KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Tết Mông
Tin đăng ngày: 30/1/2019 - Xem: 59
 

Đậu Kỷ Luật

     Tết năm mới của các tộc người thiểu số luôn luôn giữ được nét cổ xưa hơn; phong tục đón tết phong phú và đa dạng. Tết còn là nơi xuất hiện “một sân khấu thời trang” lộng lẫy và còn là nơi gặp gỡ tình cảm với nhau. Biết bao đôi lứa xe duyên nên vợ nên chồng nhờ vào dịp lễ tết này. Tết xuân là dịp cộng cảm của con người và vạn vật, cộng cảm giữa người sống và người chết, cộng cảm cá nhân và gia đình, gia tộc, xóm thôn, làng nước.

     Một trong những tộc người ở miền Tây Nghệ An khá hấp dẫn là Tết Mông: có thể nói là tìm hiểu văn hóa Mông thì đến Tết Mông là thuận lợi nhất và khó quên được vì cái nét đặc sắc cộng cảm như nói trên là nổi bật.

     Về đến đầu bản, thấy sân chơi páo páo (ném còn) chật ních người. Những con ngựa hồng, ngựa trắng trong tàu ngựa rung chuông, gõ gót xuống sàn. Nhà nào nhà nấy đốt lửa từ gà gáy chuẩn bị đi lấy nước nguồn về cho ngày lễ. Mấy nhà mới chuyển về bản đang hối hả giã bánh dày. Mùi thịt nướng thơm ngọt bốc ngào ngạt. Những thanh gỗ thông làm bếp còn thơm mùi hương, bồ hóng chưa kịp bám. Mái lợp bằng gỗ pơmu sang trọng khoe sắc. Chiếc cối xay ngô, dân bản mới dùng xong, bột ngô vương tung tóe bám lên cả cột nhà. Lò rèn ông trưởng họ đã xếp gọn để đón tết. Tết Mông trước tết Nguyên đán khoảng một tháng. Quanh nhà nào, trên bàn thờ, nhà nấy cũng có những tờ giấy trắng tự làm dán trên vách gỗ, trước cổng ra vào cũng có giấy.

Nghề làm giấy

    Bộ đội ta về bản dự vui tết cứ ngắm những tờ giấy mà suy nghĩ, thì được ngay lời kể đầy tự hào của người già kể chuyện về người Mông biết làm giấy trước châu Âu hàng thế kỷ.

    Trước khi có giấy, thì người Tàu đã phải khắc chữ lên mai rùa, xương thú, kim loại, đá, thẻ tre, ván gỗ, dải lụa…, nhưng rồi xương thú, mai rùa đâu có nhiều, kim loại và đá thì quá nặng, còn vải lụa lại quá hiếm, tre gỗ chiếm thể tích rất lớn, tất cả đều sử dụng không hề tiện lợi. Thời đó Mặc Tử đi đâu cũng chở theo ba xe sách bằng tre, còn Tần Thủy Hoàng thì mỗi sáng phải vận chuyển bằng tay cả trăm cân văn thư cồng kềnh.

     Từ cái khó ló ra cái khôn. Người Trung Hoa tìm ra loại đay gai, vải rách, lưới đánh cá rách nát để chế biến ra giấy. Nhiều người cho rằng thực ra là sáng kiến của người Bách Việt chúng ta - trong đó có Miêu tộc - họ làm nghề, nấu lên làm giấy như ta nấu nồi bánh đúc mà thôi, không phức tạp gì lắm. Sau này họ lấy loại cây nứa, tre, vầu mọc tự nhiên ở trong rừng cao khoảng vài mét, chưa có lá. Coi như có sẵn kho vật liệu gửi trên rừng dùng dần. Bóc vỏ ngoài lấy phần ruột, chặt từng đoạn ngắn, chẻ thành nhiều mảnh nhỏ xếp vào chảo, bỏ dưới đáy một ít tro bếp để khi đem đun không cháy nguyên liệu. Cứ xếp xong một lớp lại rắc một lớp tro bếp. Xếp cho gần đầy, đổ nước vào lấp xấp, rồi lấy lá chuối rừng ủ kín miệng chảo, xong bắc lên bếp lò nấu như kiểu nấu bánh chưng 3 - 4 tiếng, khi lá chuối cháy hết ngả màu xám là được. Vớt số nguyên liệu đó bỏ vào trong giỏ mang ra suối rửa sạch tro bếp. Sau đó mang về ủ ở góc bếp 3 - 4 ngày. Áng chừng đã được, người ta lấy ra đặt lên ván gỗ, dùng thanh gỗ đập cho giập nát ra hết, đem bỏ vào thùng nước, dùng hai tay bóp cho nguyên liệu tơi ra, rồi vớt lấy bã, sau đó dùng một que dài ba gang tay khoắng đều trong thùng cho bã nổi lên quấn vào que rồi bỏ ra ngoài. Lúc này trong thùng chỉ còn tinh bột giấy. Cái khuôn không cố định các lần mà dùng xong vứt luôn, bữa sau cần thì làm lại bởi vì khuôn chỉ là một cái khung bằng nứa hình chữ nhật, dài 10 gang tay, rộng 5 gang, có buộc những đoạn nứa đóng đều nhau theo chiều rộng để giữ cho khung không bị xô lệch. Khung làm xong, lấy một tấm vải xung quanh khâu diềm rồi căng lên khung nứa tạo thành khuôn giấy, tùy theo số lượng tinh bột mà làm khuôn.

     Khuôn giấy làm xong xếp nằm trên mặt đất, nơi khô ráo, có ánh nắng. Chỉ còn việc lấy bát múc tinh bột đổ lên khuôn, đổ đến đâu giát mỏng đến đấy, khi khuôn đầy, lấy ống nứa lăn đều rồi phơi khô sẽ có giấy dùng. Giấy chỉ dùng tại nhà, tại bản khi có nghi lễ gia đình.

      Trước đây người ta cứ cho rằng nghề giấy có từ khoảng năm 150 Tây lịch, nhưng đến năm 1957 khai quật được ở ngoại thành phía Đông Tây An ở Bá Thước có loại giấy cổ đầu đời Tần Hán, trước Công nguyên 2 thế kỷ. Đó là loại giấy cổ nhất thế giới. Nghề làm giấy phổ biến ở người Tàu, người Bách Việt, sau đó truyền sang Việt Nam ngày nay, rồi đến Nhật Bản, Triều Tiên và sang thế kỷ thứ VIII mới truyền sang Ả Rập, tới I Rắc, Xy Ri… Giấy ở Ả Rập sản xuất nhiều bán sang châu Âu. Đến thế kỷ XII, thấy xuất hiện xưởng giấy ở châu Âu (Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Đức…). Khoảng năm 1800, nghề giấy được cơ giới hóa đầu tiên bằng chiếc máy làm giấy của người Pháp tên là Rô - be (Robert) và công nghiệp hiện đại biến giấy phát triển mạnh mẽ ở châu Âu.

      Lược sử ghi, vào năm 284 có một lái buôn nước Đông La Mã đã phải mua 3 vạn tờ giấy của nước ta để dâng vua Tấn Vũ Đế (265 - 317). Thế mà nghề giấy ở ta mai một, mãi tới thế kỷ X mới được phục hồi. Ta có tên làng Giấy, cầu Giấy… Theo Lê Quý Đôn trong “Vân đài loại ngữ” thì ta trồng nhiều cây gió để làm giấy rồi sau này dùng đến cây thượng lạc (hay còn gọi là cây niết  hay cây niệt) - loại này bên Tàu lúc bấy giờ chưa biết. Bởi vậy người ta nói người Viễn đông mình có tài phát minh nhưng ít có tài lợi dụng cái phát minh để phát triển tiến lên, nên thua người Tây phương, bởi thế mà nền kỹ thuật của mình non kém.

      Cái nghề làm giấy cho ta nhiều bài học lắm. Đó là lối tư duy bảo thủ trì trệ hạn chế phát triển.

     Nói đi vui tết là ta tìm hiểu được nhiều điều văn hóa thú vị là vậy.

      Tết đến, không ai là không lân la trò chuyện với ông trưởng họ về cái lò rèn. Chỉ tóm tắt thôi, ông cũng tự hào cao giọng, say mê: Tổ tiên người Mông xưa (người Hán gọi là Miêu) là dân trồng lúa nước nên họ quan tâm đến cái lò rèn. Rồi từ hồ Bành Lãi và Động Đình (thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay), chính là miền đất phía Nam Đông Á cổ đại. Một trong những tộc người nằm trong nhóm Bách Việt cổ xưa phải đương đầu với dân du mục phong kiến phương Bắc thượng võ. Họ chống cự không được, phải bỏ đất mà đi. Họ chạy mà vẫn phải đi thụt lùi để luôn để mắt nhìn về phía kẻ địch mà cảnh giác. Khẩu súng kíp Mông đi vào lịch sử, vào tính cách Mông (xưa ta hay gọi là Mẹo) là có cái lý của nó. Đọc sử ta, trong truyện Họ Hồng Bàng cũng nhắc ta về tộc người Miêu với nhân vật Suy Vưu. Cái mảnh đất mà tổ tiên người Mông sinh cơ lập nghiệp xa xưa là nơi có nghề làm thuốc súng, làm vũ khí khá sớm. Ít ra cũng có hơn 1000 năm nay. Vào đời nhà Đường (Trung Quốc) người dân vùng này đã biết làm thuốc súng. Cái tên hỏa dược (thuốc súng) có từ đây. Gọi là thuốc vì thành phần chủ yếu của thuốc súng là diêm tiêu lưu huỳnh là dược phẩm quan trọng có tác dụng trong các thuốc trị bệnh mẩn ngứa, phong thấp và sát trùng. Thuốc súng và hỏa khí phát minh ra ở Trung Quốc khoảng từ 1225 - 1248 truyền qua Ấn Độ, Ả Rập rồi sau người châu Âu mới học theo: Tây Ban Nha thế kỷ XIII, Anh, Pháp thế kỷ XIV.

      Người Mông ở vùng cao biết chế ra súng để giữ bản mường, chống thú rừng và kẻ địch. Người Mông bản Đống (Kỳ Sơn) đã nổi tiếng về đánh Pháp với người chỉ huy là ông trưởng họ Sùng Lừ, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất tiếng vang cả Nghệ An và vang xa sang cả đất bạn Lào. Thủ lĩnh Mông Thao Tu chỉ huy bộ đội Pachay của Pa thét Lào khoe với cả bản mường người Mông Xiêng Khoảng, Nọng Hét, cả nước Lào.

     Chuyện trò về nghề giấy, nghề rèn rồi đi vào ăn tết trong từng gia đình. Lại cái điều hấp dẫn nhất trong ẩm thực Tết Mông là chuyện bánh dày.

      Đầu tiên phải kể đến nguồn nước. Tục thờ nước là một tín ngưỡng dân gian rất cổ của sinh hoạt văn hóa Mông. Các cụ già bảo nước là sữa của đất trời, là vàng, là bạc ông trời, bà đất ban cho, những đêm giá buốt nhất, nước đóng băng trên máng, dân bản đem được ra trong đêm tối mịt, cạy từng máng nước đóng băng sắp vào gùi mang về kịp hơ cạnh bếp lửa để sáng mai có nước dùng. Chọn nước hệ trọng lắm, khác nào đồng bào Kinh các cụ sai con gái chọn giếng làng nơi có mạch nước tốt, sạch sẽ nhất. Chỉ có nước giếng nào tinh khiết mới xứng với nước ngâm nếp làm bánh dày ngày tết. Nước đủ về ngâm nếp, các cụ, các mẹ mới vui lòng. Nếp được chọn những bông lúa mẩy hạt, mười hạt đậu mười, mùi thơm phức. Nhà nào cũng chọn một vài yến nếp. Xôi được đồ lên vừa độ, dẻo thơm, thấy đạt tiêu chuẩn các cụ mới cho vào cối. Vài chàng trai khỏe mạnh thay nhau giã thật mịn, thật dẻo. Tiếng chày, nhịp chày lúc này âm thanh nhẹ và nhặt hơn, dồn dập hơn. Giã cho tới khi xôi quánh chặt vào chày tất cả mới đạt yêu cầu; âm thanh tiếng chày lúc này mảnh và sắc hơn, bởi thêm tiếng chày gõ nhẹ vào miệng cối đã ngân dài như kết thúc bản nhạc. Có nhà kỹ tính hơn, lấy lòng đỏ trứng gà đã luộc xoa vào tay rồi nắm từng nắm bọc trong lá chuối non đã hơ héo. Bánh có thể dùng ăn ngay hoặc để vài ngày sau mới ăn, hay cắt thành từng lát rán mỡ sẽ nở to càng ngon. Trong số bánh làm ra, chọn ép những chiếc bánh có đường kính vài ba gang tay đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên. Tết Mông không nhà nào thiếu bánh dày. Bàn thờ không thể thiếu bánh dày. Đây là vấn đề tâm linh ăn sâu vào máu thịt người Mông.

Chuyện kể, ngày xửa ngày xưa, trên đỉnh núi cao chót vót có những bãi chơi của con nhà trời. Người Mông không hề biết, thấy trống vắng nên kéo nhau lên đó làm nhà ở. Vua trời biết được, phái thần đuổi người Mông đi. Người Mông vốn gan chắc như chiếc đai thùng, không hề nhúc nhích một bước. Trời tức khí, bèn sai thần sấm băm vằm vách núi, dọa, nhưng người Mông vẫn trơ gan. Trời cấm thần nước không được mang nước đến cho người Mông. Rồi sai thần gió mang lạnh, rét cắt da cắt thịt đến bủa vây, nhưng người Mông không nản chí. Trời đành bắt giam ông tổ người Mông một nơi không đi lại được. Giam cầm, bị đói, cụ tổ mắt mờ, chân run. May sao gặp lũ trẻ bé tí bằng ngón tay cho ăn một thứ là lạ - sau này mới biết đó là cơm. Rồi cụ đi một quãng xem lũ trẻ chặt cây có nhiều hạt vàng óng ánh - đó là giống nếp, lũ trẻ đem ra vãi. Cụ biết đích xác đây là giống quý nuôi người nên cụ tỉa trộm một ít hạt cho vào túi để có dịp về gặp gia đình, họ hàng làm giống trồng. Một hôm mưa to gió lớn thổi bay cụ tổ vào phía Nam. Bỗng nhiên có chim đại bàng giang cánh rộng và cắp được cụ tổ về với con cháu. Thế là thoát khỏi địa ngục trần gian được về sống với con cháu. Từ đó trời cũng chịu thua không hành hạ người Mông nữa.

          Hạt giống của cụ tổ, lấy từ nhà trời về gieo lên nương, mọc nhanh cho hạt nhiều. Thu hoạch về xay giã, làm thành chiếc bánh hình tròn như mặt trời gọi là bánh dày.

     Từ đó trở đi, người Mông có phong tục ngày tết nhà nào cũng vậy, dù nghèo đến mấy cũng phải dành dụm để có mâm bánh dày to đặt trên bàn thờ để cúng tổ tiên, nhớ về cội nguồn và tạ ơn chim đại bàng đã giúp tổ tiên mình thoát nạn.

Du xuân

      Tết Mông có tục du xuân rất nhân văn. Xem hình ảnh đẹp, nghe âm thanh réo rắt bay bổng thì về du xuân hàng năm với người Mông. Trang phục ngày tết là đỉnh cao để tìm cái đẹp trong văn hóa mặc. Mà xưa nay, dân tộc nào thì phụ nữ cũng làm đẹp nổi trội nhất.

       Trang phục nữ là một tác phẩm nghệ thuật, là kỹ thuật và biểu cảm ở tâm - nét đặc sắc văn hóa Mông. Lòng mẹ là nước trong nguồn chảy ra là ở đây.

      Ta hãy bắt đầu bằng y phục cổ nhất và chung nhất của  nhiều tộc người ở Đông Nam Á. Đó là trang phục của người Mông (y phục và trang sức). Phụ nữ Mông hoa của hai nước Việt - Lào biên giới liền nhau. Gắn bó của người mẹ với người con gái từ thuở ấu thơ đến khi về nhà chồng.

      Tôi bảo đảm rằng một phong tục mà không đâu trên hoàn cầu này, Đông cũng như Tây có được là khi người con gái về nhà chồng, mẹ thường gửi theo dưới đáy hòm con gái bộ áo váy lanh do mẹ tự may, để đến khi về với tổ tiên thì nó lại lấy ra mặc khâm liệm chôn cất. Từ bé mẹ đã dạy con làm chiếc váy, người con gái 15 năm lao động để có kiểu váy ấy. Người Mông cho rằng dù đói rách, khi chết cũng phải có áo lanh mặc vào. Hồn của lanh đã ăn vào tâm thức Mông.

      “Chỉ có mặc vải lanh mới không lẫn tổ tiên, mặc vải lanh thì ma tổ tiên mới nhận được mặt con cháu”.

      Chiếc váy trong lễ hội tết đặc sắc của phụ nữ Mông hoa ai cũng phải trầm trồ. Váy hình chóp cụt, nó là một tác phẩm nghệ thuật. Váy làm bằng sợi lanh. Thân váy là một tấm vải dài 7 mét, người ta gấp nhiều nếp trên cạp váy chỉ còn khoảng 90 cm. Cạp váy làm từ miếng vải rộng 40 cm, gấp làm đôi và khâu ôm lấy phần thân váy, người ta còn đính thêm một dải vải dài hơn 1,8 m vào cạp váy rồi quấn quanh thắt lưng. Phần tiếp giáp của hai vạt nằm ở phía trước, và được che bằng chiếc yếm rộng 30 cm, dài 80 cm. Yếm được giữ bằng một dải thắt lưng thêu hoa văn, ngày thường cũng như ngày lễ, người ta thắt váy nhiều thắt lưng. “Vành đai” vải này là giá đỡ chiếc gùi khi đi làm, hoặc chiếc địu trẻ nhỏ lúc ở nhà. Cô gái nhà giàu còn đính thêm vào thắt lưng những đồng bạc trắng.

      Đầu năm, cô gái trẻ nào cũng “khoe” tài của mình qua chiếc váy mới do tay mình làm. Đặc biệt nổi nhất và độc đáo là những hoa văn thể hiện trên chiều ngang chiếc váy chia làm bốn phần. Phần cuối chừng 25 cm là hoa văn hình học, những họa tiết hình vuông, hình quả trám, hình tam giác xếp ghép liền kề nhau. Trên đó chừng 15 cm là dải hoa văn đen đậm nằm giữa hai dải hoa văn đồng biến màu trắng nối đuôi nhau chạy quanh váy. Phần trên khoảng 30 cm lại thể hiện hoa chanh hình học kẻ mờ trên nền xanh sậm. Cuối cùng là phần eo. Bàn tay vàng của cô gái Mông tỉ mỉ rút sợi thành múi tạo ra nếp gấp ở eo; trên phần gấp ấy đính rất nhiều miếng vải hình khối nổi nhỏ bằng đầu ngón tay nối nhau quanh chiếc váy. Chiếc váy mặc vào ôm tròn lấy eo, sau đó bồng lên như chiếc đuôi công xòe. Cách bố trí hoa văn trên váy của họ làm ta liên tưởng đến cách bố cục hoa văn trên đuôi công. Ngoài váy là bộ xà cạp điểm hoa văn hình học quấn quanh bụng dưới và trên là chiếc khăn dài màu gụ được quấn nhiều lớp. Nhưng nổi bật nhất là trang sức vòng bạc, khuyên tai. Tết đến, phụ nữ Mông thường đeo ba kiểu hoa tai: kiểu hình mũi tên có vòng tròn bao quanh, kiểu hình chữ S, kiểu hình chiếc móc có nhiều vòng tròn nhỏ đính vào. Họ đeo nhiều vòng bạc to nặng ở cổ, thường từ 1 đến 7 vòng, có người còn móc thêm vào vòng có nhiều chùm xích bạc trắng có đuôi hình chiếc khóa, hình con cá, hình con bướm, hình bánh xe, hình cái chuông… Các cô gái trẻ còn đeo nhẫn bạc vào cả 10 ngón tay. Cổ tay đều có 3 - 4  vòng bạc lấp lánh.

      Đi chơi xuân, gái Mông ăn mặc lộng lẫy như vậy, ai biết rằng ngày thường leo núi, lên nương họ vất vả biết bao, đi từ gà gáy sáng đến tối mịt mặt trời lặn mới từ rừng trở về nhà lo cơm nước cho gia đình.

      Đi chơi xuân gọi là hội Gầu Tào, có nơi gọi là hội Sai Sán (Tây Bắc), lễ hội thường tổ chức trên một vùng đất rộng, dưới chân núi, hay trong thung lũng. Giữa rẻo đất, người ta dựng một cây tre làm cây nêu, trên ngọn được treo một dải vải đỏ và một quả bầu. Dưới gốc người ta bày la liệt đồ ăn uống, trong những chiếc nia, trên những tàu lá chuối xanh mướt. Trước khi vào lễ hội, những người cao niên đến thắp hương làm lễ dưới gốc cây nêu cho con cháu mạnh khỏe, bản làng yên vui, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, chăn nuôi phát đạt. Những trò chơi hội xuân: bắn nỏ, đánh quay, ném vòng, đánh yến, hát ống, ném páo páo (ném còn), hát giao duyên, múa khèn, nhiều nơi tổ chức đua ngựa. Riêng múa khèn, một đặc sản của văn hóa Mông, chúng ta đã có dịp giới thiệu trên Chuyên san KHXH&NV.

Do khuôn khổ, xin được nêu vài nét về hát giao duyên. Chơi xuân, trai gái Mông thích tỏ tình bằng những điệu ca, múa, nhạc. Dân ca Mông rất phong phú, có bài dài hàng trăm câu. Họ có tiếng hát mồ côi, tiếng hát làm dâu và tiếng hát vui náo nức là tiếng hát tình yêu. Bởi vậy mà nhà thơ lớn Chế Lan Viên đã khẳng định: “Những bài thơ này - có hàng trăm bài thơ như vậy - nó có thể không hổ thẹn trong những tập thơ của thế giới”.

Tiếng hát tình yêu (Gầu Plềnh) xin trích mấy câu ngắn gọn, súc tích:

“… Gió về thổi lá cây bên nhà

Nếu ta là hạt mưa sương

Ta xin tan trên bàn tay nàng

Gió thổi lá cây ngả nghiêng bên suối

Nếu ta là hạt mưa sương

Ta xin tan dưới bàn chân nàng”

Và: “Đêm qua đêm tàn, ngày mai sáng lên

Ta lê bước vào nhà

Hồn như còn ở thắt lưng em

Đêm qua đêm lụi, ngày mai rạng

Ta quay gót về cửa phòng

Vía còn phủ cả khăn mặt”…

Và lấy điệu nhạc thủ thỉ tiếng đàn môi tình tứ chỉ đủ hai người nghe sao mà da diết lạ: “Con sâu ăn lá không ăn mầm

Con nhện giăng tơ chẳng được sợi tơ bóng

Vì mối tơ tình ta phải lần mò lúc đêm trăng.

Con sâu ăn lá không ăn mầm

Con nhện giăng tơ giăng được sợi tơ bóng

Vì mối tơ tình ta phải lần mò lúc canh khuya”.

“Đôi ta lúc này ngồi bên nhau

Khác chi mặt trăng với mặt trời.

Để ta cầm que đo nước sâu hay không sâu

Đôi ta lúc này ngồi cạnh nhau

Khác chi mặt trời với mặt trăng

Để ta cầm que đo nước nông hay không nông”

Và đây nữa, có lạ không? Có đỉnh cao không? Nó vượt qua tất cả lễ giáo lâu nay mà “phải liều”:

“Mình hỡi: Ta có thể bỏ ao nước trong của cha mẹ ta để lại

Ta cũng có thể lừa cả mẹ cha

Nhưng chàng trai cô gái yêu nhau

Bỏ nhau là nát ruột

Ta có thể bỏ ao nước cạnh

Của cha mẹ ta để cho

Ta cũng có thể xa cả cha mẹ

Nhưng người trai gái yêu nhau

Rời nhau là nát tim…”

Nhắc lại:

“Tiếng khèn biết nói không biết kết

Kết thứ như hoa đào nở trên núi cao”.

     Múa khèn còn biểu hiện tinh thần thượng võ của người con trai, do giao hòa tiếp kiến văn hóa với cư dân du mục phương Bắc (nhóm Bách Việt), người Mông đến với âm nhạc không phải để giải trí, mà có thể âm nhạc, đặc biệt là “múa khèn” là hồn Mông độc đáo. Họ đánh giá cao chức năng giáo dục của âm nhạc trong đời sống. Có nhiều chuyện cổ tích sâu sắc. Xin kể ra đây một mẩu chuyện do nhạc sỹ Dương Hồng Từ ghi lại trong tác phẩm của ông năm 2010 “Âm nhạc dân gian dân tộc Mông ở Nghệ An” - Chàng trai dùng tiếng khèn để cứu vợ: “Già Ba Sử và Y Dơn sống với nhau thật đầm ấm và hạnh phúc, một cặp vợ chồng thủy chung, Nhưng xót xa thay, một hôm Già Ba Sử lên nương vợ ở nhà chưa kịp đi cùng, vợ chàng bị một con hổ lớn đến cướp mất. Về nhà, Già Ba Sử muốn vào rừng sâu để cứu vợ. Ngày đêm anh luyện võ, được người trưởng họ cho thanh kiếm quý gọi là có hồn của dòng họ khi cần kíp mới đem ra dùng. Và như có trời, đất, tổ tiên phù hộ. Khi võ nghệ đã thạo, sức đã được nâng lên, anh lên đường vác kiếm quý trong tay, cõng nhà trên lưng, đi tìm khắp rừng trên, suối dưới. Anh chỉ biết dùng khèn thổi gọi vợ bằng những bài mà khi yêu nhau, Y Dơn đã say mê thuộc lòng. Và đây rồi, con hổ xuất hiện, anh toan vung kiếm đọc mấy câu niệm khấn của người trưởng họ dạy. Chàng, lạ thay, tiếng nói từ con hổ kia: “Em là Y Dơn, là vợ anh đây, hổ xám đã bắt em mang lốt hổ. Con hổ ấy sắp về rồi đấy!...”. Quả nhiên con hổ xuất hiện. Nó nhảy vào anh. Anh quần với hổ như mình có sức mạnh diệu kỳ của thần linh. Lại có sức mạnh của Y Dơn truyền thêm. Và rồi chàng chém chết con hổ xám kia.

    Bây giờ còn phải thay lốt hổ cho Y Dơn. Tiếng khèn lại vang lên cầu may… Thật kỳ diệu, linh thiêng làm sao, bỗng lốt hổ biến mất, hiện rõ Y Dơn xinh đẹp, nồng nàn. Vợ chồng đưa nhau về, không múa nhưng chàng vẫn thổi khèn bên nàng.

    Sau này hai vợ chồng con cháu đầy đàn, tình yêu thương hạnh phúc tràn trề…

KHXHNV & Đời sống khác:
Những ca khúc đầy ấn tượng ra đời trong đại thắng mùa Xuân năm 1975 (Bài viết nhân kỉ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975 - 30/4/2019) (10/4/2019)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ trí thức ngành y tế (10/4/2019)
Tiểu dị trong đại đồng xứ Nghệ Kì 2: Tiểu dị về nhân văn trong đại đồng xứ Nghệ (22/3/2019)
Xúc tiến đầu tư vào Nghệ An 11 năm nhìn lại (22/3/2019)
Lễ hội Xăng Khan trong tâm thức của đồng bào dân tộc Thái miền Tây Nghệ An (6/3/2019)
“Hát mừng nhà mới” - dân ca nghi lễ, phong tục Thái (26/2/2019)
Nghệ An sẽ dồn nguồn lực tương xứng nhất cho công cuộc hỗ trợ các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các startup (26/2/2019)
Nghệ An tổ chức Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Kỷ Hợi 2019 (26/2/2019)
Nghệ An chuẩn bị chu đáo cho Hội nghị Gặp mặt các nhà đầu tư Xuân Kỷ Hợi 2019 (14/2/2019)
Chuyện lạ về lợn và các phong tục (30/1/2019)
Con lợn trong ca dao, thành ngữ, tục ngữ (30/1/2019)
Truyền thống Tôn sư trọng đạo xứ Nghệ - Xưa và nay (30/1/2019)
Xứ Nghệ tâm thức (30/1/2019)
Tết Mông (30/1/2019)
Tiểu dị trong đại đồng xứ Nghệ (11/1/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 131 | Tất cả: 1,679,808
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp