ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > KHÁM PHÁ XỨ NGHỆ AN
Việc thờ tự xưa và nay ở Làng Quỳnh
Tin đăng ngày: 30/1/2019 - Xem: 241
 

Phan Hữu Thịnh

   Upload

Thắp hương  tại nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi

Trên Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghệ An, số 11/2018 đã đăng bài: “Tìm hiểu các nguyên lý bài trí thờ tự tại di tích trên bàn thờ địa bàn tỉnh Nghệ An”. Bài viết ấy đã giúp bạn đọc hiểu việc thờ tự một cách sâu sắc, tôi rất hoan nghênh và không có ý kiến phản biện.

   Nhân bài đó, ở đây tôi xin giới thiệu việc thờ tự xưa và nay ở làng Quỳnh để cung cấp thêm một lượng thông tin nhằm góp phần minh họa cho bài viết của tác giả Quảng Phước và góp phần tham khảo cho một số địa phương trong tỉnh.

Trước hết xin giới thiệu khái quát bối cảnh lịch sử của làng Quỳnh.

    Làng Quỳnh tên gọi tắt của làng (xã) Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Không biết từ đâu và từ thuở nào “tiếng lành” đã đồn xa và đi vào “truyền khẩu”.

“Bắc Hà: Hành Thiện, Hoan Diễn: Quỳnh Đôi”.

   Làng Quỳnh thuở ban đầu là ba cái gò đất (tên chữ là Thổ Đôi): gò Dứa, gò Ngọc và gò Trài. Ba cái gò ấy tách rời nhau, giáp sông gần biển nổi lên giữa một vùng mênh mông sóng nước, hình tựa những cái nồi nên thuở đầu gọi là làng Nồi. Như chim Tinh vệ đời nối đời ngậm đá lấp biển, người làng Nồi đã dày công bồi đắp biến ba cái gò ấy thành những cánh đồng lúa khoai, thành xóm làng đông đúc. Đời sống của người dân ở vào tình trạng mà nhà thơ Hoàng Trung Thông đã phải chua xót thốt lên:

Đói nghèo xơ xác

Ôi làng Quỳnh Đôi xưa

Nhà ngói ít hơn đền chùa

Người nhiều hơn ruộng đất

   Cảnh ngộ đó buộc người làng Quỳnh phải mở ra nhiều nghề, trong đó có một nghề đặc biệt: nghề đi học để rồi: “tiến vi quan, thoái vi sư”.

    Thời trước tính từ năm 1449, năm có người làng Quỳnh đi thi cho đến năm 1919, năm kết thúc khoa cử thời xưa, trong 470 năm ấy làng Quỳnh đã có:

Về thi hương có 526 tú tài, 208 cử nhân.

    Về thi hội, thi đình có 1 bảng nhãn, 1 thám hoa, 2 hoàng giáp, 6 tiến sĩ và 4 phó bảng.

      Thời nay từ tháng 8/1945 đến năm 2017 đã có hơn 900 người tốt nghiệp đại học, 39 thạc sĩ, 53 tiến sĩ (tính chưa thật đủ).

     Hầu hết những người đỗ đạt xưa và nay đều “thoát ly công tác”. Họ tuy “xa xôi mặt” nhưng không “thưa thớt lòng”, có thể nói họ như những con ong hút nhụy hoa bốn phương đem về làm “bách tinh hoa” (mật ong) cho làng, trong đó có việc thờ tự gia tiên và thần thánh. Đặc biệt có 2 tác phẩm nổi tiếng: “Hồ thượng thư gia lễ” của Hoàng giáp Hồ Sỹ Dương (1622-1681) và “Thọ mai gia lễ” của Tiến sĩ Hồ Sỹ Tân (1691-1760) (Thọ Mai là tên hiệu của ông).

    Nhưng thật là ngạc nhiên nếu so sánh với thể thức thờ tự của các nơi khác thì ở làng Quỳnh lại rất đơn giản, sơ sài.

  1. Việc thờ tự tổ tiên

   Theo cuốn “Thọ Mai gia lễ”, đến đời thứ năm thì chôn cất bài vị (ngũ đại mai thần chủ). Do đó mới bốn đời thì làm giỗ các cụ: cao, tằng, tổ, phụ tại nhà riêng. Trên cao gọi chung là tổ thì rước vào cúng tế tại nhà thờ họ. Năm đời trở lên là có thể trở thành một dòng họ.

    Việc cúng tế tổ tiên đều chứa đựng một ý nghĩa thực tiễn: Ai sinh ra con cháu đều muốn con cháu mình nhớ đến công cha nghĩa mẹ, vậy bản thân mình có nhớ đến công sinh thành của cha mẹ mình đã khuất núi qua việc thờ cúng thành kính không? Đó là cách giáo dục bằng hành động cụ thể thiết thực chứ không chỉ bằng sách vở, bằng lời nói.

Tổ tiên là bao gồm cả nhà (gia) và họ (tộc).

     1.1. Thờ tự ở nhà

   Mọi gia đình trong làng không kể giàu nghèo, sang hèn đều lập bàn thờ gia tiên ở gian chính của nhà mình. Trên bàn thờ thuở xưa chỉ có một mục chủ, ngày nay thì có di ảnh của những người đã mất. Bàn thờ là thể hiện một không gian vũ trụ được thu hẹp. Đôi cọc nến tượng trưng cho hai vầng nhật nguyệt quang minh, cái ly hương hình tròn tượng trưng cho bầu thái cực, các nén hương là những vì sao lấp lánh với khói hương và mây trời. Bàn thờ gia tiên là nơi gắn bó cộng đồng những người đã mất với những người đang sống. Người đang sống được người đã mất đứng trong bóng tối hằng dõi theo từng hành động, từng bước đi, được sẻ chia những niềm vui, những nỗi buồn trong cuộc sống. Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn. Tâm thức của người làng Quỳnh là thế!

    Lễ cúng cũng giản đơn. Nếu cùng một bàn thờ mà thờ nhiều người thì lấy ngày mất của người ở thế thứ cao nhất làm ngày giỗ hợp kỵ có đông đảo con cháu đến cúng bái. Còn các người khác thì cúng riêng. Lễ vật cúng tế chỉ có xôi thịt, hoa quả.

    Trong buổi cúng tự tôn vào vái lạy, khấn mời các ông bà về dự lễ, sau đó các cháu con lần lượt vào thắp hương.

1.2. Thờ tự ở họ

Họ chia làm hai: họ lớn và họ nhỏ

    Họ lớn chỉ có thể tế từ đời thủy tổ cho đến đời thứ mấy là tùy theo từng họ quy định.

     Họ nhỏ là từ đời thứ năm của các gia đình rước lên cho đến đời được rước lên nhà thờ họ lớn.

     Việc cúng tế ở họ lớn và họ nhỏ đều giống nhau, họ lớn cúng trước, họ nhỏ cúng sau, bắt đầu từ ngày 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch.

     Trên bàn thờ trên hết chỉ có một long ngai của thủy tổ. Tổ mỗi đời đều có một mâm chè, đặt chén rượu, chén chè, đôi cọc sáp và bát hương. Ở chính giữa đặt mâm xôi thịt…

     Nhà thờ thượng điện thường có ba gian, mỗi gian có một bàn thờ với cách sắp xếp tế khí đều giống nhau.

    Việc cúng tế ở đây so với từng gia đình tiến hành trang trọng và nhiều tiết mục hơn. Người đóng vai trò quan trọng nhất là chủ tế. Chủ tế là người hội tụ các tiêu chuẩn: đời cao nhất, vợ chồng đều song toàn, có con trai nối dõi, không có tang, có học vị, có chức tước, chứ không phải là tự tôn của dòng họ. Tế lễ ở họ có trống bé, trống lớn, có bù lu, xập xoái.v.v..

     Trong buổi tế tất cả con cháu đều phải đứng (trừ một số người cao tuổi, ốm yếu) thành kính hướng lên bàn thờ tiên tổ.

      Tế lễ xong, con cháu họp bàn việc họ, rồi vui vẻ hưởng lộc của tiên tổ.

  1. Về thời tự thần thánh

    2.1. Làng Quỳnh có một đền làng thờ “Phục lôi linh ứng thiên thần” ở thượng điện và phối tế các vị thủy tổ các họ lớn ở hạ điện.

    Theo tâm linh thuở ấy, các cụ cho rằng tuy Thổ Đôi nổi lên giữa một vùng sông nước, nhưng không phải bốn mùa đều có đầy đủ nước. Vì vậy, thờ thần sấm sét là nhờ ngài gọi mưa về như dân ta thường cầu xin “lạy trời mưa xuống”. Ngoài ra thiên thần là người đứng chủ, giữ gìn sự đoàn tụ giữa các thủy tổ và là người biểu thị sự uy nghiêm răn đe của lẽ trời, ai gian ác sẽ bị sét đánh. Thần làng Quỳnh có tiếng là linh thiêng nên hàng ngày nhất là ngày mùng một, ngày rằm, khá nhiều bà con các nơi đến cầu cúng. Với khuôn viên đền chật hẹp nên ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch hằng năm chỉ các vị viên chức của làng đến cúng tế. Cứ 3 năm một lần mới làm lễ tế lớn. Dân làng rước kiệu của thần và của các thủy tổ đến đình làng để làm lễ tế một cách trang trọng, đông đảo.

    Đền Thần và Đình làng đã được công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia.

    2.2. Nhà thánh ở phía Tây của đền làng, khá cao to, thờ đức Khổng Tử ở gian giữa. Ở gian trái thờ bốn vị tứ phối: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử và ở gian bên phải thờ 72 vị đồ đệ xuất sắc của Ngài, chứ không thờ một ai khác (khác với Quốc tử giám).

      Đến tế lễ chỉ là những người đỗ từ tú tài trở lên.

     Ở Nhà thánh mỗi năm chỉ tế hai lần vào mùa xuân và mùa thu rồi đóng cửa cho nên có câu thành ngữ: “Lạnh như Nhà thánh tế rồi”.

     2.3. Hiền từ ở phía Đông Nam của đền Thần. Làng Quỳnh cho rằng người hiền không phải là các vị đỗ đạt, làm quan mà là những người có đức, có công với xóm làng nên không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, gái trai… Hai hạng người được làng xem xét nhiều nhất để đưa vào thờ là các bà “Tiết hạnh khả phong” và các ông đỗ tú tài trở lên mà không có con trai nối dõi.

     Đáng tiếc là Nhà thánh và Hiền từ đều đã bị phá hủy từ năm 1962. Đây là một việc làm “tả khuynh” của cách mạng.

     Một công trình khác là “Giếng bà cả” nằm giữa ba cái miếu trên. Giếng này do bà Hồ Thị Thai, con gái đầu của Tá khai Quốc công thần Hồ Hân (thời Lê Lợi), vợ kế của đại Tư Nông Phan Nghĩa đào từ năm 1420-1422. Giếng này có nước trong và ngọt, ít khi bị cạn kiệt.

   Làm bốn công trình trên vào một vùng, mà trung tâm là cái giếng tạo nên một quần thể tương đối hoàn chỉnh, có dáng dấp phồn thực, là một việc làm đầy suy tính sâu sắc mà thiết thực. Trước đây từ làng Quỳnh lên đường thiên lý là phải đi qua vùng này. Giếng nước là biểu thị sự ôn nhớ về cội nguồn. Đền làng biểu thị cái ăn do trời, đất và người làm nên. Nhà thánh biểu thị sự ham muốn học vấn. Hiền từ biểu thị sự tu dưỡng đạo đức. Tất cả nhằm nhắc nhở thầm lặng mà nghiêm nghị cho dân làng mỗi khi đi ra khỏi làng cũng như khi trở về làng cần phải sống sao cho đủ cái nghĩa, cái ăn, cái chữ và cái đức.

    Vào đầu năm 1903, ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cùng hai người con đã ra thăm làng Quỳnh. Khi tham quan quần thể này và được ông cử nhân trẻ tuổi Hồ Phi Huyền nói rõ ý nghĩa của quần thể, ông Phó bảng đã thốt lên: “Quần thể này sao mà chứa dựng những sắc thái văn hóa sâu sắc đến thế. Chả trách mà nơi đây đã sản sinh ra biết bao nhiêu anh tài tuấn kiệt góp phần làm vẻ vang cho xứ Nghệ, cho đất nước”.

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
Miền đất cổ Mường Chiêng Ngam (10/7/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (5/6/2019)
Miền Tây Nghệ An - Phong phú các loại hình văn hóa vật thể (24/5/2019)
Đào nương Trần Thị Khoan Cung phi của chúa Trịnh (21/5/2019)
Dòng họ 5 thế kỷ hát ca trù (21/5/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (24/4/2019)
Tiền sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục khoa bảng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (24/4/2019)
Họ Trần và Giáp ca Trần Đức Lương với nền ca trù xứ Nghệ (23/4/2019)
Con người nhân cách thầy đồ Nghệ dưới triều Nguyễn (2/4/2019)
Hồ Hữu Thới - Người nhạc sĩ của quê hương (29/3/2019)
Được nhà vua ban thưởng (28/3/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,123 | Tất cả: 1,785,785
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp