KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Tiểu dị trong đại đồng xứ Nghệ
Tin đăng ngày: 11/1/2019 - Xem: 172
 

 PGS.TS Đào Khang

  Tóm tắt: Xứ Nghệ gồm Nghệ An và Hà Tĩnh, có nhiều nét tương đồng đến độ xưa nay ít người quan tâm tìm hiểu về sự khác biệt giữa 2 địa phương này. Thực tế, Nghệ An và Hà Tĩnh có nhiều khác biệt lớn, cả về tự nhiên và nhân văn. Về tự nhiên, là sự khác biệt về địa thế, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, thủy văn, thực vật tự nhiên (và cả cây trồng). Về nhân văn, là sự khác biệt về lịch sử định cư, dân tộc thiểu số, một số cách dùng từ ngữ,...

    Có thể do quan niệm về “xứ” chưa thật đầy đủ nên xưa nay, khi nói về “Xứ Nghệ” các tác gia quan tâm nhiều hơn đến những tương đồng về đặc điểm nhân văn xung quanh khu vực hạ du sông Lam để xét một xứ Nghệ “đại đồng” mà ít đề cập sâu đến những “tiểu dị” trong xứ Nghệ.

    Dị/khác giữa Nghệ An và Hà Tĩnh là không tiểu/nhỏ chút nào, cả về tự nhiên và nhân văn. Sau đây chỉ là một số ít trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi.

Upload

Người chỉ huy đoàn thuyền đám rước lễ cúng thần sông trên sông Lam tại Hội đền Thanh Liệt (nguồn: Du lịch Nghệ An)

Kì 1: Tiểu dị về tự nhiên trong xứ Nghệ

    Sự khác biệt giữa Nghệ An và Hà Tĩnh về tự nhiên thể hiện rất rõ từ địa thế theo lí thuyết phong thủy, địa hình, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, thực vật đến thủy văn.

  1. Tiểu dị về địa thế xét theo lí thuyết phong thủy

     Theo lí thuyết phong thủy, một đơn vị kiến trúc quần cư lớn hay nhỏ đều được quy định: sau lưng là Huyền vũ (rùa đen), trước mặt là Minh đường (phượng hoàng đỏ), bên trái là Thanh long (rồng xanh), bên phải là Bạch hổ (hổ trắng). Quan niệm phong thủy Trung Hoa và Việt Nam thống nhất về địa thế của Huyền vũ và Minh đường: dựa lưng vào huyền vũ có địa thế như lưng rùa và trông ra minh đường thoáng đãng có thể vươn cánh bay xa như phượng hoàng là tốt. Tuy nhiên, về Thanh long và Bạch hổ thì không thống nhất. Phần lớn người Trung Hoa coi địa thế Thanh long phải thấp hơn Bạch hổ mới tốt. Theo họ, Thanh long được quan niệm là dòng sông - hình dáng con rồng chuyển động; Bạch hổ là khối núi - hình dáng con hổ đang ngồi. Dòng sông phải thấp hơn khối núi mới thuận lẽ tự nhiên và ngược lại. Quan niệm của phần lớn người Việt Nam là Thanh long phải cao hơn Bạch hổ thì mới tốt. Theo họ, rồng là biểu tượng quyền lực của bậc đế vương phải vươn cao hơn hổ. Tuy nhiên, đây không phải là quan niệm của tất cả người Việt Nam. Theo chúng tôi, Thanh long thấp hơn Bạch hổ là hợp lí hơn. Thanh long, Bạch hổ nên được quan niệm là linh vật của tự nhiên, không nên theo quan niệm là biểu tượng quyền lực của con người.

   Theo lí thuyết phong thủy, xứ Nghệ có Huyền vũ là dãy Trường Sơn, Minh đường là biển Đông, rất hợp phong thủy.

    Dãy Trường Sơn được các nhà khoa học đánh giá là “Đệ nhất thiên nhiên Đông Dương” về tầm vóc (sự hùng vĩ của núi) và đa dạng sinh học (sự phong phú về sinh vật tự nhiên).

    Về sự hùng vĩ của dãy Trường Sơn, chỉ tính trong xứ Nghệ cũng đã thấy rõ, có 3 đơn vị núi lớn là khối Pù Hoạt, dãy Pu Xai Lai Leng - Rào Cỏ và khối Hoành Sơn.

   Khối Pù Hoạt có đỉnh Pù Hoạt cao 2.452 m. Dãy Pu Xai Lai Leng - Rào Cỏ có dãy Pu Xai Lai Leng (Nghệ An) đỉnh cao 2.711m và dãy Rào Cỏ (Hà Tĩnh) đỉnh cao 2.235m. Khối Hoành Sơn có đỉnh cao nhất 1.046 m [8].

  Đệ nhất về đa dạng sinh học, chỉ tính ở Trường Sơn Bắc đã có 115 loài thú, 416 loài chim, 87 loài bò sát - lưỡng cư, 119 loài cá nước ngọt, 760 loài động vật không xương sống và khoảng 1.500 loài thực vật. Đáng chú ý là có 25 loài thú, 23 loài chim, 17 loài bò sát - lưỡng cư, 9 loài cá, 24 loài thực vật là những loài đặc hữu hẹp, chỉ có ở Trường Sơn Bắc [4].

    Biển Đông là tên gọi riêng của Việt Nam để nói đến vùng biển có tên quốc tế có tên South China Sea (tiếng Anh) hay Mer de Chine méridionale (tiếng Pháp), trải rộng từ Singapore tới eo biển Đài Loan, diện tích khoảng 3.447.000 km²; lớn thứ tư thế giới sau biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập) [6] (Riêng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam  rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần vùng lãnh thổ trên đất liền; có khoảng 2.030 loài cá, 225 loài tôm, 663 loài tảo rong biển, 55 loài mực, 5 loài rùa, 21 loài rắn biển; nhiều loài hải sản quý khác) [1].

   Từ vị trí địa lí giao thông, địa lí chính trị, địa lí văn hóa đến nguồn lợi, biển Đông thật sự là Minh đường lí tưởng. Xứ Nghệ may mắn có được Minh đường như thế.

Về Thanh long và Bạch hổ của Nghệ An và Hà Tĩnh

   Xét theo lí thuyết phong thủy được nhiều người ủng hộ: Thanh long (dòng sông) thấp hơn Bạch hổ (khối núi) thì Hà Tĩnh có địa thế đẹp hơn Nghệ An.

    Với Hà Tĩnh, Thanh long là Lam giang, dòng chảy uốn lượn mềm mại, nguồn nước dồi dào, màu nước trong xanh gần như quanh năm. Mùa lũ nước không quá lớn. Mùa hạn nước không quá cạn. Hai bên bờ cư dân đông đúc, làng mạc trù phú, sự sống sinh sôi nảy nở. Bạch hổ của Hà Tĩnh là khối Hoành Sơn, ngạo nghễ mà không quá hiểm trở. Các ngọn núi có đỉnh chạy xuôi cùng hướng, quanh năm khí lành không dứt. Với Nghệ An, Thanh long là dãy núi cao thuộc các huyện từ Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn đến các lèn đá vôi của huyện Quỳnh Lưu. Địa hình ở đây rất hiểm trở. Cấu trúc địa tầng có đủ đá macma (nhiều nhất là granit), đá biến chất (tiêu biểu là đá hoa/cẩm thạch), đá trầm tích (rất nhiều đá vôi,…). Hướng núi lộn xộn, đỉnh núi nhọn lởm chởm. Bạch hổ của Nghệ An không phải là một khối núi cao (địa hình dương) mà là Lam giang (địa hình âm).

    Như vậy, theo quan niệm trong phong thủy, Thanh long và Bạch hổ của Hà Tĩnh là thuận theo lí thuyết, còn của Nghệ An thì ngược lại.

  1. Tiểu dị về địa hình trong xứ Nghệ

     Cũng như các tỉnh khác ở miền Trung, Nghệ An và Hà Tĩnh có đủ các dạng địa hình, tính từ Tây sang Đông là: núi, đồi, dải đồng bằng ven biển và biển.

2.1. Tiểu dị về địa hình đồi núi trong xứ Nghệ

    Tuy cùng nằm trên dãy Trường Sơn Bắc nhưng địa hình đồi núi của Nghệ An và Hà Tĩnh có nhiều điểm khác nhau.

  1. Khác về hướng của địa hình đồi núi

    Hướng địa hình đồi núi của Nghệ An là Tây Bắc - Đông Nam, của Hà Tĩnh thiên về Tây - Đông hoặc Tây Nam - Đông Bắc. Nghĩa là hướng địa hình đồi núi của Nghệ An và Hà Tĩnh không những không tương đồng/song song với nhau mà còn vuông góc với nhau, tạo thành hình chữ V. Sự khác nhau này dẫn đến nhiều hệ quả về hướng dòng chảy các con sông và về khí hậu (sẽ trình bày ở các nội dung Tiểu dị về Thủy văn và Tiểu dị về Khí hậu).

  1. Khác nhau về độ cao và bề mặt địa hình đồi núi

     Các dãy núi của Nghệ An đứng đầu về độ cao so với các tỉnh ở Bắc Trung bộ với một loạt đỉnh cao trên 2.000 m như Pu Xai Lai leng 2.711 m, Pù Hoạt 2.452 m, Pu Soong 2.365 m, Pu Tông Chinh 2.345 m, Pu Ma (2.194m), Pu Loong 2.176 m,... [4].

   Đỉnh núi cao nhất của Hà Tĩnh là Rào Cọ (2.235 mét). Ngay cả dãy Hoành Sơn, một đơn vị địa hình đặc biệt, tạo ra bước nhảy thứ nhất về khí hậu từ Bắc vào Nam của Việt Nam cũng chỉ cao 1.044m [5].

    Bề mặt địa hình đồi núi Nghệ An hiểm trở, cắt xẻ mạnh. Độ dốc trung bình của Nghệ An rất lớn, khoảng 12m/km. Bề mặt địa hình đồi núi Hà Tĩnh mềm mại, hầu hết là núi thấp và đồi hình bát úp.

2.2. Tiểu dị về địa hình bờ biển trong xứ Nghệ

  1. Khác về địa hình các dải, cồn cát

   Ở Nghệ An, địa hình các dải cát khu vực ven biển cứ 1 dải cao rồi đến 1 dải trũng. Ở Hà Tĩnh địa hình tương đối phẳng, không phân biệt rõ như thế.

    Hướng của bờ biển Nghệ An và Hà Tĩnh khác nhau dẫn đến hướng, độ lớn, hình dạng của các dải/cồn cát ở Nghệ An và Hà Tĩnh cũng khác nhau.

   Bờ biển Nghệ An chạy theo hướng Bắc - Nam nên các dải/cồn cát ven biển cũng có hướng Bắc - Nam hoặc gần Bắc - Nam, thấy rõ nhất là khu vực Vinh - Cửa Hội - Cửa Lò. Tại đây đã hình thành một hệ thống các dải/cồn cát cao - thấp xen kẽ nhau tương đối đều đặn, cứ 1 dải cao lại đến 1 dải trũng. Các dải cao là khu dân cư với xóm làng trù phú và các vườn trồng hoa màu, cây lâu năm, hiện nay có thêm làng nghề cây cảnh (ở các xã Nghi Phú, Nghi Liên, Nghi Kim). Các dải trũng chủ yếu được dùng để trồng lúa.

    Bờ biển Hà Tĩnh có hướng gần Tây Bắc - Đông Nam nên các dải/cồn cát ven biển cũng có hướng gần Tây Bắc - Đông Nam, có độ cao gần bằng nhau. Nguyên nhân là do bờ biển Hà Tĩnh gần vuông góc với hướng gió Đông Bắc nên các dải cát chịu tác động của gió Đông Bắc mạnh hơn, tạo ra lực đẩy lớn hơn, đẩy các dải cát vào sâu trong đất liền hơn, đồng thời cát trên các dải cao bị gió thổi bay ra, lấp hết các dải trũng. Những năm 1950 trở về trước, vùng ven biển huyện Nghi Xuân của Hà Tĩnh còn có hiện tượng cát tiến vào vùi lấp đồng ruộng, có khi còn đe dọa cả nhà cửa. Gió Đông Bắc thổi vào bờ biển Nghệ An tạo ra 1 góc nhỏ, tác động của gió đối với bờ biển không lớn như đối với bờ biển Hà Tĩnh nên hiện tượng cát tiến vào vùi lấp đồng ruộng, làng mạc là rất hiếm.

    Trong phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, người dân Nghệ An ít tác động hơn vào địa hình các dải/cồn cát so với người Hà Tĩnh. Nông dân các xã ven biển của huyện Kỳ Anh đã có hình thức sử dụng đất cát nghèo dinh dưỡng vào trồng trọt rất hiệu quả. Nông dân đào đất xuống sâu đến gần mực nước ngầm (đường thủy đẳng), tạo ra những ô ruộng trũng nhưng không có nước để trồng hoa màu. Chất dinh dưỡng từ trên bề mặt đất lâu nay được thấm xuống đến độ sâu này thì ít bị di chuyển xuống sâu hơn. Mực nước ngầm thấp sẽ khắc phục tình trạng thiếu nước. Kết quả là nông dân đã tạo ra được môi trường gieo trồng cây hằng năm thích hợp nhất có thể.

    - Khác về địa hình cồn cát chứa vỏ sò: Chỉ có ở Nghệ An, không có ở Hà Tĩnh.

   Bờ biển Nghệ An đoạn phía Bắc sông Cấm có các mũi đá nhô hẳn ra biển (Mũi Gà, Mũi Rồng,…) chia bờ biển thành các bãi tắm hình vòng cung khép kín. Giữa 2 mũi đá là một cồn cát chứa các mảnh vỏ sò cao 5 - 7 m (Các dải này có độ cứng vừa phải, đủ mềm để đục thành các công trình ngầm: phòng nghỉ, rạp hát, casino hang động,... ), đủ cứng để đảm bảo sự bền vững lâu dài.

    Lớp cát chứa mảnh vỏ sò kiểu này còn tìm thấy ở các xã dọc Quốc lộ 1A từ xã Quỳnh Văn của huyện Quỳnh Lưu đến các xã ven biển của huyện Diễn Châu. Trước đây, nhân dân còn đào lớp này, đẽo thành gạch làm vật liệu xây dựng, gọi là “gạch sò” [2]. Địa hình cồn cát chứa mảnh vỏ sò hoàn toàn không có ở Hà Tĩnh.

   Trên các vách hang động của nhiều dãy núi đá vôi ven biển ở Quỳnh Lưu còn rõ các vết xâm thực của nước biển. Kiểu địa hình này cũng hoàn toàn không có ở Hà Tĩnh.

     - Khác nhau về địa hình cồn cát trắng: Chỉ có ở Hà Tĩnh, không có ở Nghệ An.

   Cồn cát trắng là dạng địa hình đặc trưng của một số đoạn bờ biển miền Trung Việt Nam. Cát được sóng và dòng ven bờ đưa vào bờ, sau đó được gió thổi dồn vào sâu trong đất liền đến hàng trăm mét và chất thành cồn cao có khi đến hàng chục mét. Dạng địa hình này rất phổ biến ở Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Thuận, Bình Thuận và rải rác ở một số địa phương khác. Khu vực ven biển từ Cẩm Xuyên đến Kì Anh của Hà Tĩnh có khá nhiều cồn cát trắng dạng này do cát có thành phần chủ yếu là thạch anh, các tạp chất hữu cơ sẫm màu lẫn trong cát bị sóng có tần suất và cường độ cao (do bờ biển vuông góc với hướng gió Đông Bắc) chuyển đi. Bờ biển Nghệ An hoàn toàn không có kiểu địa hình cồn cát trắng này.

  1. Tiểu dị về cấu trúc địa chất trong xứ Nghệ

3.1. Tiểu dị về hoạt động và cấu trúc địa chất

  1. Lãnh thổ Nghệ An được nâng lên nhiều hơn lãnh thổ Hà Tĩnh

    Xứ Nghệ nằm trong địa khối Trường Sơn Bắc. Trong khối này, sự nâng lên của lãnh thổ Nghệ An mạnh hơn của Hà Tĩnh.

    Địa khối Trường Sơn Bắc có vận động Tân kiến tạo có cường độ không đồng đều, giảm dần từ Nghệ An trở vào. Nghĩa là sự nâng lên của lãnh thổ Nghệ An mạnh hơn của Hà Tĩnh. Có thể đó là một trong những nguyên nhân làm cho Nghệ An có nhiều đỉnh núi cao hơn Hà Tĩnh. Ở Hà Tĩnh, các khối núi đá vôi trong lòng đại dương chưa được nâng lên. Kết quả là Hà Tĩnh không có đá vôi.

  1. Khác nhau về thành hệ kiến trúc địa chất

     Nghệ An và Hà Tĩnh nằm trong hệ uốn nếp Trường Sơn, có 3 đới thành hệ kiến trúc: Phức nếp lồi Pù Hoạt, Phức nếp lõm sông Cả và Phức nếp lồi Trường Sơn. Nghệ An và Hà Tĩnh có chung Phức nếp lõm sông Cả. Nghệ An có riêng Phức nếp lồi Pù Hoạt, Hà Tĩnh có đặc điểm của Phức nếp lồi Trường Sơn rõ nét hơn [9].

      3.2. Tiểu dị về địa tầng/nham thạch

  1. Nghệ An có đá bazan, Hà Tĩnh không có

      Nghệ An có đá bazan và sản phẩm phong hóa của đá này là đất đỏ bazan là những thứ mà Hà Tĩnh hoàn toàn không có.

     Lịch sử phát triển địa chất của Nghệ An và Hà Tĩnh đều có hoạt động macma phun trào có tính axit (tỉ lệ SiO2 cao). Ở Nghệ An rõ nhất là đá Rú Mượu. Ở Hà Tĩnh là khu vực hồ chứa Sông Rác. Tuy nhiên loại macma phun trào có tính bazơ (tỉ lệ SiO2 thấp) thì chỉ có ở Nghệ An. Nhờ đó mà Nghệ An có đá bazan, dẫn đến có đất đỏ bazan mà Hà Tĩnh không có.

  1. Nghệ An có nhiều đá vôi, Hà Tĩnh rất hiếm

     Địa tầng đá gốc của Hà Tĩnh rất hiếm đá vôi. Vậy nên Hà Tĩnh không có nhà máy xi măng nào, thậm chí không có cả lò vôi nung đá (Một số lò vôi trước đây ở khu vực ven biển Hà Tĩnh là nung vỏ của các loài nhuyễn thể: nghêu, sò, ốc, hến,… từ lâu đã không hoạt động nữa).

     Đá vôi phân bố nhiều nhất ở các huyện Anh Sơn, Con Cuông, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kì và rải rác ở Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu,... Đây là cơ sở để Nghệ An xây dựng nhiều nhà máy xi măng, nhiều lò nung vôi. Các nhà máy xi măng tiêu biểu là: Hoàng Mai, Cầu Đước, Anh Sơn, Sông Lam,... Lò nung vôi thì rất nhiều xã có.

  1. Nghệ An có đá hoa, Hà Tĩnh không có

    Đá vôi khu vực Phủ Quỳ của Nghệ An chịu ảnh hưởng của hoạt động núi lửa Núi Én (huyện Nghĩa Đàn). Nhiệt độ cao và áp suất lớn khi núi lửa hoạt động làm cho đá vôi gần khu vực núi lửa bị biến chất mạnh, tái kết tinh hoàn toàn tạo thành cấu trúc khảm của các tinh thể canxit, đá giảm độ cứng, tạo ra loại đá vôi bị hoa hóa, còn được gọi là đá hoa hay cẩm thạch (đá đẹp như gấm). Đá hoa là loại đá biến chất từ đá vôi có cấu tạo không phân phiến, có màu đẹp, độ cứng nhỏ (<4 trong Thang độ cứng Mohs gồm 10 cấp) nên thường được sử dụng để tạc tượng, ốp lát trang trí (Tượng thần Vệ Nữ thành Milo  (Venus de Milo) là tác phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ đại của Alexandros xứ Antioch được làm từ loại đá này).

     Ở Việt Nam loại đá này chỉ có nhiều (qui mô khai thác công nghiệp) ở Nghệ An và Yên Bái. Đá hoa khu vực Phủ Quỳ tương đối tinh khiết, có màu trắng đặc trưng. Những nơi bị tái kết tinh mạnh, tạo ra loại đá hoa hạt thô như muối rất quý hiếm, có giá bán rất cao trên thị trường thế giới. Cần phân biệt đá hoa với đá hoa cương. Đá hoa (thuộc nhóm đá biến chất) có độ cứng nhỏ (khoảng 3,5 - 4). Đá hoa cương là đá granit (thuộc nhóm đá macma xâm nhập) có độ cứng 6,5 - 7. Gọi là hoa cương để chỉ đá đẹp (hoa) và cứng (cương).

  1. Nghệ An có đá quý hiếm, Hà Tĩnh chưa tìm thấy

   Đá quí ở Nghệ An có nhiều tại Qùy Châu, chủ yếu là rubi. Đây là nguồn lợi lớn cho phát triển công nghiệp khai thác và chế tác đá quí.

Hà Tĩnh chưa tìm thấy đá quý có trữ lượng có thể khai thác như ở Nghệ An.

  1. Nghệ An có địa hình karster, Hà Tĩnh không có

    Địa hình karst ở Nghệ An phong phú và phát triển trên các thành tạo đá vôi Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghệ An. Trong lịch sử địa chất, khu vực miền núi Nghệ An có hoạt động đứt gãy khá phát triển, do đó đá vôi bị chà xát mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động rửa lũa của nước đối với đá vôi. Nước theo các khe nứt, hòa tan đá vôi tạo nên các dạng địa hình karster. Địa hình karster ở Nghệ An không kéo dài liên tục thành dải (kiểu Phong Nha - Kẻ Bàng), mà nằm rải rác tại các núi đá vôi (lèn) ở khắp các dãy núi đá vôi.

  Quá trình karster đã tạo nên nhiều kiểu địa hình đặc trưng của đá vôi Nghệ An: Karster bóc mòn; Sườn và vách karst bóc mòn (ở xã Mường Típ và ở núi Hồi Cóc của huyện Kì Sơn); Karster xâm thực; Sườn và vách karst xâm thực (ở Kì Sơn, Con Cuông, Anh Sơn, Quế Phong); Các dạng karster xói ngầm; Địa hình đá tai mèo (ở hầu hết các dãy núi đá vôi); Hang động karster rất phong phú, có giá trị du lịch cao, tiêu biểu là các hang: Bua, Thẩm Ồm, Thung Khiển, Mặt Trắng,…[2].

  1. Nghệ An có địa hình tômbôlô, Hà Tĩnh hiện tại chưa có

   Vùng ven biển có một dạng địa hình dùng để chỉ một hòn đảo gần bờ được phù sa bồi đắp, lâu dần được nối liền với bờ, gọi là tômbôlô [2].

    Các đảo gần bờ ở Nghệ An có xu hướng và tốc độ hình thành tômbôlô nhanh hơn Hà Tĩnh. Trong vài chục năm lại đây, tại Cửa Lò, phù sa đã nối bờ biển với đảo Lèn Chu (trước đây đảo này nằm cách xa bờ hàng chục mét), hình thành tômbôlô có tên Lan Châu, nay là một điểm du lịch - nhà hàng. Hiện tại, đảo Hòn Ngư đang trong quá trình hình thành tômbôlô với tốc độ ngày càng nhanh. Vị trí nằm ở bờ Bắc và gần cửa sông Lam là một lợi thế rất lớn trong việc bồi đắp phù sa của địa hình bờ biển Nghệ An (vì giới hạn dung lượng, bài viết không thể giải thích lí do). Chỉ một thời gian ngắn nữa, tômbôlô Hòn Ngư sẽ được hình thành, cho dù biến đổi khí hậu có làm nước biển dâng, bởi vì quá trình bồi lắng phù sa ở đây nhanh hơn quá trình nước biển dâng, chưa kể, vùng ven biển Nghệ An nói riêng, Bắc Trung bộ nói chung, thuộc khu vực địa chất đang được nâng lên [7].

Trong khi đó các đảo được coi là của Hà Tĩnh là Hòn Nồm, Hòn Lạp (cách bờ biển khoảng 4km), Hòn Én (cách bờ biển 5km), Hòn Bơớc (cách bờ biển 2km), Hòn Sơn Dương (cách bờ biển 4km, giáp ranh với tỉnh Quảng Bình) chưa thấy có xu hướng hình thành tômbôlô.

    (Hiện tượng này dựa trên nguyên lí: Các đảo ven bờ tạo ra các bóng sóng làm cho vận tốc sóng và vận tốc các dòng chảy ven bờ giảm nhanh. Khi vận tốc giảm thì phù sa sẽ lắng xuống, bồi đắp bờ biển để nối bờ biển với các đảo ven bờ, hình thành nên các tômbôlô).

  1. Tiểu dị về khí hậu
  2. Khác nhau về tính biển

    “Tính biển” được xác định bằng tỉ lệ: đường bờ biển/diện tích đất liền. Tính trung bình mỗi tỉnh ven biển của Việt Nam có 112 km đường bờ biển. Nghệ An có đường bờ biển nhỏ hơn, Hà Tĩnh có đường bờ biển lớn hơn trung bình chung này. Xét về tính biển thì:

     Hà Tĩnh là một tỉnh “đại dương”: 137 km đường bờ biển trên diện tích đất liền 5.997,3 km2, tỉ lệ: 1km bờ biển/44km2 đất liền.

    Nghệ An là một tỉnh “lục địa”: 82 km đường bờ biển trên diện tích đất liền 16.493,7km2, tỉ lệ 1km bờ biển/201km2 đất liền, chỉ bằng khoảng 1/5 (20%) của Hà Tĩnh. Trong xu hướng tiến ra biển hiện nay, Hà Tĩnh có nhiều lợi thế hơn để phát triển kinh tế - xã hội.

  1. Khác nhau về ảnh hưởng của gió mùa

     Đặc trưng khí hậu Bắc Trung bộ là có cả thời tiết lạnh của gió mùa Đông Bắc (mùa đông) và thời tiết khô nóng do hiệu ứng phơn của gió mùa Tây Nam (mùa hè).

      Do hướng của địa hình đồi núi khác nhau mà ảnh hưởng của gió mùa ở Nghệ An và Hà Tĩnh cũng khác nhau.

      Địa hình chắn gió tạo ra sự thiếu hụt lượng mưa tiêu biểu của Nghệ An là khu vực dọc sông Cả, đoạn từ Mường Xén của huyện Kì Sơn đến giáp huyện Con Cuông. Các dãy núi cao ở đây tạo ra một thung lũng khuất gió, lượng mưa bình quân chỉ đạt 600 -  700mm/năm, thấp hơn lượng bốc hơi 600 - 800mm/năm, modul lưu lượng nhỏ, chỉ dưới 15 l/s/km2; tương đương chỉ tiêu khí hậu bán khô hạn/bán sa mạc (Việt Nam chỉ có  2 khu vực có lượng mưa thấp như thế là Ninh Thuận - Bình Thuận và khu vực này của Nghệ An). Đây là cơ sở để Nghệ An nghiên cứu đánh giá thích nghi cây trồng vật nuôi, đưa vào thử nghiệm nuôi trồng các loại cây con chịu hạn có giá trị kinh tế cao và đầu ra thuận lợi như: nho, bông, vani, cừu, đã thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng Ninh Thuận - Bình Thuận.

    Địa hình chắn gió tạo ra sự dư thừa lượng mưa tiêu biểu của Hà Tĩnh là khu vực sườn Bắc của dãy Hoành Sơn, thuộc địa phận phía Nam huyện Kì Anh. Gió mùa Đông Bắc khi thổi đến đây thì bị chặn lại, gây ra lượng mưa lớn cục bộ. Dãy Hoành Sơn là địa hình chắn gió Đông Bắc, được coi là bước nhảy thứ Nhất về khí hậu theo chiều Bắc - Nam của Việt Nam. Các huyện đồng bằng từ Cẩm Xuyên trở ra, lượng mưa mùa đông thấp hơn hẳn so với khu vực cực Nam huyện Kì Anh.

    Mùa hè, toàn lãnh thổ Nghệ An đều chịu ảnh hưởng của gió Lào khô nóng thì Hà Tĩnh chỉ có 2 phía Nam và Bắc chịu ảnh hưởng rất mạnh của loại gió này, còn vùng giữa, rõ nhất là thành phố Hà Tĩnh, rất ít khi có gió Lào thổi qua. Hình như chưa có tài liệu nào nói về hiện tượng này trong khi thực tế thì người dân ở thành phố Hà Tĩnh đều nhận biết được.

  1. Tiểu dị về thổ nhưỡng

  Như đã trình bày ở phần địa chất, Hà Tĩnh không có đá bazan nên không có đất đỏ bazan, trong khi đó Nghệ An có đến 13 ngàn ha. Đây là loại đất giàu dinh dưỡng bậc nhất trong các loại đất feralit đồi núi. Ở Bắc Trung bộ của Việt Nam loại đất này chỉ có nhiều ở các huyện Cam Lộ, Gio Linh của tỉnh Quảng Trị và vùng Phủ Qùy của Nghệ An [7].

  Cũng do rất ít đá vôi nên Hà Tĩnh gần như không có đất phong hóa từ đá vôi, trong khi đó ở Nghệ An huyện nào cũng có loại đất này. Ở Bắc Trung bộ của Việt Nam loại đất này tỉnh nào cũng có nhiều, trừ Hà Tĩnh. Như vây, thổ nhưỡng của Hà Tĩnh đơn giản hơn của Nghệ An, thiếu hẳn loại đất đỏ bazan, đất tích vôi và đất phong hóa trên nền đá vôi.

  1. Tiểu dị về hệ thực vật và cây trồng

   Sự khác biệt về vị trí địa lí và độ cao địa hình đã tạo ra sự khác biệt giữa Nghệ An và Hà Tĩnh về một số loại thực vật tự nhiên và cả cây trồng, dễ nhận thấy là một số loại cây có nguồn gốc cận nhiệt đới.

   Vùng núi cao của Nghệ An có nhiều pơmu, samu tạo thành các cánh rừng thực vật khổng lồ ở các huyện Quế Phong, Kì Sơn, Tương Dương (Tiêu biểu là rừng samu ở xã Thông Thụ huyện Quế Phong). Hà Tĩnh không có các cánh rừng các loại thực vật họ thông như thế, cũng không có các cánh rừng săng lẻ tiểu biểu như ở Tương Dương của Nghệ An.

   Quế rất phát triển ở Nghệ An: “Nhất quế Qùy, nhì quế Thanh”. “Quế Quỳ” chỉ vùng Quỳ Châu và Quế Phong của Nghệ An, nơi có nhiều quế tự nhiên phát triển. Hà Tĩnh lại rất hiếm quế. Tương tự như thế là sơn và hồi: các loại cây này phát triển ở Nghệ An nhưng không thấy nhiều ở Hà Tĩnh.

   Ở vùng đồng bằng ven biển, hệ thống cây trồng, nhất là loại cây thực phẩm ngắn ngày có nguồn gốc cận nhiệt đới và ôn đới, có sự khác biệt rất lớn giữa Nghệ An và Hà Tĩnh. Chỉ là ranh giới con sông Lam mong manh nhưng ở phía Nghệ An, các loại cải bắp, su hào, cà chua,... được trồng nhiều và phát triển rất tốt trong khi ở bờ Nam, Hà Tĩnh rất khó trồng các loại cây này.

  1. Tiểu dị về hướng dòng chảy của các con sông lớn

     Địa hình là nhân tố quyết định hướng dòng chảy của các con sông trong một vùng lãnh thổ. Nghệ An và Hà Tĩnh cùng nằm trong đơn vị địa hình lớn là dãy Trường Sơn Bắc. Thế nhưng hướng địa hình núi của Nghệ An và dòng chảy của các con sông lớn ở Nghệ An và Hà Tĩnh rất khác nhau. Các dòng sông lớn của Nghệ An như Nậm Nơn, Nậm Mô có hướng dòng chảy là Tây Bắc - Đông Nam. Các dòng sông lớn của Hà Tĩnh như Ngàn Sâu, Ngàn Phố có hướng dòng chảy là Tây Nam - Đông Bắc, vuông góc với hướng của các sông lớn ở Nghệ An. Các sông lớn của 2 tỉnh hợp nhất thành hình chữ V ở hạ lưu sông Lam để cùng chảy ra biển ở Cửa Hội.

Kết luận

    Nghệ An và Hà Tĩnh cùng nằm trong một xứ “non xanh nước biếc” nhưng gần như tất các hợp phần tự nhiên của hệ thống lãnh thổ này, từ địa hình, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn đến thực vật (cả tự nhiên và cây trồng) đều không giống nhau. 

     Nghiên cứu sự khác biệt về tự nhiên giữa Nghệ An và Hà Tĩnh gần như chưa có, thậm chí chưa có cả trong suy nghĩ của những con người quan tâm và yêu mến xứ Nghệ. Bởi xưa nay và trong tâm khảm, người xứ Nghệ không muốn có sự phân hóa nào giữa 2 bộ phận này, kể cả những an bài của tạo hóa.

   Bài viết hi vọng góp phần giúp người xứ Nghệ hiểu nhau hơn, yêu quý hơn những gì của riêng mình và trân trọng những khác biệt của nửa khác trong một vùng lãnh thổ thống nhất. Các nhà quản lí cũng có thể tham khảo thêm về các khác biệt để hoạch định chiến lược phát triển của riêng địa phương mình trong cái nền chung của xứ Nghệ.

(Còn tiếp kỳ sau)

Tài liệu tham khảo

  1. Công ty TNHH MTV Thông tin điện tử Hàng hải Việt Nam, Nguồn lợi hải sản ở vùng biển Việt Nam, Cổng thông tin điện tử, 2018.
  2. Đào Khang, Địa mạo bờ biển huyện Nghi Lộc, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội 1990.
  3. Đào Khang, Khả năng hợp tác phát triển du lịch Nghệ An, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 6/2010.
  4. Đào Khang (Chủ biên), Địa lý Nghệ An, NXB Thông tin và Truyền thông 2014.
  5. Lịch sử Trường chính trị Hà Tĩnh 1945-2002, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr. 13. Truy cập trên Internet ngày 23 tháng 7 năm 2016.
  6. Nguyễn Văn Nhưng, Nguyễn Văn Việt, Phân vùng địa lý tự nhiên đất liền, đảo - biển Việt Nam và lân cận, Hà Nội tháng 4 năm 1998.
  7. Lê Bá Thảo, Thiên nhiên Việt Nam, NXBGD 2009.
  8. Cổng thông tin điện tử các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.
  9. A. E. Dovjikov, Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam 1.500.000. Tổng cục địa chất 1965.
KHXHNV & Đời sống khác:
Ảnh hưởng của Phật giáo đối với giới trí thức phong kiến Đại Việt (21/5/2019)
NHỮNG ĐIỀU LẠ Ở DI CHÚC CỦA BÁC HỒ (16/5/2019)
Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng thay đổi cơ cấu kinh tế (15/5/2019)
Tóm tắt tiểu sử Nguyên Chủ tịch nước - Đại tướng Lê Đức Anh (3/5/2019)
Đại tướng Lê Đức Anh và tấm lòng với Nghệ An (3/5/2019)
Nối tiếp tinh thần đại thắng mùa Xuân 1975 (24/4/2019)
Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, mãi mãi tự hào của dân tộc ta (24/4/2019)
Vài suy tư về Ngày 30 tháng Tư... (23/4/2019)
Những ca khúc đầy ấn tượng ra đời trong đại thắng mùa Xuân năm 1975 (Bài viết nhân kỉ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975 - 30/4/2019) (10/4/2019)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ trí thức ngành y tế (10/4/2019)
Tiểu dị trong đại đồng xứ Nghệ Kì 2: Tiểu dị về nhân văn trong đại đồng xứ Nghệ (22/3/2019)
Xúc tiến đầu tư vào Nghệ An 11 năm nhìn lại (22/3/2019)
Lễ hội Xăng Khan trong tâm thức của đồng bào dân tộc Thái miền Tây Nghệ An (6/3/2019)
“Hát mừng nhà mới” - dân ca nghi lễ, phong tục Thái (26/2/2019)
Nghệ An sẽ dồn nguồn lực tương xứng nhất cho công cuộc hỗ trợ các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các startup (26/2/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 700 | Tất cả: 1,715,254
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp