NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Lễ hội đầu năm nhìn từ góc độ giới
Tin đăng ngày: 22/3/2019 - Xem: 60
 

Minh Hải

Upload

 

Lễ hội đền Vạn   (Ảnh: Minh Hiền)

      Mùa xuân đến, chúng ta bước vào một năm mới bằng hàng loạt các lễ hội truyền thống nổ ra rầm rộ ở nhiều địa phương. Lễ hội làm cho không khí thật sự mùa xuân, mùa của sự bắt đầu. Nhà nhà, người người kéo nhau đi lễ hội, đi cầu phúc, cầu an, cầu tài, cầu lộc, cầu duyên, và đi chơi xuân. Đó đều là những nhu cầu cần được nhìn nhận khách quan. Và ai cũng có quyền được trải nghiệm qua lễ hội theo cách riêng của mình. Nhưng như một chút bệnh nghề nghiệp, một số người lại lựa chọn một góc nhìn để hiểu thêm về lễ hội. Và, khi chấp nhận điều đó, việc xem xét lễ hội dưới góc độ giới sẽ là một sự lựa chọn khá vị. Bản thân lễ hội thì không có giới tính, nhưng chủ thể (có góc độ nào đó là cả khách thể) đã vô hình trung tạo ra tính giới cho lễ hội. Có những lễ hội thiên về sức mạnh, về hướng ngoại (nam tính) nhưng cũng có những lễ hội thiên về sự mềm dẻo, khéo léo và hướng nội (nữ tính).

Mùa lễ hội và “Văn hóa tháng Giêng”

     Chắc hẳn không cần phải bàn nhiều về khái niệm hay đặc trưng của lễ hội, bởi điều đó sẽ trở nên dư thừa khi nó đã được quá nhiều nhà nghiên cứu bàn luận và được đưa vào nhiều mục từ trong các từ điển. Có điều, hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì lễ hội vẫn là một sinh hoạt văn hóa vô cùng quan trọng với các cộng đồng người Việt, và phổ biến nhất vào dịp đầu năm mới. Nói đến sự phổ biến của lễ hội cũng như vai trò của lễ hội trong cuộc sống xã hội, chúng ta có thể phần nào nhận thấy qua một vài số liệu, sẽ cố gắng trấn tĩnh để không bị ngạc nhiên. Theo thống kê của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch thì hiện tại Việt Nam có 7.966 lễ hội, như vậy trung bình mỗi ngày có 22 lễ hội diễn ra, tức là hơn 1 giờ đồng hồ thì có một lễ hội. Phải ghi nhớ có những lễ hội kéo dài vài ba ngày. Nói về số lượng du khách trung bình tham gia các lễ hội lớn phải kể đến: Lễ hội Đền Hùng (Phú Thọ) có 7-8 triệu lượt khách, Lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang) có khoảng 2,5 triệu lượt khách, Lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh) có khoảng 2 triệu lượt khách, Lễ hội Chùa Hương (Hà Nội) có 1,5-2 triệu lượt khách, Lễ hội Núi Bà Đen (Tây Ninh) có khoảng 1,5 triệu lượt khách… Điều đó cho thấy lễ hội là một sinh hoạt văn hóa rất phổ biến ở Việt Nam(1).

 Upload

Thống kê lễ hội ở Việt Nam hiện nay (nguồn laodong.vn)

    Nghệ An, vốn là một vùng văn hóa lâu đời nên lễ hội cũng rất phổ biến. Là một địa phương đa tộc người với nhiều nền văn hóa như văn hóa Kinh, văn hóa Thái, văn hóa Khơ Mú, văn hóa Mông, văn hóa Thổ, văn hóa Ơ Đu… Mỗi cộng đồng ở mỗi địa phương lại có những sắc thái đặc trưng riêng, tạo nên một vườn hoa văn hóa tộc người, văn hóa cộng đồng đa sắc sặc sỡ. Hiện nay trong tỉnh có hàng trăm lễ hội truyền thống hàng năm, trong đó có hàng chục lễ hội nổi tiếng trước đã bị mai một, nay được phục hồi như các lễ hội đền Cuông (Diễn Châu), đền Cờn (Quỳnh Lưu), đền Quả Sơn (Đô Lương), đền Vua Mai (Nam Đàn), đền Bạch Mã (Thanh Chương), đền Hồng Sơn, chùa Sư Nữ (thành phố Vinh)… Miền núi phía Tây có các lễ hội Xăng Khan, Hang Bua (Quỳ Châu), đền Chín Gian (Quế Phong), đền Vạn (Tương Dương)… Gần đây tỉnh còn xây dựng nên một số lễ hội mới mang sắc thái hiện đại như Lễ hội làng Sen (19-5), lễ hội sông nước Cửa Lò (30/4 - 1/5), Lễ hội uống nước nhớ nguồn (27-7),… Phần lớn các lễ hội thường gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa ở các địa phương. Theo thống kê, Nghệ An cũng có hơn 1.700 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 125 di tích cấp quốc gia và 104 di tích cấp tỉnh, là một hệ thống di tích hấp dẫn, có sức hút lớn đối với du khách như Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Truông Bồn, đền thờ Vua Quang Trung… Tất cả những điều đó cũng tạo nên một không khí lễ hội vô cùng sôi động cho con dân đất Nghệ. Cũng như nhiều vùng khác trong cả nước, mùa xuân, nhất là trong tháng Giêng, là thời điểm có nhiều lễ hội nhất được tổ chức ở rất nhiều địa phương trong tỉnh. Lễ hội trở thành một yếu tố văn hóa quan trọng trong sinh hoạt văn hóa ở Nghệ An.

    Nhiều lễ hội quan trọng ở Nghệ An diễn ra ngay sau dịp tết Nguyên Đán. Theo lịch pháp thì tết Nguyên Đán thể hiện một đặc trưng về cách tính lịch của người phương Đông. Học giả Nguyễn Văn Huyên từng viết: “Mỗi tháng bắt đầu vào một ngày của tuần trăng mới. Và năm cũng khởi đầu tuần trăng mới đầu tiên tiếp theo lúc mặt trời rời khỏi chí tuyến Nam, là dấu hiệu sau cùng của ba dấu hiệu mùa đông. Như vậy, tết vừa là sự vận hành của cả mặt trời và mặt trăng”(2). Ông giải thích chữ “tiết Nguyên Đán” là “những buổi rạng đông của sự khởi đầu”(3). Nói như vậy để thấy rằng, tết Nguyên Đán là giao mùa, giao thời. Theo lý lẽ đó, có thể nói tháng Giêng là tháng của sự mở đầu: Đầu mùa, đầu thời, đầu năm và đầu tiên. Vậy nên, với mỗi một gia đình, tháng Giêng cần mở đầu cho nhiều thứ, và cũng cho tất cả những việc quan trọng của một năm mới. Trong quan niệm về giới thì nữ/cái mới là sự khởi đầu, là chủ thể trực tiếp sản sinh thông qua việc phối hợp với nam/đực. Và điều đó phần nào giống với việc chuẩn bị cho sự khởi đầu trong gia đình của người phụ nữ. Phần lớn các gia đình truyền thống, một ngày mới bắt đầu với công việc của người phụ nữ. Họ là người thức dậy đầu tiên, chuẩn bị bữa sáng và nhiều thứ cho hoạt động của một gia đình trong một ngày mới. Một năm cũng vậy, tháng Giêng, người phụ nữ cũng thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho cuộc sống và công việc của gia đình trong một năm mới. Đặc biệt về cuộc sống tâm lý, niềm tin hay về một chiến lược bảo vệ gia đình ở nhiều mặt trong năm đó. Có thể tạm gọi là “Văn hóa tháng Giêng”, văn hóa của sự chuẩn bị. Mà bắt đầu là sự chuẩn bị về niềm tin, về tâm lý và cả tâm linh. Và trên phương diện giới, vai trò của người phụ nữ trở nên nổi trội hơn trong “văn hóa tháng Giêng” này. Nếu như những người đàn ông coi tháng Giêng là “tháng ăn chơi” thì với phụ nữ, đó là “tháng bắt đầu”, “tháng chuẩn bị”. Không phải/chỉ chuẩn bị cho cá nhân họ, mà chuẩn bị cho cả gia đình, nhất là về tâm lý, về đời sống tâm linh. Tất nhiên, nói vậy không phải coi nhẹ vai trò của người đàn ông, nhất là trong việc thực hiện các công việc quan trọng của gia đình. Vấn đề này sẽ được phân tích rõ hơn trong phần tiếp theo.

Tham gia lễ hội nhìn từ góc độ giới

      Liệu có một kết cấu nào đó về giới dành cho lễ hội hay không? Tôi nghĩ là có. Ít nhất là trên phương diện nhận thức. Đây không phải là kết quả của sự phân chia giới một cách tự nhiên, mà là hệ quả của các quá trình tương tác văn hóa cũng như sự chuyển dịch trong đời sống văn hóa tinh thần. Tất nhiên, ở góc độ nào đó còn là kết quả của quá trình đấu tranh cho bình đẳng giới của xã hội. Có lẽ câu chuyện này hơi cảm quan, nhưng trong khoa học xã hội, không phải cái gì định tính cũng không có giá trị và cái gì cứ định lượng thì nghĩa là đáng tin hơn. Cảm quan cũng quan trọng, nhất là trong những vấn đề văn hóa nhạy cảm, dễ tạo cảm xúc cho những người trong cuộc. Vậy, kết cấu giới trong lễ hội là như thế nào?

     Trên bình diện tổng quan, người Việt theo chế độ phụ hệ nên người đàn ông có vai trò như là làm chủ gia đình, nhất là trong việc thực hành các nghi lễ liên quan đến tổ tiên cũng như các nghi lễ liên quan đến đời sống cộng đồng. Trong các nghi lễ nông nghiệp, đàn ông vẫn làm chủ lễ. Điều đó thể hiện rất rõ ràng trong các lễ hội truyền thống ở các làng. Trong các nghiên cứu về lễ hội dân gian ở các vùng khác nhau đều ghi nhận vai trò chủ lễ của đàn ông. Có nhiều nghi lễ coi trọng sự cân bằng âm dương, nhưng dù gì đi nữa thì cũng có sự thống trị của nam giới trong việc tổ chức nghi lễ. Nói cách khác, phần lễ trong nhiều lễ hội truyền thống gắn với vai trò và vị thế của người đàn ông. Nhưng ở góc độ khác, phần hội - một phần quan trọng của lễ hội lại cởi mở hơn nhiều khi mà cả đàn ông và phụ nữ đều có thể tham gia một cách thoải mái hơn. Thậm chí, có khi, phụ nữ đi chơi hội còn nhiều hơn cả nam giới. Nhưng xét trên phương diện đứng ra tổ chức và thực hành nghi lễ trong lễ hội, thì đàn ông vẫn chiếm vị thế quan trọng hơn và thường xuyên làm chủ lễ.

    Trên góc nhìn khác về không gian thiêng trong quá trình tổ chức các lễ hội truyền thống. Tính giới trong sự phân chia không gian thiêng và các điều cấm kỵ cũng liên quan đến tính chất của các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau và các sinh hoạt văn hóa khác nhau. Trong các tín ngưỡng dân gian gắn liền với nhiều lễ hội như thờ các thần linh có công sáng tạo, thờ Thành Hoàng làng, thờ tổ nghề, thờ cúng các nhân vật có công với cộng đồng hay thờ các anh hùng dân tộc vốn là công việc được cộng đồng quan tâm và có hội đồng làng xã đứng ra tổ chức. Những lễ hội này cũng gắn với các không gian thiêng như đền thờ, đình làng, miếu thờ,… Và trong lễ hội còn có phần đón rước. Những không gian này có sự phân biệt giới tính và đẳng cấp cao nhất. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã ghi nhận rằng, sự phân biệt giới tính trong không gian thiêng trong xã hội truyền thống là vô cùng nghiêm ngặt. Dân gian có câu: “Đàn ông vui thú tại đình, đàn bà vui thú tại chùa” như là để chỉ sự phân biệt đó. Đình, đền là những nơi linh thiêng mà ít người phụ nữ dám vào và được vào. Đó là nơi thờ phụng, cũng là nơi “phái mạnh” bàn chuyện lớn, chuyện quốc gia đại sự. Vào đó đã khó, đụng chạm vào các vật thiêng trong đình, đền lại còn bị cấm kỵ nghiêm ngặt hơn đối với phụ nữ. Những đồ vật linh thiêng trong đình, đền đều như mặc định “xa tầm tay người phụ nữ”. Khi phải lau rửa các đồ vật này người ta vẫn lựa chọn những người con trai sạch sẽ, khỏe mạnh thực hiện. Một sự thật mà tôi được biết đến ở quê mình mà đến nay vẫn nhớ mãi. Quê tôi có một ngôi đền nổi tiếng là đền Hữu (thờ Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Hoan, nay thuộc xã Thanh Yên, huyện Thanh Chương). Khoảng từ 1990 trở về trước, chỉ có những người đàn ông mới được vào đền để thắp hương dâng lễ. Những người phụ nữ thôn quê, đi làm ruộng làm đồng qua đền chỉ dám nhìn vào chứ ít ai dám vào phía trong xem nó thế nào. Thậm chí chỉ tay vào trong đền cũng được coi là kỵ và ít người làm điều đó. Họ còn dạy con nhỏ rằng không được chỉ tay vào tượng, vào nhà đền vì nếu làm vậy về nhà sẽ đau tay… Những điều đó phần nào cho thấy đình, đền thật sự là không gian thiêng rất cấm kỵ với phụ nữ. Chùa thì ngược lại, dù cũng là một không gian thiêng nhưng nó gần gũi với người phụ nữ hơn. Phụ nữ đi lễ chùa, đi hội chùa phổ biến hơn và họ gắn liền với nhiều sinh hoạt văn hóa ở chùa hơn. Đó phần nào xuất phát từ bản chất của Phật giáo. Điều này sẽ được phân tích cụ thể hơn trong một phần sau của bài viết.

    Mặt khác, cũng cần phải nhìn nhận lại sự biến đổi của đời sống xã hội để xem xét sự phân biệt giới trong lễ hội. Thực chất, ngoài việc phân biệt khá gay gắt trong việc thực hành các nghi lễ quan trọng liên quan đến đời sống tâm linh thì gần như không có quy định nào phân biệt giới tính, nhất là trong phần hội của lễ hội. Người phụ nữ cũng đi chơi hội nhiều và thậm chí chưa chắc tỷ lệ đã thấp hơn đàn ông ở một số lễ hội. Nhưng nhìn chung, trong xã hội truyền thống, người phụ nữ vẫn mang gánh nặng công việc gia đình. Dịp tết rồi đầu năm, bao nhiêu việc gia đình phần lớn đều do người phụ nữ lo liệu. Trong khi người đàn ông đi tham gia lễ hội, đi vui chơi ăn uống, cờ bạc hay thi thố ở các cuộc chơi, thì người phụ nữ vẫn gắn với một loạt các công việc gia đình. Không mấy gia đình cấm phụ nữ đi chơi hội. Nhưng đó là chuyện sau khi hoàn thành các việc nhà. Mà một ngày ngắn ngủi, xong việc cũng hết ngày. Hôm sau lại là một vòng việc nhà khác. Cứ thế, thời gian dành cho họ đi tham gia lễ hội, tham gia các sinh hoạt văn hóa cộng đồng ít hơn.

      Tính giới trong lễ hội cũng thay đổi theo thời gian và không gian văn hóa khác nhau. Ở Nghệ An, sau cải cách văn hóa, nhiều đình đền bị phá hủy. Theo thống kê thì từ năm 1960 đến hết những năm 1980 Nghệ An đã phá hủy mất 1.076 đình, đền và chùa. Cùng với nó là rất nhiều lễ hội truyền thống bị mất mát và nhiều di sản văn hóa cũng bị mai một. Trong thời gian gần đây, các di tích được phục hồi hay xây mới nhiều, nhất là chùa và đền, nhưng đình thì vẫn còn rất ít. Các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trong đó có nhiều lễ hội truyền thống cũng thay đổi. Việc tổ chức lễ hội chủ yếu do chính quyền địa phương quản lý và điều hành. Các tổ chức dân sự trong làng xã cũng ít hoạt động và ngày càng mất dần vai trò trong đời sống xã hội, nhất là trong các sinh hoạt đời sống tín ngưỡng, vốn là lĩnh vực mà trước đây thuộc trách nhiệm của họ. Khi tổ chức các lễ hội, việc thảo luận kế hoạch và cách thức tổ chức cũng được diễn ra ở trụ sở ủy ban mà ít khi ở các không gian thiêng như trước. Bên cạnh đó, đình, đền không còn là không gian thiêng quá cấm kỵ nghiêm ngặt với người phụ nữ. Như trường hợp ở đền Hữu đã đề cập ở trên lại thay đổi nhanh đến kỳ lạ. Nếu trước đây, người phụ nữ không dám, không được vào đền làm lễ, thậm chí còn không dám chỉ tay vào đền thì trong khoảng hơn mươi năm trở lại đây, số lượng phụ nữ đến đền thắp hương làm lễ vào ngày mồng 1 và rằm hàng tháng lại tăng lên nhanh chóng. Nhất là trong bối cảnh đàn ông trong vùng đi xa làm ăn thì phụ nữ thường đi đền thắp hương lễ Thánh cầu an, cầu phúc cho cả nhà. Người phụ nữ cũng được giải phóng công việc gia đình nhiều hơn, lại có sự tự lập về kinh tế hơn nên nhu cầu đi du xuân, đi lễ hội cũng lớn hơn. Và thực tế, trong các đoàn du khách đi lễ hội hiện nay, phụ nữ lại có phần chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới. Ở các cơ quan đoàn thể, các nhóm, hội phụ nữ rủ nhau đi lễ hội, đi du xuân nhiều hơn so với nam giới. Phần nhiều đàn ông đi lễ hội là đi cùng gia đình, rất ít khi dăm bảy người đàn ông tụ tập nhau lại đi lễ hội. Nhưng điều đó lại diễn ra khá phổ biến đối với phụ nữ. Phải chăng, kếu cấu giới của lễ hội đang thay đổi?

      Có rất nhiều lý do làm thay đổi tính giới trong lễ hội, và nó nằm trong một quá trình chuyển biến các giá trị văn hóa mà rộng hơn là sự chuyển biến trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Chúng ta chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường hiện đại và đa dạng, chuyển từ chế độ phụ hệ sang xã hội mà quyền bình đẳng giới được đảm bảo rõ ràng hơn, chuyển từ xã hội sản xuất năng suất thấp sang một xã hội tiêu thụ mà nhu cầu về tinh thần của con người tăng nhanh hàng ngày. Nó làm cho quyền và năng lực tiếp cận của đàn ông và phụ nữ gần ngang nhau. Bên cạnh đó, những bức tường rào cản văn hóa cũng được xóa bỏ đi nhiều, người phụ nữ được giải phóng hơn. Tất cả những vấn đề này đều có ảnh hưởng đến sự thay đổi kết cấu giới trong việc tham gia các lễ hội. Nhưng đàng sau hay vượt lên trên đó, là vấn đề tâm lý giới trong đời sống tín ngưỡng nói riêng và đời sống tinh thần nói chung. Xin phân tích một vấn đề cụ thể, đó là vấn đề phụ nữ với Phật giáo, một vấn đề được thể hiện rõ ràng trong kết cấu giới tham gia lễ hội khi số lượng phụ nữ đi lễ chùa đầu năm chiếm tỷ lệ cao hơn đàn ông nhiều lần.

Phụ nữ với Phật giáo và chuyện đi lễ chùa đầu năm

       Hoạt động văn hóa nổi bật nhất của những người phụ nữ trong tháng Giêng là đi chùa lễ Phật cầu an, cầu phúc cho gia đình. Trong văn hóa Việt, chùa luôn là nơi đến gần gũi với phụ nữ. Người phụ nữ lựa chọn đi chùa để đáp ứng nhu cầu tâm lý, tâm linh và đời sống tinh thần của mình, vừa để giảm tránh những khó nhọc, mất mát, thua thiệt trong cuộc sống hàng ngày, vừa tìm nơi chia sẻ với bạn bè, với phật tử. Chính vì vậy nên dễ dàng nhận ra trong các đoàn người đi lễ chùa, dù dịp lễ tết hay ngày thường thì phụ nữ vẫn chiếm phần lớn hơn.

     Trong tháng đầu năm, nhiều người phụ nữ tham gia đi lễ chùa. Theo một thống kê sơ bộ trên báo chí, hiện nay Nghệ An có 55 ngôi chùa lớn được Giáo hội Phật giáo quan tâm và có quyết định nhà sư trụ trì quản lý, thu hút hơn 50 ngàn phật tử thường xuyên đi lễ. Con số này có lẽ còn khiêm tốn bởi bên cạnh đó thì có hàng vạn người vẫn đi lễ chùa nhưng họ chưa nhận mình là phật tử. Phụ nữ chiếm một tỷ lệ áp đảo trong số người đi lễ chùa. Đặc biệt, ở các vùng có nhiều ngôi chùa cổ, vốn là những nơi Phật giáo phát triển khá lâu đời như ở TP. Vinh, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương,… thì số lượng phụ nữ đi chùa càng nhiều hơn. Nhiều vùng ở Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Vinh, nhiều người phụ nữ còn tập hợp thành các nhóm bạn đi chùa, không chỉ thường xuyên lên chùa gần nhà lễ phật mà dịp đầu năm còn tổ chức thuê xe để cả nhóm cùng đi hành hương qua nhiều chùa khác nhau. Đầu năm, người ta lên chùa để làm lễ cầu phúc, cầu an, cầu tài, cầu lộc cho cả gia đình. “Việc đi chùa lễ là rất tốt, nhất là đối với những người phụ nữ đã khá lớn tuổi. Sau bao năm vất vả lo cho gia đình, giờ mình cần được nghỉ ngơi, đi chùa để cho tinh thần thoải mái, nhẹ nhàng, không phải giận hờn, cáu gắt với con cháu. Tôi và những người bạn trong nhóm bạn đi chùa của mình thường xuyên tham gia đi làm từ thiện với nhà chùa, đọc kinh niệm Phật để cầu an yên cho cả gia đình. Hay nhiều khi, chỉ đơn giản là lên chùa để người mình cảm thấy an yên, nhẹ nhõm, tránh được sự bon chen, ồn ào của cuộc sống, cũng là tránh được nhiều bệnh tật, tránh tai biến…” (Phụ nữ, 62 tuổi, Yên Thành).

    Trong một cuộc khảo sát nhỏ với 73 người phụ nữ độ tuổi từ 18 đến 70 ở Vinh và Yên Thành thì có 61 người đi lễ chùa vào tháng Giêng (chiếm 84%), trong đó có 47 người thường xuyên đi chùa, còn lại mỗi năm chỉ đi lễ chùa 1-4 lần. Xét về nghề nghiệp, những người làm nghề buôn bán, kinh doanh tự do là đi chùa nhiều nhất, sau đó là các viên chức nhà nước (cả đang làm việc lẫn về hưu) rồi đến những người khác. Về mục đích, hầu hết lên chùa làm lễ đều để cầu an, cầu phúc cho gia đình, một số còn thêm cầu tài, cầu lộc, một số chỉ lên chùa vãn cảnh. Điểm chung là hầu hết đều đi theo các nhóm. Nhiều người già thường chọn đi lễ chùa ở gần nhà và đi thường xuyên hơn. “Già rồi nên đi chùa cho thanh thản. Giờ các việc nặng không làm được nữa, nên đi chùa để cho bản thân thoải mái hơn, vừa cầu mong Đức Phật phù hộ, che chở cho con cháu, gia đình được bình an, hạnh phúc. Nhất là trong tháng Giêng thì càng nên lên chùa lễ Phật, cầu cho gia đình cả một năm bình an vô sự” (Phụ nữ, 69 tuổi, Yên Thành). Tất nhiên, hiện nay, đi chùa không chỉ là thói quen của mỗi người già. Nhiều bạn trẻ cũng lựa chọn đi lễ chùa vào dịp đầu xuân: “Đi chùa mình thấy thoải mái hẳn. Quanh năm buôn bán, chạy đôn chạy đáo khắp nơi, bon chen với cơm áo, với công việc, có lúc được, có lúc mất nhưng luôn phải lo lắng. Chỉ có vào chùa thì thấy mình nhẹ nhõm hơn. Vậy nên hàng tháng vẫn đi lễ chùa. Tháng Giêng thì mình đi hầu hết các chùa trong tỉnh mà mình biết đến, để cầu mong cả gia đình được một năm may mắn, hạnh phúc” (Phụ nữ, 21 tuổi, TP. Vinh). Lý giải về nguyên nhân làm cho chùa chiền và Phật giáo trở nên gần gũi với phụ nữ hơn, TS Đặng Hoàng Giang(4) cho rằng có 4 nguyên nhân chính: (1). Phụ nữ thuộc về nhóm yếu thế trong xã hội và nhìn chung dễ tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi nên họ luôn cần tôn giáo bảo hộ cho đời sống tinh thần của mình, cho gia đình mình và những người mình yêu thương; (2). Trước 1945, đình nghiễm nhiên là nơi độc quyền của nam giới, còn chùa đền là không gian của nữ. Nữ gần gũi với chùa từ lâu đời và chùa cũng mang tính nữ nhiều hơn các không gian thiêng khác; (3). Nữ giới thường có xu hướng quan sát và cảm nhận cuộc sống bằng cảm xúc, còn nam là lý trí. Nên nữ dễ đồng cảm với đạo Phật hơn nam vì nếu thiếu đức tin, cảm xúc thì ko thể theo đạo Phật được; (4). Ở Việt Nam, nữ đi tu và thuyết pháp nhiều. Công nghệ đã mang tiếng nói của họ đến nữ giới nhiều hơn nên thu hút được nhiều người tham gia. Trong khi đó, với cái nhìn theo chiều sâu hơn, PGS.TS Hoàng Thị Thơ(5) phân tích cụ thể hơn: Về tâm lý, tâm linh, phái nữ yếu đuối hơn nam nên dễ sợ hãi, và sợ hãi đủ điều, hay nghĩ vẩn vơ và lập trường ko vững chắc… Ai nói gì cũng nghe theo, hay làm theo phong trào, kể cả khi không hiểu gì. Chẳng hạn, khi chưa có gia đình riêng, còn ở cùng cha mẹ thì con gái hay theo mẹ, theo bà lên chùa hơn là con trai. Lớn lên một chút, đi học và khi vướng mắc chuyện tình cảm riêng tư ở tuổi thanh nữ hầu như không có tư vấn đặc biệt nên cũng theo bạn bè lên chùa cầu xin, van vái về chuyện học hành và cầu duyên. Đây là một mảng tâm lý của thanh thiếu niên bị gia đình, nhà trường và cả xã hội bỏ trống, mà các em phải tự mò mẫm... Đến được với nhà chùa tốt là một may mắn vì trong giáo lý Phật giáo cũng có đôi chút hướng dẫn về làm chủ cái Tâm và phân tích nguồn gốc của mọi đau khổ là do Vô minh (ngu dốt) mà nảy sinh Tham, Sân, Si nên tự mình chuốc lấy khổ... Song khi đến với nhà chùa, nhiều cô đã theo luôn Phật giáo và trở thành tu sĩ... khi thấy vào đó có thể trốn được (chưa hẳn là giải quyết được) bế tắc của cuộc sống. Về vai trò người phụ nữ, khi đến với nhà chùa, người phụ nữ có cơ hội thể hiện được đầy đủ hơn vai trò giới nữ của họ đối với xã hội theo nguyên tắc “Tích Thiện” của Phật giáo. Đó là họ có cơ hội thể hiện tình thương yêu, bao che, đùm bọc về tâm linh cho các thành viên trong gia đình. Hơn nữa, họ có thể tham gia làm từ thiện cho xã hội mà nhà chùa (đại diện) tổ chức (như làm chấp tác, giúp nhà chùa những ngày Sóc, Vọng hay giỗ Tổ..., tham gia truyền bá lợi ích ăn chay, phát cháo từ thiện tại các bệnh viện, đi thăm và giúp đỡ học trò nghèo và bà con các vùng bị thiên tai)... Điều này giúp người phụ nữ cảm thấy mình có ý nghĩa tích cực hơn trong gia đình và xã hội. Có thể nói Phật giáo bày vẽ cho người phụ nữ biết thể hiện vai trò tích cực (thiên tính) nhưng không dạy họ đòi hỏi gì từ xã hội và gia đình, nên hầu như khi đến với nhà chùa họ không hề bị ai phản đối, hay bêu xấu... Thật bình yên khi họ vẫn là họ, và cả gia đình và xã hội đều chấp nhận điều họ làm ở chùa là tốt, là Thiện! Về kinh tế, người phụ nữ tìm thấy cộng đồng chia sẻ kinh tế với họ dễ dàng hơn: khi thiếu thốn nhà chùa sẵn sàng cưu mang, chia sẻ, dù là bữa cơm chay hay giúp việc trong chùa. Khi làm ăn được ít thì họ tự nguyện, tùy tâm đóng góp một chút “dầu đèn” cho nhà chùa, hoặc có thể đóng góp để làm chuông chùa, sửa cổng chùa, chống dột mái chùa,... mà không có quy định bắt buộc nào cả. Về nghệ thuật, Phật giáo hướng đích vào nội tâm nên cả văn học, hội họa và kiến trúc đều có vẻ không ồn ào, mà hoài cổ, chia sẻ sự chiêm nghiệm nên khi chị em đến với Phật giáo họ cũng dễ dàng được chia sẻ, thậm chí có thể tự thể nghiệm. Đặc biệt trong các lễ hội làng thường gắn liền với trung tâm văn hóa làng là Đình và Chùa. Nhiều môn chơi có tính nghệ thuật dân gian được thêm vào nội dung và các loại hình nghệ thuật của lễ hội (nấu ăn, ẩm thực, đặc sản, làng nghề... dân ca...) và rất cần sự góp mặt của chị em thanh nữ cũng như các nghệ nhân nữ lớn tuổi. Như vậy, phụ nữ đi chùa đầu năm là một hoạt động mà họ hướng đến nhiều giá trị. Ngoài cầu phúc cầu an cho gia đình, họ cũng muốn khẳng định giá trị bản thân, được thể nghiệm cũng như về cuộc sống nội tâm…

Sự cộng hưởng

      Nói cho cùng, lễ hội là sự cộng hưởng. Cộng hưởng giữa thế giới thần linh với thế giới trần tục, giữa người trong cuộc với người ngoài cuộc, giữa các cộng đồng với nhau, giữa các cá nhân với nhau, và giữa cả chính bản thân người tham gia với họ tức là sự trải nghiệm. Lễ hội là những sinh hoạt văn hóa truyền thống quan trọng của cộng đồng. Trải qua những giai đoạn khác nhau, lễ hội cũng có sự thay đổi nhất định, trong đó có sự thay đổi với tính giới. Con người đến với lễ hội, với đời sống tâm linh bằng nhiều tâm thế khác nhau, và hầu hết đều mang theo những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống (tính Thiện) mà phụ nữ với Phật giáo là một ví dụ. Nhưng không phải khi nào con người cũng có nhận thức và ứng xử có văn hóa, mang theo giá trị tích cực với lễ hội. Việc nhiều lễ hội tổ chức nhốn nháo, chen lấn, xô đẩy rồi tranh cướp là một biểu hiện tiêu cực. Sự chạy theo lợi ích kinh tế biến lễ hội thành những cơ hội thương mại hóa, làm biến tướng các giá trị văn hóa tốt đẹp cũng hiện hữu khá phổ biến trong lễ hội. Chưa hết, nhiều người còn quá mê tín, đi lễ suốt ngày, bỏ ra nhiều tiền của để tổ chức cầu cúng, nhiều khi tiền mất tật mang… Chúng ta đang sống trong một xã hội mà sự cộng hưởng trở thành những làn sóng ào ạt tấn công vào cuộc sống riêng của mọi người cũng như cuộc sống chung của cộng đồng. Vậy nên, để tận dụng được những giá trị, vận dụng sức mạnh từ sự cộng hưởng thì bản thân phải tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản, bản lĩnh vững vàng để cảm nhận được cái đẹp và hướng đến Chân-Thiện-Mỹ.

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Tản mạn về làng phong Quy Nhơn (10/4/2019)
Địa danh A Lô và chiến thuật tấn công hạ đồn Đại Mang năm 1285 - Mở màn cho chiến dịch giải phóng Thăng Long của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn (27/3/2019)
"Dưới bóng hoàng lan" từ góc nhìn thi pháp học (22/3/2019)
Lễ hội đầu năm nhìn từ góc độ giới (22/3/2019)
Tăng cường công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể ở miền Tây Nghệ An (20/3/2019)
Từ truyền thuyết Chung Quỳ trừ tà, vu thuật "Tiến dạ hồ" đến âu đối đỏ và cành đào đón Tết (30/1/2019)
Hoan Nam sứ giả Nguyễn Đề xướng họa cùng sứ thần Triều Tiên (2/1/2019)
Tìm hiểu các nguyên lý bài trí thờ tự - tại di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An (4/12/2018)
Góp phần cải chính về năm mất của Nguyễn Công Trứ (4/12/2018)
Hoàn cảnh ra đời câu thơ của Trần Nhân Tông (14/11/2018)
Đề xuất giải pháp sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An (9/11/2018)
Hội thảo khoa học: Truông Bồn - Giá trị lịch sử, bảo tồn và phát huy (2/11/2018)
Hội thảo khoa học "Thân thế và sự nghiệp Tiến sỹ Trần Đình Phong" (1/11/2018)
Về chuyến thăm Nghệ An năm 1932 của vua Bảo Đại (10/10/2018)
Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Hòa Bình, UBND huyện Cao Phong làm việc và chia sẻ kinh nghiệm tại Nghệ An (10/10/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 131 | Tất cả: 1,682,475
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp