KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Tiểu dị trong đại đồng xứ Nghệ Kì 2: Tiểu dị về nhân văn trong đại đồng xứ Nghệ
Tin đăng ngày: 22/3/2019 - Xem: 75
 

 

PGS.TS Đào Khang

 Xứ Nghệ gồm Nghệ An và Hà Tĩnh, có nhiều nét tương đồng đến độ xưa nay ít người quan tâm tìm hiểu về sự khác biệt giữa 2 địa phương này. Thực tế, Nghệ An và Hà Tĩnh có nhiều khác biệt lớn, cả về tự nhiên và nhân văn. Về tự  nhiên, tuy Nghệ An và Hà Tĩnh cùng nằm trong một xứ “non xanh nước biếc” nhưng gần như tất cả hợp phần tự nhiên của hệ thống lãnh thổ này, từ địa thế, địa hình, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn đến thực vật (cả tự nhiên và cây trồng) đều không giống nhau (xem kì 1: Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An số 12/2018).

Về nhân văn, tuy chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều nhưng bước đầu cũng cho thấy có không ít khác biệt về dân tộc, tộc người thiểu số; về tính cách; về phong tục chôn cất người chết; trong vốn cổ ví giặm; trong lời ăn tiếng nói hằng ngày…

Nhân văn trong bài viết xin được hiểu, gồm: Con người (nhân) và Thành quả của con người (văn) trên lãnh thổ Nghệ An và Hà Tĩnh.

  1. Khác biệt về dân tộc thiểu số

1.1. Một số khái niệm về dân tộc, tộc người, nhóm (người) địa phương

Dân tộc ở đây được hiểu theo nghĩa: là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung nền văn hóa, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử (ví dụ như dân tộc Thái, dân tộc Kinh…) mà không hiểu theo nghĩa rộng hơn: là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước (ví dụ như dân tộc Việt Nam: sống trên lãnh thổ có biên giới được xác định và cùng chung một nhà nước được thế giới công nhận). Khái niệm dân tộc theo nghĩa này trùng với khái niệm quốc gia (nation): một cộng đồng chính trị - xã hội được quản lý bằng bộ máy nhà nước. Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (như­ trường hợp CHDCND Triều Tiên trước khi bị chia cắt). Phần lớn một quốc gia gồm nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc đông hơn và/ hoặc phát triển hơn.

Các khái niệm về dân tộc, tộc người, nhóm địa phương có thể hiểu theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

  1. Dân tộc

Dân tộc (nation) là từ dùng để chỉ một cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước. Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc. Thị tộc bao gồm các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống. Bộ lạc bao gồm những người cùng họ và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn. Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như­ ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức). Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau.

  1. Tộc người

Tộc người (ethnic) là một cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có đặc trưng chung ổn định về ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt văn hoá, có mối quan hệ nguồn gốc, có chung ý thức tự giác tộc người.

  1. Nhóm địa phương

Nhóm địa phương (localgroup) là kết quả của quá trình chia tách hay hợp nhất các tộc người, cho dù vì nguyên nhân địa lý, lịch sử, văn hóa hay tôn giáo, cũng dẫn đến sự hình thành những khác biệt đa dạng trong một tộc người, tạo thành một nhóm địa phương. Nhóm địa phương có tên gọi riêng. Được gọi là một nhóm địa phương khi họ tự nhận mình là một bộ phận của một tộc người nào đó, do có những quan hệ về lịch sử, về ngôn ngữ, về tập quán,…

Như vậy, một dân tộc thiểu số gồm một hoặc nhiều tộc người, nhóm người địa phương.

1.2. Khác biệt về thành phần các dân tộc thiểu số

Việt Nam có 54 dân tộc. Về số dân, người Kinh chiếm đa số, mỗi dân tộc khác chiếm thiểu số nên được gọi là dân tộc thiểu số; trước đây có lúc gọi là dân tộc ít người, nay không dùng nữa.

Các dân tộc thiểu số ở xứ Nghệ có sự khác biệt rất lớn giữa Nghệ An và Hà Tĩnh. (Dân tộc hay tộc người ở đây không bao gồm những người ở nơi khác lấy chồng/vợ hay làm con nuôi về Nghệ An hay Hà Tĩnh).

Nghệ An có nhiều dân tộc thiểu số, Hà Tĩnh chỉ có tộc người thiểu số.

1.2.1. Dân tộc thiểu số ở Nghệ An

Tiếp giáp với Nghệ An, phía Bắc là Thanh Hóa, phía Nam là Hà Tĩnh. Thanh Hóa có 4 dân tộc thiểu số là Thái, Mường, Mông, Dao. Hà Tĩnh chỉ có tộc người Mã Liềng sống tập trung thành bản, một số hộ gia đình dân tộc Thái và tộc người Cọi - Khạ Phong sống xen với người Kinh. Tất cả đều có số dân rất ít [5].

Nghệ An có 6 dân tộc nằm trong danh sách 54 dân tộc của Việt Nam. Dân tộc Kinh chiếm số dân đông nhất. Các dân tộc thiểu số là Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông và Ơ Đu (tính theo số dân giảm dần). Dân tộc Ơ Đu chỉ gồm một tộc người, các dân tộc Thái, Thổ, Mông gồm nhiều tộc người, nhóm người địa phương. Người Khơ Mú ở Nghệ An đông nhất cả nước [1].

1.2.1.1. Dân tộc Thái

Cộng đồng người Thái vào Việt Nam đầu tiên từ thiên niên kỷ 2 sau Công nguyên. Vào khoảng thế kỷ 11 và 12, người Thái từ miền Nam Trung Quốc ồ ạt vào Tây Bắc Việt Nam. Điểm dừng cuối cùng là Nghệ An.

Người Thái có nhiều nhóm. Các nhóm Thái ở Nghệ An gồm:

  1. Nhóm Tày Mường (Tày Chiềng/Hàng Tổng) là nhóm Thái đầu tiên vào Nghệ An. Do di cư từ Tây Bắc vào có tổ chức theo đơn vị Mường phìa nên vào Nghệ An họ mang theo tên gọi có ý nghĩa tự xưng là người Tày Chiềng/Tày Mường (người ở vùng trung tâm của Mường phìa). Nhóm Tày Mường đã lập làng bản ở Con Cuông và Tương Dương vào thế kỷ 13, 14.
  2. Nhóm Tày Mười có nguồn gốc ở Mường Muỗi, một vùng trung tâm của người Thái Đen ở xã Chiêng Pấc, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, di cư vào Nghệ An nửa đầu thế kỷ 15. Vào Nghệ An họ mang tên tự gọi quê hương, nhưng do tiếp xúc cách phát âm của các cư dân xung quanh nên “Muỗi” bị đọc chệch thành “Mười”.
  3. Nhóm Tày Thanh có nguồn gốc từ Mường Thanh, di cư vào Nghệ An khoảng hơn 200 năm nay.

Ngoài ba nhóm đông đảo nhất nói trên còn có nhóm Tày Khăng với số lượng ít hơn từ Mường Khăng (Lào) nay cư trú ở Kỳ Sơn và Tương Dương [6].

1.2.1.2. Dân tộc Thổ

Ở Việt Nam, người Thổ chỉ cư trú tại 2 tỉnh là Nghệ An và Thanh Hóa [7].

Người Thổ ở Nghệ An gồm 2 nhóm ở cách xa nhau về vị trí địa lí:

  1. Nhóm Kẹo, Mọn, Họ, Cuối: cư trú ở phía Bắc, tại các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp.
  2. Nhóm Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng: cư trú ở phía Nam, tại các huyện Con Cuông và Tương Dương.

(Về tộc người Đan Lai: Đây là tộc người còn có nhiều tranh luận về nguồn gốc, trong đó có ý kiến cho rằng Đan Lai có nguồn gốc là người Kinh ở xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương chạy nạn “100 cây nứa vàng và thuyền liền chèo” (do khuôn khổ bài báo nên xin phép không trình bày nội dung này). Tộc người này được chính quyền Nghệ An xếp vào diện được hưởng các quyền lợi như các dân tộc thiểu số khác ở Nghệ An (Quyết định số 1575/QĐUB ngày 25/7/1990 của UBND tỉnh Nghệ An). Các nhà dân tộc học Việt Nam đang xếp Đan Lai vào một nhóm địa phương thuộc dân tộc Thổ mà không xếp thành một dân tộc thiểu số [7].

1.2.1.3. Dân tộc Khơ Mú

Người Khơ Mú (Tày Hạy/Xá/Cấu/Mứn Xen/Pu Thầy) sinh sống tại các thung lũng, sườn núi thuộc 4 huyện Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn, Thanh Chương (địa bàn Thanh Chương là nơi tiếp nhận dân tái định cư năm 2005 từ lòng hồ Bản Vẽ huyện Tương Dương đến, gồm người Thái, người Khơ Mú và người Ơ Đu). Người Khơ Mú ở Nghệ An chiếm khoảng 50% số người Khơ Mú cả nước. Các cuộc khảo sát của chúng tôi không nhận được thông tin nào về các tộc người/ nhóm địa phương của người Khơ Mú ở Nghệ An.

1.2.1.4. Dân tộc Mông

Người Mông (H’Mông/Mèo Hoa-Mông Lềnh/Mán Trắng-Mông Đơ/Mạo/Ná Miêu) đến Việt Nam bằng 2 đường: qua Hà Giang và qua Lào Cai, theo 3 đợt đông nhất: 1. Đời nhà Minh; 2. Đời nhà Thanh (năm 1820); 3. Sau thất bại của phong trào “Thái Bình Thiên Quốc” (năm 1872).

Người Mông ở Nghệ An liên quan đến những người đi qua Lào Cai, gồm 2 nhóm là Mông Lềnh (các tên gọi khác là Mông Hoa, Mông Sỹ, Mèo Hoa) và Mông Đơ (các tên gọi khác là Mông Trắng, Mèo Trắng, Mán Trắng) [6].

1.2.1.5. Dân tộc Ơ Đu

Ở Việt Nam, người Ơ Đu (Tày Hạt) chỉ sinh sống tại huyện Tương Dương của tỉnh Nghệ An. Khi xây dựng hồ thủy điện Bản Vẽ, chính quyền Nghệ An đã cho di dời một số gia đình người Ơ Đu về khu tái định cư tại huyện Thanh Chương.

Trong số các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, người Ơ Đu có số dân ít nhất. Ơ Đu cũng là 1 trong 5 dân tộc có số dân ít nhất ở Việt Nam, cùng với các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Pu Péo và Si La [7], [8].

Người Ơ Đu không có một bản nào thuần tộc, ngôn ngữ giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày là tiếng Thái hoặc tiếng Khơ Mú. Hiện tại chỉ người già còn biết sử dụng tiếng nói của dân tộc mình trong hệ số đếm từ 1 đến 10 và một số từ cơ bản trong sinh hoạt, đời sống [6].

1.2.2. Dân tộc và tộc người thiểu số ở Hà Tĩnh

Hà Tĩnh có rất ít dân tộc thiểu số. Các tộc người từ phương Bắc thiên di vào Việt Nam đều dừng chân ở Nghệ An. Tộc người thiểu số phương Nam di dời đến Hà Tĩnh chỉ tập trung tại 1 bản. Một số ít người từ Lào sang hoặc chỉ ở lại thời gian ngắn, hoặc sống xen với người Kinh.

Theo Báo cáo công tác dân tộc 2010-2015 [14] và Báo cáo thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội và các nhiệm vụ chủ yếu hỗ trợ phát triển kinh tế dân tộc rất ít người giai đoạn 2016-2025 [15] của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thì “Hà Tĩnh có một số dân tộc thiểu số là Chứt, Thái, Mường, Lào sống ở các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê”. Về nội dung dân tộc thiểu số trong các bản báo cáo trên, chúng tôi xin có một số ý kiến như  sau:

1.2.2.1. Về dân tộc Chứt ở Hà Tĩnh:

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia “Người Chứt, còn gọi là người Rục, người Sách, người A Rem, người Mày, người Mã Liềng, người Tu Vang, người Pa Leng, người Xe Lang, người Tơ Hung, người Cha Cú, người Tắc Cực, người U Mo, là một dân tộc sinh sống tại trung Việt Nam và Lào. Tại Việt Nam người Chứt được công nhận là một trong 54 dân tộc Việt Nam [2], [7]. Một số tài liệu lại cho rằng: “7 tên gọi Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, A Rem, Xơ Lang (hay Xe Lang), U Mo dùng để chỉ 7 nhóm trong tộc người Chứt”. Trong bảng Danh mục các dân tộc ở Việt Nam, “người Mã Liềng cùng với các nhóm Sách, Rục, Mày, A Rem hợp thành dân tộc Chứt, địa bàn cư trú chỉ có ở Hà Tĩnh và Quảng Bình” [10].

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chứt ở Việt Nam có 6.022 người, cư trú tại 23 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, tập trung tại các tỉnh: Quảng Bình (đông nhất, chiếm khoảng 85% tổng số người Chứt tại Việt Nam), Đắk Lắk, Lâm Đồng, Hà Tĩnh (ít nhất) [1]. Mã Liềng là một trong những tộc người lạc hậu và kém phát triển nhất hiện nay ở Việt Nam. 

Như vậy, các tài liệu và kết quả khảo sát thực tế nhiều đợt của chúng tôi đều thấy: ở Hà Tĩnh chỉ có tộc người Mã Liềng thuộc dân tộc Chứt. Vì vậy, nếu nói “ở Hà Tĩnh có dân tộc Chứt” là chưa chính xác. Các đợt khảo sát của chúng tôi tại bản Rào Tre: nhân dân, chính quyền địa phương và bộ đội biên phòng ở đây cũng khẳng định điều này.

1.2.2.2. Về dân tộc Thái ở Hà Tĩnh:

Theo nghiên cứu thực tế của chúng tôi tại xã Sơn Kim 2 (2004, 2008, 2017), các cụ già ở đây cho biết: cách nay 3-4 đời (?), một số gia đình người Thái ở huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An di cư/chạy nạn làm đường cho người Pháp ở Việt Nam sang Lào, sau đó  trở về Việt Nam thì lạc sang đất Hà Tĩnh và định cư tại xã Sơn Kim 2, huyện Hương Sơn cho đến ngày nay. Các gia đình này thuộc 2 dòng họ: họ Vì (có nguồn gốc họ Vi ở Nghệ An) và họ Lò (có nguồn gốc họ Lô ở Nghệ An).

1.2.2.3. Về dân tộc Mường ở Hà Tĩnh:

 Người Mường, còn gọi là người Mol, Mual, Moi, Moi Bi, Au Tá, Ao Tá, là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa [3], [9]. Người Mường ở Việt Nam theo kết quả điều tra dân số năm 2009 là 1.268.963 người [1]. Khảo sát thực tế của chúng tôi về các dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh cho thấy người Mường hoàn toàn không có ở Hà Tĩnh [5]. Nghệ An cũng không có dân tộc Mường [6], [7].

1.2.2.4. Về dân tộc Lào ở Hà Tĩnh:

Theo nghiên cứu thực tế của chúng tôi năm 1978 tại xã Hương Vĩnh và các năm 2004, 2008, 2017 tại các huyện Hương Khê và Hương Sơn thì ở Hà Tĩnh có tộc người thiểu số tự nhận là người Cọi-Khạ Phong ở bản Giằng 2, xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê có quan hệ với người Bru (?) bên Lào. Tộc người này sống khu vực dọc biên giới Việt-Lào thuộc huyện Hương Khê. Những năm 1970-1980, họ qua lại biên giới tự do, trao đổi hàng hóa với người Việt tại một số chợ xung quanh thị trấn Hương Khê, rất ít khi ở lại lâu. Hiện tại, có một số gia đình ở huyện Vũ Quang nhận họ có nguồn gốc từ Lào nhưng họ không còn nhớ tiếng mẹ đẻ nên chúng tôi cũng không xác định được họ thuộc Lào Lùm(1), Lào Thơng(2) hay Lào Sủng(3). Cũng có thể họ thuộc 1 dân tộc khác ở Lào không liên quan đến 3 dân tộc thiểu số ở Nghệ An. Bởi CHDCND Lào là quốc gia đa dân tộc(4). Chúng tôi chỉ so sánh được 3 dân tộc Lào có tiếng nói gần giống với  3 dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ phương Bắc thiên di đến Nghệ An là Thái, Khơ Mú và Mông mà thôi. 

1.3. Khác biệt về địa bàn cư trú của dân tộc thiểu số

1.3.1. Địa bàn/lãnh thổ cư trú của các dân tộc thiểu số ở Nghệ An

Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An chiếm khoảng 14% dân số, sống tập trung khu vực đồi núi phía Tây rộng lớn thuộc thị xã Thái Hòa và 10 huyện miền núi: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kì, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kì Sơn và gần đây là Thanh Chương (từ lòng hồ Bản Vẽ của huyện Tương Dương đến tái định cư). Dạng địa hình đồi núi ở Nghệ An chiếm hơn 85% diện tích tự nhiên của tỉnh (trong đó có một số nằm rải rác khu vực đồng bằng).

1.3.2. Địa bàn/lãnh thổ cư trú của tộc người thiểu số ở Hà Tĩnh

Người thuộc dân tộc thiểu số sống thành cộng đồng riêng ở Hà Tĩnh, chỉ có tộc người Mã Liềng sống ở bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê. Bản Rào Tre có tọa độ địa lí: 18°02’19”B-18°03’34”B và 105°43’38”Đ-105°44’22”Đ. Phía Bắc giáp khu vực sinh sống của người Kinh ở xã Hương Liên. Phía Đông Bắc giáp sông Ngàn Sâu. Phía Nam giáp rừng phòng hộ thuộc quản lí của lâm trường Hương Khê, gần với huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Phía Tây giáp xã Hương Lâm, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh [5].

Theo Báo cáo công tác dân tộc 2010-2015 [14] và Báo cáo thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội và các nhiệm vụ chủ yếu hỗ trợ phát triển kinh tế dân tộc rất ít người giai đoạn 2016-2025 [15] của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thì bản Rào Tre có 30 gia đình với 118 người, năm 2016 có 41 gia đình với 146 người. Tháng 2/2017, điều tra thực tế tại bản Rào Tre của chúng tôi, vẫn là 30 hộ và 146 người [5].

1.4. Khác biệt về nguồn gốc các dân tộc thiểu số

Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An có nguồn gốc bản địa hoặc từ phương Bắc thiên di xuống nhưng dừng lại ở Nghệ An mà không đi tiếp về phía Nam.

Nguồn gốc bản địa có: Dân tộc Ơ Đu chỉ sống ở Nghệ An. Dân tộc Thổ chỉ sống ở Nghệ An và Thanh Hóa (nguồn gốc của dân tộc Thổ còn cần nghiên cứu tiếp).

Nguồn gốc từ phương Bắc thiên di đến có các dân tộc Thái, Mông, Khơ Mú.

Các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An quen sống du canh du cư nhưng chỉ quanh quẩn ở Nghệ An, có xuất cư thì cũng chỉ sang Lào, không sang Hà Tĩnh.

Hà Tĩnh không có dân tộc hay tộc người thiểu số có nguồn gốc bản địa mà chỉ có tộc người Mã Liềng có nguồn gốc từ phía Nam lên. Người Mã Liềng cũng quen sống du canh du cư nhưng từ Quảng Bình tiến lên phía Bắc cũng chỉ dừng lại ở Hà Tĩnh, cách xa địa giới của Nghệ An.

Kết quả là Nghệ An hoàn toàn không có các dân tộc/tộc người từ phía Nam lên. Hà Tĩnh không có các dân tộc/tộc người từ phía Bắc thiên di trực tiếp xuống.

  1. Những khác biệt khác

2.1. Khác trong vốn cổ ví, giặm

Trong cái nôi Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ngoài một số thể loại có chung cả ở Nghệ An và Hà Tĩnh như: Ví phường đan, tiêu biểu ở Nghi Lộc (Nghệ An) và Thạch Hà (Hà Tĩnh); Ví phường bện vòng, tiêu biểu ở Kì Anh (Hà Tĩnh), Diễn Châu (Nghệ An); Ví phường chắp gai đan lưới (ở các vùng ven biển cả Nghệ An và Hà Tĩnh), Ví phường róc cau, Ví phường lau mía, Ví phường gặt, Ví đò đưa, Ví phường nốc (thuyền), Ví phường buôn, Ví phường củi, Ví phường cỏ..., còn có một số thể loại tiêu biểu cho từng tỉnh: Ví phường vải (tiêu biểu ở huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An), Ví phường nón (tiêu biểu ở các huyện Nghi Xuân, Kì Anh, Thạch Hà của tỉnh Hà Tĩnh) (Tài liệu chép tay của cố PGS. Ninh Viết Giao, tác giả bài viết đang có).

2.2. Khác về tính cách

Ở một số lĩnh vực, người Hà Tĩnh quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề xã hội. Năm 1983, Việt Nam thực hiện chủ trương kế hoạch hóa gia đình, vận động người dân hạn chế sinh đẻ. Từ đó tỉ suất sinh thô của cả nước trong đó có Bắc Trung bộ giảm mạnh. Năm 1989, tỉ suất sinh thô của cả nước 30,1‰, của Bắc Trung bộ là 32,6. Năm 2012, tỉ suất sinh thô của cả nước là 16,9, của Bắc Trung bộ là 17,6, cao nhất là Nghệ An 19,3; thấp nhất là Hà Tĩnh 16,3[12].

Năm 2012, Việt Nam có chủ trương lấy ý kiến của người dân góp ý đề sửa đổi Hiến pháp và sửa đổi Luật đất đai năm 2003. Nhân dân Hà Tĩnh đã rất nhiệt tình đóng góp ý kiến, sôi nổi nhất cả nước. VTV hồi đó nhiều lần đưa tin về tinh thần này của nhân dân Hà Tĩnh, nhất là đóng góp về Luật đất đai.

Năm 2015, trước sự kiện hải sản chết hàng loạt, một ngư dân Hà Tĩnh đã mạnh dạn lặn sâu xuống biển để tìm ra đầu ống xả nước thải của nhà máy thép khu công nghiệp Vũng Áng, phát hiện sự cố môi trường Formosa rúng động cả nước, lan ra cả thế giới.

Năm 2017, trong một cuộc phỏng vấn, GS. Phong Lê có nhận xét: “Nói chung, người Nghệ có nhiều nét đặc trưng như kiên cường, dũng cảm, yêu nước, có tinh thần cách mạng cao, chăm chỉ, chịu khó, phóng khoáng, thẳng thắn, trung thành... Đặc trưng nhất của người Nghệ là hiếu học, là gàn, là ngông, dựa trên nền tảng tài năng và tử tế, được người các vùng khác rất quý trọng. 

Sự khác nhau lớn nhất là người Nghệ An tính kiên cường hơn, mạnh mẽ, thẳng thẳn quá nên nhiều khi dễ rơi vào cực đoan, cứng nhắc. Đức tính này là thế mạnh trong các cuộc cách mạng khi người dân sẵn sàng hy sinh để tranh đấu, nhưng trong quá trình xây dựng, cần sự kiên trì nhẫn nại thì lại gặp khó khăn.

Do vậy, người Nghệ An làm cách mạng giỏi hơn, có nhiều lãnh tụ cách mạng. Trong khi đó, người Hà Tĩnh mềm mại, nhẹ nhàng hơn và có nét uyển chuyển hơn. Họ vẫn kiên trì con đường mà họ lựa chọn nhưng cách làm thì khéo léo hơn, vì vậy mà người Hà Tĩnh giỏi làm trong các lĩnh vực văn hóa hơn, có nhiều người thành công trong hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật hơn” [11].

2.3. Khác về phong tục chôn cất người chết

Hầu hết người Nghệ An chôn cất người chết 2 lần: hung táng và cát táng. Hung táng là chôn người mới chết lần 1 bằng hòm gỗ. Mộ hung táng có hình ô van hay hình chữ nhật vát các góc. Mộ hung táng ngày trước không có mộ chí (do người nhà thường hay qua lại thăm nom nên không sợ thất lạc). Ngày nay mộ hung táng có gắn mộ chí ghi tên, ngày tháng năm sinh và mất của người chết. Cát táng là sau một thời gian chôn hung táng, đợi cho đến khi phân hủy hết phần thịt thì cất lên, chỉ lấy phần xương bỏ vào tiểu bằng sành rồi đem chôn lần 2 và là lần cuối cùng. Trường hợp phải di chuyển thì cất lên rồi giữ nguyên hiện trạng của tiểu sành, đem đi chôn nơi khác. Mộ cát táng hình tròn, phía chân có đặt mộ chí ghi tên tuổi người chết. Mộ cát táng ngày xưa đắp bằng đất, ngày nay thường được xây gạch, ốp gạch men, đá các loại. Nơi chôn hung táng gọi là nghĩa địa, nơi chôn cát táng gọi là nghĩa trang hay lăng. Thông thường, mộ hung táng được chôn ở nghĩa địa chung của cộng đồng, mộ cát táng được chôn tại nghĩa trang riêng của dòng họ hay của gia đình.

Hầu hết người Hà Tĩnh chỉ chôn một lần (giống như những người theo Thiên Chúa giáo và đồng bào các tỉnh phía Nam của Việt Nam).

2.4. Khác trong sử dụng từ ngữ

Ở xứ Nghệ dòng văn hoá bác học và dân gian đều rất phong phú, đa dạng. Giọng nói là thông tin đầu tiên và ấn tượng nhất của con người xứ Nghệ. Về thanh điệu, giọng người dân xứ Nghệ “nặng”, có phần trúc trắc, nhiều nơi không có sự phân biệt giữa thanh có dấu ngã và dấu nặng. Khi 2 từ liền nhau cùng dấu hỏi hoặc dấu hỏi đi liền với dấu ngã thì thường phát âm sai: cửa sổ phát âm thành cựa sổ, cửa ngõ phát âm thành cựa ngọ hay cựa ngõ (cựa ngọ chi mà bẩn ra ri).

Về vốn từ, so với các phương ngữ khác của tiếng Việt, còn bảo lưu khá nhiều yếu tố của ngôn ngữ Việt cổ hay tiền Việt-Mường. Theo Nguyễn Đổng Chi (1995), khi nghe hát giặm Nghệ Tĩnh, có “chất chứa một cái gì chất phác của con người thời cổ hay của con người ở chốn rừng núi mà cuộc sống còn giản đơn và cách biệt”. Tuy nhiên trong phương ngữ xứ Nghệ cũng một số khác biệt như là những ốc đảo thổ ngữ. Do yêu cầu hạn chế về dung lượng, trong bài viết  này, chúng tôi chỉ đưa ra một số ý kiến rút ra từ kết quả nghiên cứu bước đầu của chúng tôi về một số khác biệt trong cách dùng từ ngữ của người Nghệ An và người Hà Tĩnh, thể hiện ở một số chi tiết:

2.4.1. Khác nhau do ảnh hưởng theo chiều Bắc-Nam ở khu vực đồng bằng

Nghệ An có một số địa phương dọc Quốc lộ 1A ở các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành phát âm đúng các từ có thanh ngã như người Bắc bộ. Hiện tượng này không có ở Hà Tĩnh.

Hà Tĩnh có một số khu vực giáp với Quảng Bình sử dụng một số từ phổ biến ở các tỉnh từ Quảng Bình trở vào. Người Kì Anh, khu vực Lâm-Sơn-Thượng-Lạc gọi cha đẻ là “bọ”, dùng từ “đọa” để chỉ sự mệt mỏi quá mức. Nghệ An không có nơi nào sử dụng các từ này.

2.4.2. Khác nhau do ảnh hưởng của người thiểu số ở khu vực miền núi

Chưa thấy có nghiên cứu nào công bố về chi tiết này. Chúng tôi mạnh dạn đưa ra nhận định rằng: Có thể là do ảnh hưởng của thổ ngữ tộc người mà Nghệ An (các tộc người sống vùng đầu nguồn chủ yếu là từ phương Bắc xuống) và Hà Tĩnh (các tộc người sống vùng đầu nguồn chủ yếu là người Kinh và người Mã Liềng từ phía Nam lên) sử dụng một số danh từ khác nhau để chỉ cùng một sự việc, một hiện tượng.

Người Nghệ An gọi các sông nhánh đầu nguồn của sông Lam là “nậm”: Nậm Nơn, Nậm Mô, Nậm Giải, Nậm Chông,...

Người Hà Tĩnh gọi các các sông nhánh đầu nguồn của sông Lam là “ngàn” để chỉ sông lớn và “rào”để chỉ sông nhỏ. Đồng thời “ngàn” cũng dùng để chỉ “rừng”; “rào” có khi lại được dùng để chỉ núi.

Như  vậy, có thể thấy, trong trường hợp này, người Nghệ An dùng 1 danh từ để chỉ 1 sự vật; trong khi người Hà Tĩnh dùng 1 danh từ để chỉ nhiều hơn 1 sự vật. Ví dụ:

-  Danh từ “ngàn”:

+ Người Nghệ An chỉ dùng để nói đó là “rừng”: lên ngàn là lên rừng; đại ngàn là rừng lớn/rừng rậm/rừng nguyên sinh.

+ Người Hà Tĩnh, vừa để chỉ “sông lớn”:  Ngàn Sâu, Ngàn Phố, Ngàn Trươi,... vừa để chỉ “rừng” như người Nghệ An.

- Danh từ “rào”:

+ Người Nghệ An chỉ dùng để nói đó là khe, suối (qua một con rào: qua một cái khe).

+ Người Hà Tĩnh:

* Rào = Núi: Rào Cọ (đỉnh cao nhất của dãy Hoành Sơn 2.235m).

* Rào = Sông: Rào Cái (sông Ngàn Mọ), Rào Nậy (phần thượng lưu sông Gianh trong địa phận Hà Tĩnh), Rào Trổ (phụ lưu sông Gianh trong địa phận Hà Tĩnh).

Trong đề thi môn Ngữ Văn 7, thuộc kỳ thi khảo sát chất lượng học kỳ II năm học 2014-2015 của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lộc Hà có câu hỏi 1 điểm yêu cầu dịch hai câu thơ sau bằng tiếng địa phương sang tiếng phổ thông: Mô rú mô ri mô nỏ chộ/ Mô rào mô bể chộ mô mồ. Theo ông Phan Thanh Dân, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Lộc Hà, đáp án của câu này là: “Đâu núi đâu non đâu chẳng thấy/Đâu sông đâu biển thấy đâu nào”. Từ “rào” dịch sang tiếng phổ thông là “sông”.

2.4.3. Khác trong sử dụng một số từ, cụm từ

Rất khó để tìm ra sự khác nhau trong các tập quán sinh hoạt, cư trú và sản xuất của cư dân xứ Nghệ sống 2 bên bờ sông Lam, nhất là vùng hạ du. Ra xa khỏi khu vực đó, sự khác nhau mới xuất hiện và càng ra xa có phần rõ nét hơn.

Cũng rất khó để tìm ra những từ mà chỉ người Nghệ An dùng, người Hà Tĩnh không dùng và ngược lại. Tuy nhiên cũng có một số từ mà bên này hay bên kia dùng nhiều hơn. Ví dụ:

Nội dung

Người Nghệ An hay dùng

người Hà Tĩnh ít dùng

Người Hà Tĩnh hay dùng

người Nghệ An ít dùng

Bữa ăn phụ

Ăn nửa buổi

Ăn cộ chè (cỗ)

Bấy nhiêu thôi

- Từng nớ thôi, từng nớ chơ mấy.

- Bấy cớ (Một số xóm ở xã Diễn Bích-Diễn Châu)

- Từng nớ thôi, từng nớ chơ mấy.

 

Bố

Bố, Cha,…

- Bố, Cha,…

- Bọ (Một số  xã ở Kì Anh)

Dây cao su đèo hàng

Dây cao su

- Dây cao su

- Chạc địu

Đại từ ngôi I số ít

- Mình, tui,…

- Nha (vùng Yên Thành)

Mình, tui,…

Cối giã gạo

Cối  đạp

- Cối đạp

- Trày đạp

Mệt quá

Liệt

- Liệt

- Đọa (Một số  xã ở Kì Anh)

Đu đủ (cây, quả)

Đu đủ (thủ đủ)

- Đu đủ (thủ đủ)

- Dầu

- Thia thia (một số xóm ở xã Đức Ninh-ĐứcThọ)

Giặt giũ

Giặt

- Giặt

- Xắt

Mẹ tôi

Mẹ mình

- Mẹ mình

- Mẹ va (một số xã ở Thạch Hà, Lộc Hà)

Ngủ trưa

Ngủ trưa

Ngủ bày

Nhựa cây

Mủ cây

Mét

Nhờ vả (làm việc gì)

Mượn/nhờ

Mạn (ăn có mời mần có mạn)

Nói

Nói

- Nói

- Phô (nhủ nghe phô cứ).

Rát (đau)

Rát

- Rát

- Tát (kéo tát cả tay: kéo rát/đau cả tay)

Vợ chồng

Vợ chồng

- Vợ chồng

- Mụ ông (vùng Hương Sơn)

Vứt bỏ

Vứt đi, Quăng đi

Cút (cút cho ngái: vứt cho xa. Vùng Thạch Hà)

Béo khỏe

- Béo khỏe (con trai: đô con)

- Úc (Làng Quang Trung xã Long Thành-Yên Thành. (Làng này còn có các tên khác: Rú Đất, Quần thần)

- Béo khỏe (con trai: đô con)

 

Yếu

- Yếu

- Ươn

- Yếu

- Hèn (mắc cục hèn: do yếu mà làm không nổi)

 

 2.4.4. Khác trong sử dụng một số phụ âm:

Người Nghệ An ít nơi nói sai các từ có chữ cái đầu là phụ âm “s”, “ch”, “th” như người Hà Tĩnh:

- Đọc s thành tr:

+ Năm ni bác trồng mấy trào khoai? Năm nay bác trồng mấy sào khoai?

+ Trâu ăn hết rau cải rồi: Sâu ăn hết rau cải rồi.

- Đọc ch thành tr: Trừa đến tra: Chừa đến già, cạch đến già.

- Đọc th thành s: Xa nhà sèm nác chè: Xa nhà thèm nước chè.

2.5. Khác trong sử dụng các thể loại dân ca, tục ngữ vào cuộc sống:

Ngoài một số ca dao, thành ngữ, tục ngữ,... cho đến nay vẫn khó phân biệt có xuất xứ từ Nghệ An hay Hà Tĩnh thì một số khác có địa chỉ khá rõ ràng. Người Hà Tĩnh hay bông đùa hơn người Nghệ An khi nói về cái gì đó liên quan đến địa danh “Nhất cao là đỉnh Ba Đồn, Lắm hươu Rú Đọ, to l... Chợ Voi”;  “Nón Ba Đồn, l… Đức Thọ”,... Người Nghệ An thường dùng các câu thành ngữ, tục ngữ, phương ngôn để thể hiện tri thức địa lí dân gian mang sắc thái địa phương rõ rệt: Mây ấp núi Xước, hứng nước cho mau (vùng Quỳnh Lưu), Khi mô rú Quyết có mây, Cửa Lò có chớp ngày rày hẳn mưa (vùng Nghi Lộc), Bao giờ Đại Huệ mang tơi, rú Đụn đội nón thì trời hẳn mưa (vùng Nam Đàn), Đất Thọ Lang lắm cam, nhiều quýt, đất Rú Mít cả quýt lẫn bòng (vùng Thanh Chương). Một số địa phương có hẳn những bài ca nói về địa đồ, địa dư từng địa phương, như bài Địa đồ Nhượng Ban, Địa dư Phù Lưu (50 câu), Địa dư Quỳnh Lưu (134 câu),... (Nguyễn Đổng Chi, 1995).

Kết luận

Những nhận định trong bài viết có phần mâu thuẫn với nhận xét của một số nhà nghiên cứu văn hóa về một xứ Nghệ đại đồng tuy hai mà một “Nếu xét về mặt quản lí hành chính thì chia làm hai cũng có mặt thuận tiện. Nhưng xét về mặt văn hoá thì gộp làm một lại hợp lí hơn,...” [4]. Theo chúng tôi, trong xứ Nghệ có sự khác biệt, cả tự nhiên và nhân văn. Nghệ An chịu tác động rõ rệt các đặc điểm từ phía Bắc xuống, trong khi Hà Tĩnh phần nào chịu ảnh hưởng từ phương Nam lên. Mong là sẽ có thêm một hội thảo, chí ít một diễn đàn về xứ Nghệ…

 

Chú thích

  1. Lào Lùm: Người Lào Lùm theo nghĩa chữ là “người Lào ở vùng đất thấp” có tiếng nói giống tiếng Thái ở Nghệ An.
  2. Lào Thơng: nghĩa chữ là “người Lào ở vùng trung du”, có tiếng nói giống tiếng Khơ Mú ở Nghệ An.
  3. Lào Sủng: Lao Soung, còn viết là Lao Sung, có tiếng nói giống tiếng Mông ở Nghệ An.
  4. Theo “Laos. Ethnologue”, truy cập 15/10/2015: trên đất nước Lào có 160 nhóm dân tộc sử dụng 82 ngôn ngữ riêng biệt. Trong điều tra dân số năm 1995, chính phủ Lào công nhận 149 nhóm dân tộc trong 47 dân tộc chính. Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước (LFNC) gần đây đã sửa thành 49 dân tộc với hơn 160 nhóm dân tộc.

Tài liệu tham khảo

  1. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội 6/2010. Biểu 5, tr.134-225.
  2. Ban Dân tộc tỉnh Hậu Giang 2012. Các dân tộc Việt Nam. Trang thông tin điện tử Truy cập 01/04/2017.
  3. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam 2016. Người Mường. Truy cập 01/04/2017.
  4. Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận. Các vùng văn hóa Việt Nam. NXB Văn học 1995.
  5. Đào Khang và nnk. Khảo sát, điều tra điền dã cùng sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các năm 2004, 2008, 2017.
  6. Đào Khang. Địa lí Nghệ An. NXB Thông tin-Truyền thông 2014.
  7. Nguyễn Văn Huy. Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam. NXBGD 2005.
  8. Internet. Top 5 Dân tộc ít người nhất nước ta. 19-04-2018.
  9. NXB Thông tấn xã Việt Nam. Người Mường ở Việt Nam. Hà Nội 2008.
  10. Nguyễn Văn Mạnh (1996). Người Chứt ở Việt Nam. NXB Thuận Hoá, Huế.
  11. Phong Lê. Cần nhìn nhận đúng đặc trưng, cá tính của người Nghệ. Báo Nghệ An 04/06/2017
  12. Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê Việt Nam năm 2012. NXB Thống kê 2013.
  13. Trang web Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
  14. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2016). Báo cáo công tác dân tộc 2010-2015.
  15. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2016), Báo cáo thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội và các nhiệm vụ chủ yếu hỗ trợ phát triển kinh tế dân tộc rất ít người giai đoạn 2016-2025.
KHXHNV & Đời sống khác:
Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về ý thức tôn trọng nhân dân (10/6/2019)
500 năm trước Việt Nam đã thu thuế tàu buôn nước ngoài trên vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa (6/6/2019)
Hoàng Sa - Trường Sa thời vua Quang Trung (6/6/2019)
HUYỀN THOẠI THÁP CHĂM BÌNH ĐỊNH: Ngàn năm còn một chút nầy (5/6/2019)
Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo - Bài học từ đất nước Phần Lan (3/6/2019)
Tubudd - Câu chuyện của khởi nghiệp (3/6/2019)
Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng mới (3/6/2019)
Xây dựng nhân cách người Nghệ An cho các con trong gia đình Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan (3/6/2019)
Ảnh hưởng của Phật giáo đối với giới trí thức phong kiến Đại Việt (21/5/2019)
NHỮNG ĐIỀU LẠ Ở DI CHÚC CỦA BÁC HỒ (16/5/2019)
Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng thay đổi cơ cấu kinh tế (15/5/2019)
Tóm tắt tiểu sử Nguyên Chủ tịch nước - Đại tướng Lê Đức Anh (3/5/2019)
Đại tướng Lê Đức Anh và tấm lòng với Nghệ An (3/5/2019)
Nối tiếp tinh thần đại thắng mùa Xuân 1975 (24/4/2019)
Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, mãi mãi tự hào của dân tộc ta (24/4/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 231 | Tất cả: 1,738,792
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp