ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Những Người Thầy dạy binh pháp thời phong kiến
Tin đăng ngày: 2/1/2019 - Xem: 231
 

 

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thời Trần, Nguyễn Trãi thời Hậu Lê, Đào Duy Từ thời Chúa Nguyễn ở Đàng Trong là những Người Thầy dạy binh pháp giỏi hiếm có ở nước ta thời phong kiến.

 Hưng Đạo Vương chọn và luyện tướng

Upload

Tượng đài Hưng Đạo Vương ở thành phố Nam Định

Hưng Đạo Vương là vị tướng tài năng nhất của của đời Trần. Với vai trò là Tiết chế các đạo quân thủy bộ trong kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai và thứ ba, ông đã viết ra “Binh thư yếu lược”, “Vạn kiếp tông bí truyền thư” và “Dụ chư tỳ tướng hịch văn” để răn dạy thuộc tướng của mình về đạo làm tướng. Những lời răn dạy đó đã tiếp thêm sức mạnh cho binh tướng nhà Trần, giúp cho Đại Việt quét sạch lũ quân giặc Mông – Nguyên hung bạo nhất thế giới lúc bấy giờ.

Hưng Đạo Vương tên thật là Trần Quốc Tuấn, là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu vua Trần Thái Tông. Ông quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Năm sinh của ông không rõ ràng. Ông mất vào ngày 20 tháng Tám năm Canh Tý (1300). Triều đình sau đó gia phong cho ông tước Hưng Đạo Đại Vương. Người dân thì kính trọng ông nên phong Thánh, tức là Đức Thánh Trần.

Hưng Đạo Vương trong cả ba lần quân Nguyên – Mông tấn công Đại Việt đều được vua Trần cử làm tướng. Đặc biệt ở kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai và thứ ba, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ. Dưới tài lãnh đạo của Hưng Đạo Vương, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi giặc Nguyên – Mông ra khỏi Đại Việt.

Nguyên nhân là do Hưng Đạo Vương đã nghiên cứu kỹ binh thư các đời, biết dùng người hiền tài, trong đó có nhiều người là tướng giỏi sau này như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng... Trước sự bành trường của nhà Nguyên, nhà Trần đã đề phòng, chuẩn bị kháng chiến. Hưng Đạo Vương đã mở trường dạy võ, dạy con em hoàng tộc và những người tài giỏi trong nước. Ông thường đi khắp các lộ, kiểm soát các giảng võ đường địa phương, thu dụng nhiều người tài giỏi trong nước. Tại Đền thờ các vua Trần ở xã Tức Mặc, thành phố Nam Định có ghi tám điểm xem người khi chọn tướng của Hưng Đạo Vương, trích trong “Binh thư yếu lược”, với nội dung như sau:

  1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không.
  2. Gạn cùng bằng lời lẽ xem có biến hóa không.
  3. Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
  4. Hỏi rõ ràng tường tận xem đức hạnh thế nào.
  5. Lấy của mà thử xem có thanh liêm không.
  6. Lấy sắc đẹp mà thử xem có đứng đắn không.
  7. Lấy việc khó khăn mà thử xem có dũng cảm không.
  8. Cho uống rượu say để xem có giữ đúng thái độ không.

Từ đó Hưng Đạo Vương cũng soạn ra “Vạn kiếp tông bí truyền thư” làm nền tảng cấu trúc quân đội thời Trần để tập tướng luyện quân. Trần Khánh Dư trong đề tựa “Vạn kiếp tông bí truyền thư” cũng đã viết về tài của người làm tướng, rằng: “Phàm giỏi dùng binh thì không cần bày trận, giỏi bày trận thì không cần đánh, giỏi đánh thì không để thua, giỏi thua thì không chịu mất”.

Trung Quốc tự hào với Binh pháp Tôn Tử (thời Xuân Thu), Binh pháp Tôn Tẫn (thời Chiến Quốc), Binh pháp Gia Cát Lượng (thời Tam Quốc), Binh pháp Nhạc Phi (thời Nam Tống). Nhưng đến khi vó ngựa quân Mông Cổ xâm phạm đến thì người Hán nước mất nhà tan. Nguyên nhân được Trần Khánh Dư chỉ ra là do các binh pháp nói trên “người đương thời ít ai hiểu được, thấy muôn đầu ngàn mối, cho là rối rắm, chưa từng biến đổi” còn “những người đời sau cũng không hiểu ý nghĩa”.  Bởi vậy, Trần Khánh Dư tỏ ra khâm phục Hưng Đạo Vương khi ông đã “hiệu đính”, “biên tập đồ pháp của các nhà” và soạn thành một sách. Đó chính là “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” như đã nêu ở trên.

Có một câu chuyện về lòng trung thành của Yết Kiêu, là thuộc tướng của Hưng Đạo Vương để nói lên cách dùng tướng của Hưng Đạo Vương. Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế (1242-1301) sinh ra trong gia đình ngư dân nghèo ở vùng nước châu thổ sông Hồng nay là thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, Hải Dương. Năm 1258, nước Đại Việt bị giặc Mông Cổ phía Bắc lăm le xâm lược, nghe tiếng loa truyền tìm người ra giúp nước, Phạm Hữu Thế quyết định lên đường tòng quân. Ông được tuyển vào thủy quân của nhà Trần. Cũng trong năm ấy, triều đình mở nhiều hội thi để chọn người tài, trong đó đấu vật được xem là cuộc thi quan trọng nhất để chọn người tài theo cạnh Hưng Đạo Vương và Phạm Hữu Thế đã thắng cuộc. Cùng với Dã Tượng là tướng tài lục quân, Yết Kiêu là tướng sông nước. Hai ông được Hưng Đạo Vương coi là thuộc tướng. Khi quân Nguyên kéo tới, Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân (trên sông Lục Nam) còn Dã Tượng đi theo Hưng Đạo Vương. Khi quân Đại Việt thua chạy, thủy quân bị tan cả, Hưng Đạo Vương định rút theo lối chân núi. Dã Tượng nói: - Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền. Hưng Đạo Vương đến Bãi Tân, chỉ có thuyền Yết Kiêu vẫn còn ở đó, vui mừng nói: - Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi. Nói xong chèo thuyền đi, kỵ binh Nguyên đuổi theo không kịp. Bên cạnh đó, Yết Kiêu cũng đã tự mình đục thủng nhiều thuyền chiến của giặc, khiến quân Mông – Nguyên khiếp vía.

Tiếp đó là câu chuyện Hưng Đạo Vương chọn Phạm Ngũ Lão làm tướng. Phạm Ngũ Lão (1255–1320) người làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là cháu tám đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh. Chuyện kể rằng, Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy Phạm Ngũ Lão ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi. Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi thản nhiên, như không để ý đến ai cả. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không nhúc nhích, thấy vậy Hưng Đạo Vương dừng lại hỏi, bấy giờ Phạm Ngũ Lão mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Trần Hưng Đạo cho ông ngồi cùng kiệu đưa về kinh sư. Từ đó Phạm Ngũ Lão trở thành môn khách của Hưng Đạo Vương. Ông cũng được Hưng Đạo Vương gả con gái nuôi là quận chúa Anh Nguyên và dạy cho binh pháp. Trong hai cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (1285-1288) Phạm Ngũ Lão lập được nhiều chiến công. Năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai ông cùng với Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh thuyền khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long. Sau đó, Phạm Ngũ Lão được lệnh mang 3 vạn quân phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp, chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía bắc và diệt được hai phó tướng địch là Lý Quán và Lý Hằng. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, Phạm Ngũ Lão cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng, trong trận này quân nhà Trần bắt sống các tướng nhà Nguyên là Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi. Phạm Ngũ Lão cũng tiếp tục truy kích cánh quân của Thoát Hoan trên đường bộ, đuổi chúng đến tận biên giới. Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ông cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu. Phạm Ngũ Lão cũng đã ba lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao vào các năm 1294, 1297 và 1301; hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành vào năm 1312, buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng và 1318 vua Chế Năng phải bỏ chạy sang Java. Nếu Hưng Đạo Vương không nhận ra tài của Phạm Ngũ Lão và rèn luyện cho ông, Đại Việt xem như mất đi một tướng tài.

Bên cạnh việc đánh giặc cứu nước, người làm tướng cũng phải giúp dân, lo nghĩ cho cuộc sống của dân trong thời hòa bình. Vì sau khi sạch bóng quân thù, đất nước sẽ trở lại thái bình nhưng cũng đầy rẫy đau thương, mất mát. Bởi vậy, trong bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư”, Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải với chức Thượng tướng Thái sư đã khuyên vua Trần nên bắt tay ngay vào việc xây dựng lại đất nước: “Đoạt sáo Chương Dương độ/Cầm hồ Hàm Tử Quan/Thái bình tu trí lực/Vạn cổ thử giang san” (“Bến Chương Dương cướp giáo/Cửa Hàm Tử bắt thù/Thái bình nên gắng sức/Non nước cũ muôn thu”). Tư tưởng của Hưng Đạo Vương cũng là “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”.

Vì sao Hưng Đạo Vương phải viết ra “Binh thư yếu lược”? Bởi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thấy được thực trạng có những người làm tướng lấy việc vui thú cá nhân có thể làm trễ nải việc quân cơ đại sự, trong khi âm mưu xâm lược của quân Nguyên – Mông đã lộ rõ. Ông viết trong “Dụ chư tỳ tướng hịch văn” rằng: “Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm.

Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai”.

Bên cạnh đó, người làm tướng theo Hưng Đạo Vương phải nên lấy việc “đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ” làm nguy; nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm sợ. Đó chính là người làm tướng phải luôn đề cao cảnh giác đối với âm mưu từ các thế lực muốn xâm lược, chống phá đất nước. Do đó, người làm tướng phải thường xuyên huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến “cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhại Như”. Thực tế đã chứng minh là quân Mông – Nguyên không những xâm lược ta một lần mà đến ba lần. Cho nên sự răn dạy của Hưng Đạo Vương đối với các thuộc tướng của mình như trên là rất chính xác và kịp thời.

Ngoài ra, Hưng Đạo Vương cho rằng người làm tướng cũng phải luôn học tập binh pháp. Trong “Dụ chư tỳ tướng hịch văn”, Hưng Đạo Vương đã răn dạy các thuộc tướng rằng: “Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù. Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc”.

Điều đáng tiếc là “Binh thư yếu lược” và ra “Vạn kiếp tông bí truyền thư” đến nay đã bị thất lạc. Nguyên nhân có thể là do đây là sách quân sự bí mật, chỉ thuộc về con cháu hoàng tộc dòng họ Trần. Như Trần Khánh Dư đã viết: “Sách ấy dùng đã ba đời trăm đánh trăm thắng, cho nên đương thời có thể làm rúng động quân Hung nô ở phía bắc, làm cho nước Lâm Ấp ở phía tây phải khiếp uy, nên sách này được biên chép làm của gia truyền không được phép tiết lộ ra ngoài”.

Nhưng sau đó,vì nhiều nguyên nhân, nhà Trần dần suy kiệt. Một bộ phận người làm tướng đã mất đi khí chất. Trần Khánh Dư, viên tướng già từng đi bán than, có công lao đánh giặc giữ nước cũng đã nói về mối quan hệ quan – dân trước vua Trần Anh Tông rằng: “Tướng là chim ưng, quân dân là vịt, lấy vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?”. Tướng như thế nên không thể luyện quân tinh nhuệ. Bởi thế, sau đó quân Champa đã từng tấn công Đại Việt rất nhiều lần, có lần còn ra tận kinh đô Thăng Long.

Nguyễn Trãi: “Không đánh thành, chỉ đánh vào lòng người”

Upload

Nguyễn Trãi là bậc thầy trong việc “Mưu phạt tâm công”, tức binh pháp “Đánh vào lòng người”

Năm 1416, Nguyễn Trãi trốn khỏi Đông Quan, nơi bọn giặc Minh quản thúc ông và sau đó dâng “Bình Ngô sách” cho Lê Lợi ở Lỗi Giang, Thanh Hoá, để mưu đại sự là đuổi bọn giặc Minh đang đô hộ nước ta về nước, giải phóng dân tộc. Trong bài tựa “Ức Trai di tập”, Ngô Thế Vinh cho biết “Bình Ngô sách” đã “hiến mưu chước lớn không nói đến việc đánh thành, mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người”. Binh pháp Tôn Tử của Trung Quốc cũng từng chép: “Cách dùng binh trên hết là đánh bằng mưu, thứ đến là đánh bằng ngoại giao, thứ đến là dùng binh đao, cuối cùng là đánh thành. Dùng đến cách đánh thành chỉ là bất đắc dĩ”. Sau khi xem “Bình Ngô sách”, Nguyễn Trãi được Lê Lợi phong cho chức Tuyên phong đại phu Thừa chỉ Hàn Lâm viện, ngày đêm dự bàn việc quân.

Thuở đó, lòng dân còn phân tán. Muốn làm cho mọi người tin tưởng vào nghĩa quân Lam Sơn, Nguyễn Trãi sai người lấy mỡ viết vào lá cây trên rừng tám chữ: “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” (Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi). Kiến, sâu ăn mỡ khoét lá rỗng thành chữ, lá rụng trôi theo dòng nước đến khắp mọi nơi. Nhân dân cho là “ý Trời” thương dân mượn tay Lê Lợi, Nguyễn Trãi khử bạo trừ hung nên rủ nhau nườm nượp về Lam Sơn tụ nghĩa và dốc hết lòng vào cuộc kháng chiến thần thánh. Bên cạnh đó, trong truyền thuyết Hồ Gươm, việc Đức Long Quân trao kiếm khắc hai chữ “Thuận Thiên” (thuận theo ý Trời) cho Lê Lợi cũng là một cách “đánh vào lòng người” của Nguyễn Trãi. Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nội dung của các truyền thuyết đã được Nguyễn Trãi đưa vào trong sách “Lam Sơn Thực lục”.

Nhân nghĩa là cội nguồn của cuộc sống. Có nhân nghĩa thì thành công, không nhân nghĩa thì thất bại. Bọn giặc Minh xâm lược đã “Dối trời, lừa dân đủ muôn nghìn kế/ Gây binh, kết oán trãi hai mươi năm/ Bại nhân nghĩa, nát cả đất trời” (Bình Ngô Đại Cáo).

Do đó, binh pháp “đánh vào lòng người” của Nguyễn Trãi đã giúp khởi nghĩa Lam Sơn trong việc thu phục lòng dân khi tiến quân mở rộng cuộc khởi nghĩa. Kết quả là “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào” (Bình Ngô Đại Cáo).

Ngày 25 tháng Giêng năm Ất Tỵ (1425), khi nghĩa quân tiến vào Nghệ An, các chỉ huy khởi nghĩa Lam Sơn đã ra lệnh cho tướng sĩ: “Dân ta khốn khổ vì giặc đã lâu, phàm đến châu huyện nào mảy may không được xâm phạm”. Cho nên, “Lam Sơn Thực lục” cho biết, sau khi lệnh trên được thi hành, “nhân dân chẳng ai là không vui mừng, tranh nhau đem trâu, rượu ra đón khao dùng vào quân dụng”.

Khi nghĩa quân Lam Sơn cho một bộ phận đột nhiên quay trở lại đánh úp Tây Đô thì nhân dân Thanh Hóa đều thi nhau đến cửa quân, xin hăng hái ra sức để mưu báo đền.

“Lam Sơn Thực lục” cho biết thêm nữa, khi tiến ra Bắc, nghĩa quân Lam Sơn được nhân dân các lộ Đông Kinh cùng phiên trấn các xứ hân hoan, tranh nhau đem bò, dê, lương thực đến để khao tướng sĩ.

Cuối năm 1426, khi quân ta tiến ra vây thành Đông Đô thì: “trong ba ngày đầu, nhân dân kinh lộ và các phủ châu huyện cùng các tù trưởng ở biên trấn đều tấp nập đến cửa quân, xin ra sức liều chết để đánh thành giặc các nơi”.

Cho nên việc tổ chức Hội thề Đông Quan (ngày 10-12-1427) để cho Vương Thông rút quân về nước chính là vì “Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức/ Chẳng những mưu kế kì diệu/ Cũng là chưa thấy xưa nay” (Bình Ngô Đại Cáo).

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”- khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi cũng chính là do đây là đội quân lấy nhân nghĩa làm đầu. Có nhân nghĩa sẽ tạo ra được một đội quân không có kẻ thù nào có thể địch lại được. Đó chính là đỉnh cao của binh pháp “Đánh vào lòng người” của Nguyễn Trãi!

Đào Duy Từ: “Tử Phòng và Khổng Minh” của Chúa Nguyễn

Upload

Đào Duy Từ là người coi trọng cách chọn và luyện tướng nên đã giúp cho các chúa Nguyễn mở mang được bờ cõi và hùng cứ được một phương.

Đào Duy Từ (1572-1634), tự là Lộc Khê, là một người văn võ toàn tài. Năm 1627, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gặp ông liền trọng dụng, trao ngay cho chức Nha uý nội tán, tước Lộc khê hầu, trông coi việc quân cơ và Tham lý quốc chính. Sau đó, mỗi khi mưu tính việc quân, Đào Duy Từ nói gì chúa cũng nghe và được Chúa Nguyễn Phúc Nguyên khen: “Đào Duy Từ là Tử Phòng và Khổng Minh ngày nay”.

Đào Duy Từ giúp việc chúa Nguyễn chỉ có tám năm cuối đời mà ông đã được đánh giá rất cao. Ông trở thành người đứng đầu trong hàng khai quốc công thần, có công lớn giúp dòng họ Nguyễn từ một thế lực nhỏ buổi đầu còn phụ thuộc nhà Lê - Trịnh nhanh chóng trưởng thành lớn mạnh, hùng cứ một phương.

Đào Duy Từ có sách “Hổ trướng khu Cơ” viết bằng chữ Hán, chia thành ba tập: Tập Thiên, Tập Địa và Tập Nhân. Sách “Hổ trướng khu Cơ” của Đào Duy Từ được xem là bộ binh pháp duy nhất còn lưu truyền đến nay. Trong đó, quan điểm của Đào Duy Từ về đạo lâm tướng cũng kế thừa và gần giống với quan điểm của Hưng Đạo Vương, coi đạo làm tướng phải lấy nhân nghĩa làm đầu.

Ông viết: “Nhân là đức của lòng người. Tướng không đốc lòng nhân thì không thể có kết nhân tâm được… Nghĩa là lẽ phải của việc để cố kết lòng người. Không có nghĩa thì không có lẽ phải. Cho nên tướng tất trước hết phải biết nghĩa. Nghĩa đã rõ thì đốc lòng trung báo ơn nước, xử sự đúng lẽ phải thì duy trì được lòng người…”. Cùng với Nhân và Nghĩa, người tướng còn phải có đủ sáu điều khác như: Tín, Trí, Minh, Tài năng, Cương dũng và Nghiêm minh.

Huế, ngày 16/11/2017

N.V.T

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Khám phá ngôi đình cổ 300 năm tuổi ở xứ Nghệ được dựng chỉ trong 1 đêm (14/9/2019)
Nhà thơ dân gian Trần Hữu Nghiêm (12/9/2019)
Phúc Lâm bá Nguyễn Văn Viện - Người được lập đền thờ khi còn sống (9/9/2019)
Những hình ảnh quý hiếm về cảng Bến Thủy sầm uất gần một thế kỷ trước (7/9/2019)
Hai “câu đối” trong đền Chín Gian ở Quế Phong (7/8/2019)
Phủ Hưng Nguyên qua các văn bản chữ Hán dưới triều Nguyễn (7/8/2019)
Tuần Thiện Đàn - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa của một vùng (7/8/2019)
Tư tưởng đoàn kết một trong những nội dung cốt lõi của "Di chúc" Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/7/2019)
Miền đất cổ Mường Chiêng Ngam (10/7/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (5/6/2019)
Miền Tây Nghệ An - Phong phú các loại hình văn hóa vật thể (24/5/2019)
Đào nương Trần Thị Khoan Cung phi của chúa Trịnh (21/5/2019)
Dòng họ 5 thế kỷ hát ca trù (21/5/2019)
Truyền thống hiếu học trên mảnh đất Dương Xuân (24/4/2019)
Tiền sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục khoa bảng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (24/4/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 4/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,142 | Tất cả: 1,827,287
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp