, Hàm Tử và giải phóng kinh thành Thăng Long.

3. Tầm quan trọng của trận chiến hạ đồn Đại Mang - Mở đường cho chiến dịch giải phóng kinh thành Thăng Long (năm 1285)

Có thể nói trận Hạ Đồn Đại Mang triệt phá căn cứ tiền tiêu của giặc ở A Lỗ (Phạm Lỗ) - là trận đánh cực kỳ quan trọng của Hưng Đạo Vương. Với tư tưởng chiến lược, chiến thuật: biết người, biết ta, tránh thế địch mạnh, đánh lúc địch yếu; đem sức nhàn, thắng sức mỏi mệt của kẻ địch, vận dụng thế mạnh địa hình sông ngòi, đồng đất để linh hoạt vận động đánh địch. Chính vì thế quân đội thời Trần vận dụng linh hoạt chiến thuật áp sát mục tiêu lợi dụng địa hình chằng chịt sông ngòi, cây cối rậm rạp (ven sông Trà Lý xưa- thuộc các xã Bạch Đằng, Hồng Giang, Hồng Châu, Hồng Việt ngày nay). Để từ đó cơ động linh hoạt quân thủy, bộ; với địa hình này vừa dễ giấu quân lại vừa đảm bảo được yếu tố tấn công bất ngờ, khiến cho kẻ địch có nằm mơ cũng không thể ngờ rằng quân đội nhà Trần đang ở ngay sát lách chúng. Cuộc chiến nổ ra lúc gần sáng ngày 20 tháng 4 âm lịch, lại càng khiến cho quân địch bất ngờ hơn, đến nỗi Vạn hộ hầu Lê Thế Anh phải vội vàng tháo chạy không kịp chống chỗ. Tướng Trương Hiển, buông giáo xin hàng. (sau này Trương Hiển theo vua Trần Anh Tông đi đánh giặc Ai Lao và hy sinh tại trận).

Trận chiến Hạ Đồn Đại Mang trên đất A Lỗ là một trận đánh vô cùng quan trọng; nó mở đầu cho toàn bộ chiến dịch tổng phản công tiếp theo của quân đội nhà Trần, tấn công Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, giải phóng kinh thành Thăng Long, đánh đuổi Thoát Hoan và quân Nguyên phải tháo chạy về nước (1285).

Một vấn đề đáng chú ý đó là việc giữ bí mật tuyệt đối trong việc chuyển quân, áp sát đồn giặc của vua quan thời Trần ngày đó. Qua sự việc trên cho chúng ta thấy được Hưng Đạo Vương và các vua quan nhà Trần đã gắn bó mật thiết với nhân dân, các làng xóm, trang ấp trong vùng; nhờ đó không những chỉ được nhân dân ủng hộ mà việc giữ bí mật che mắt địch đã được quân dân thời Trần bí mật tuyệt đối cho đến khi trận đánh giành thắng lợi.

Bài học người chèo thuyền là dân, sức dân là sức biển; "Nương sức dân làm kế gốc rễ lâu bền", từ hội nghị Diên Hồng cho đến các trận đánh tập kích đồn Đại Mang, trận phục kích thuyền giặc trên cửa biển Đại Bàng, sau này là trận Bạch Đằng Giang, các vua quan nhà Trần và Hưng Đại Vương luôn vận dụng linh hoạt, sâu sắc tinh thần đoàn kết gắn bó với nhân dân và linh hoạt trong các chiến lược, chiến thuật đánh địch; vì thế với binh lực yếu hơn, đất nước nhỏ bé hơn, tiềm lực kinh tế yếu kém hơn kẻ địch nhưng Vương Triều Trần đã 3 lần đánh bại giặc Nguyên Mông - tên đế quốc hùng mạnh nhất trên thế giới vào thế kỷ thứ 13 như sử sách trong và ngoài nước vẫn từng ca ngợi.

 Phải chăng tư tưởng dựa vào dân, nương sức dân, đoàn kết với nhân dân của cha ông xa xưa là tiền đề cho tư tưởng quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu…, tình nghĩa quân dân như cá với nước mà Đảng ta, quân đội ta đã và duy trì thực hiện cho tới ngày nay.

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Hình tượng người đi đường và bài học triết lý về đường đời… (Đọc Tẩu lộ của Hồ Chí Minh, Ngữ văn 8, tập hai, Nxb Giáo dục) (10/6/2019)
Dạy học tích hợp Ngữ văn lấy văn bản văn học làm ngữ liệu đồng thời gắn liền với các vấn đề về giáo dục đạo đức học sinh (6/6/2019)
Tư tưởng đoàn kết - Một trong những nội dung cốt lõi của Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (6/6/2019)
Phát triển du lịch biển bền vững tại thị xã Cửa Lò Nghệ An (3/6/2019)
Biến đổi văn hóa trong gia đình cư dân vùng biển Cửa Lò qua chuyển đổi nghề nghiệp (3/6/2019)
Trường Tiểu học Pháp - Việt tại Vinh nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng theo học (3/6/2019)
Sứ mệnh hòa giải, hòa hợp dân tộc của văn chương nhìn từ phương diện văn hóa - nhân văn (Qua sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu) (21/5/2019)
Chính quyền cấp xã - Nhìn từ góc độ chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy (21/5/2019)
Tổ chức chính quyền làng xã dưới triều nhà Nguyễn (21/5/2019)
Toàn cầu hóa và các xu hướng phát triển của pháp luật (7/5/2019)
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Giá trị lịch sử và hiện thực (24/4/2019)
Tản mạn về làng phong Quy Nhơn (10/4/2019)
Địa danh A Lô và chiến thuật tấn công hạ đồn Đại Mang năm 1285 - Mở màn cho chiến dịch giải phóng Thăng Long của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn (27/3/2019)
"Dưới bóng hoàng lan" từ góc nhìn thi pháp học (22/3/2019)
Lễ hội đầu năm nhìn từ góc độ giới (22/3/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 258 | Tất cả: 1,738,819
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp