KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Thiên Tiên Thánh Giáo: tín ngưỡng độc đáo!
Tin đăng ngày: 22/12/2018 - Xem: 277
 

 

Thiên Tiên Thánh Giáo là một tín ngưỡng dân gian đặc trưng của Huế. Tín ngưỡng này tích hợp Đạo giáo Trung Hoa đã thoái hóa với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt do cộng đồng di dân Nam Định trước thời Nguyễn khai lập và nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác sau này. Với gốc tích đặc thù đó, Thiên Tiên Thánh Giáo có những biểu hiện về việc thờ cúng, nghi thức, khiêng cử khá đặc biệt. Đến nay, mặc dù đã suy tàn sau thời kỳ đỉnh cao nhưng tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh Giáo đã kịp để lại dấu ấn của mình trong niềm tin, tâm thức, kiến trúc, lễ hội của nhân dân Thừa Thiên - Huế.

Mảnh đất Thừa Thiên - Huế nằm trên một tầng vỉa văn hóa khá đặc trưng. Nơi đây từng là một bộ phận của vương quốc Champa, sau được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt, rồi trở thành Kinh đô của ba thế lực phong kiến Việt Nam (Chúa Nguyễn, Tây Sơn và triều Nguyễn). Chính bối cảnh đặc biệt đó đã sản sinh những nét đặc trưng về văn hóa trên mảnh đất này. Một trong số đó là tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh Giáo.

Upload 

 Đoàn lễ rước trang nghiêm với nhiều màu sắc đặc trưng của đạo Thiên Tiên Thánh

1. Gốc tích của tín ngưỡng

Đến nay vẫn chưa xác định rõ thời điểm hình thành tín ngưỡng này ở Huế. Chỉ biết vào năm Quý Sửu 1553, Dương Văn An soạn “Ô châu cận lục” đã ghi nhận sinh hoạt hiến tế có chầu văn tại đoạn sông Kim Trà (sông Hương ngày nay).

Tuy nhiên, sự ra đời của tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh Giáo ở Huế lại xuất phát chính thức từ sự gắn kết lâu dài của Hội Sơn Nam với ngôi điện Huệ Nam thời Nguyễn.

Hội Sơn Nam là những người dân từ Nam Định di cư vào Huế từ thời tiền Nguyễn. Tín ngưỡng đặc trưng của hội này là tín ngưỡng thờ Mẫu kết hợp với việc thờ Đạo giáo đã thoái hóa (không thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng, Huyền Thiên, Xương Văn, Thái Ất).

Bên cạnh đó, Huệ Nam điện vốn là ngôi đền thờ PoNagar của người Chăm (hiện tọa lạc tại núi Ngọc Trản, làng Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Theo truyền thuyết dân gian Chăm, PoNagar là vị thần đã tạo ra trái đất và các loại gỗ trầm, lúa gạo. Tiếp nhận từ người Chăm một di tích tôn giáo độc đáo, người Việt đã “bản địa hóa” nữ thần PoNagar thành nữ thần Thiên Y A Na, tôn làm “thượng đẳng thần”. Đến thời Nguyễn, ngôi điện này được gọi là “Ngọc Trản Sơn Từ” (đền thờ ở núi Ngọc Trản) với hệ thống tâm linh rất phong phú. Ngoài thờ Thiên Y A Na, Ngọc Trản Sơn Từ còn thờ Phật, thờ Thánh Quan Công và hơn 100 đồ đệ của các thánh thần nói trên. Tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh Giáo chính thức được khai sinh từ thời điểm này.

2. Sự tồn tại, phát triển và suy tàn

Upload

Tổng hội Thiên Tiên Thánh Giáo 

Vào giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Thiên Tiên Thánh Giáo được triều Nguyễn coi trọng nên tín ngưỡng vốn đã hình thành từ lâu này trở nên hưng thịnh.

Năm Nhâm Tuất 1802, ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long tấn phong cho Mẫu danh hiệu “Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi”. Dân gian quen gọi bà chúa Ngọc, bà chúa Xứ, ngắn gọn là Mẫu.

Trong dân gian còn lưu truyền một giai thoại về ngôi Ngọc Trản Sơn Từ. Đó là vua Minh Mạng trong một lần lên đây đã đánh rơi một chén ngọc xuống dòng sông Hương, tưởng không cách gì lấy lại được thì bỗng nhiên một con rùa to bằng chiếc chiếu nổi lên ngậm chén ngọc trả lại cho nhà vua. Sau giai thoại này Ngọc Trản Sơn Từ được dân gian gọi là điện Hoàn Chén (dân gian đôi khi gọi là Hòn Chén).

Đến tháng 3-1832, ngôi điện này được vua Minh Mạng tu sửa và mở rộng. Sau đó hai năm, điện lại được trùng tu. Năm năm 1886, vua Ðồng Khánh cho xây lại Ngọc Trản Sơn Từ một cách khang trang, làm thêm nhiều đồ tự khí để thờ, và đổi tên ngôi đền là Huệ Nam Ðiện để tỏ lòng biết ơn Thánh Mẫu Thiên Y A Na đã cho mình làm vua. Và cũng vua Ðồng Khánh đã đưa cuộc lễ hằng năm tại đây vào hàng quốc lễ, tự nhận mình là đồ đệ của Thánh Mẫu. Điều này trái với nguyên tắc xưa, ông vua nào cũng đứng trên các thánh thần trong cả nước. Tuy nhiên, nhiều ý kiến nghiên cứu cho rằng vua Khải Định đã từng mong muốn tín ngưỡng này trở thành Đạo riêng của mình.

Khi vua Bảo Đại thoái vị (8-1945), bà Từ Cung (vợ vua Khải Định) chủ trì việc thờ cúng. Sau đó là Hội Sơn Nam đã đảm trách việc lễ nghi ở ngôi điện Huệ Nam. Năm 1954, Liễu Hạnh Công Chúa, Quế Hoa Công Chúa, Thụy Hoa Công Chúa cùng đức Thánh Trần được đưa vào thờ ở đây.

Năm 1955, Hội Sơn Nam được phép của chính phủ chế độ cũ tại miền Nam Việt Nam đổi tên thành “Hội Thiên Tiên Thánh Giáo Trung Việt”, hoạt động trên toàn cõi Trung Kỳ.

“Thiên” có nghĩa là huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định); “Tiên” là làng Tiên Hương, tức thôn Vân Cát, làng An Thái, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, nơi giáng trần lần thứ hai của Liễu Hạnh công chúa. Hai chữ “Thánh Giáo” thể hiện nguyện vọng xin được chính quyền thừa nhận tín ngưỡng như một tôn giáo.

Đến năm 1965, những người này lập ra Tổng hội Thiên Tiên Thánh Giáo ở đường Chi Lăng, TP Huế hiện nay. Đây được xem như một động thái công nhận của chính quyền Miền Nam Việt Nam dối với tín ngưỡng này. Cùng thời kỳ đó, ở Đà Lạt tồn tại “Hội Thánh Mẫu”, cũng hoạt động khá mạnh. Đến năm 1973, hai Hội này đi đến thống nhất thành “Việt Nam Thánh Mẫu hội”, hoạt động mạnh ở miền Nam Việt Nam với 12 chi hội nhiều tỉnh thành với hàng vạn giáo đồ. Từ sau giải phóng 1975, Hội này bị giải thể và co lại hoạt động xung quanh điện Huệ Nam.

3. Đặc trưng của tín ngưỡng

3.1. Thờ cúng

Người theo đạo Thiên Tiên Thánh Giáo ở Huế thờ Tam Phủ. Theo họ, thế giới có ba cõi là Thượng thiên, Thượng ngàn và Thủy phủ. Mỗi cõi như thế do một vị Thánh Mẫu cầm đầu, đó là Mẫu Trung Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thủy Phủ. Dưới mỗi Mẫu lại có các Thánh bà hầu hạ mà người ta thường gọi là các Đức Chầu. Dưới quyền sai phái của Mẫu còn có năm vị Quan Lớn từ Đệ Ngũ tới Đệ Nhất, 10 ông Hoàng, 12 Tiên cô, các cậu Quận và những vong linh chết non (sút sảo, tảo vong) hiển linh thường được gọi là các cô Bé hay các Cậu. Ngoài ra, tín ngưỡng này còn thờ cả Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm, Quan Công, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh lẫn Đức Thánh Trần Hưng Đạo đại vương. Đặc biệt, những tín đồ của Thiên Tiên Thánh Giáo xem Thánh Mẫu và nữ thần Pô Nagar (Thiên Y A Na) của người Chăm Pa là một.

3.2. Luật lệ, sinh hoạt và kiêng kị

Thiên Tiên Thánh giáo không kinh điển cùng luật lệ chính thức. Sinh hoạt của tín đồ Thiên Tiên Thánh giáo mang tính tự phát, tự túc, tự nguyện. Dăm bảy hoặc vài chục người họp thành “phổ”, cứ đến ngày 14, rằm, 30, mùng 1 âm lịch mỗi tháng thì các tín đồ tới một am miễu nhất định để dâng lễ, cúng cầu, hầu giá. Họ chỉ cữ kiêng vài loại thực phẩm vì “ăn sợ mắc tội” như thịt chó, thịt trâu, bồ câu, cá chép.

3.3. Nghi thức lên đồng

Bên cạnh đó, tín ngưỡng này còn có nghi thức lên đồng khá độc đáo. Ở Huế có hai dạng lên đồng cơ bản, đó là Hầu lễ và Hầu vui. Hầu lễ là lần lượt các vị Thánh nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng. Còn Hầu vui là các giá hầu ở các ban thờ cô, cậu, ông Hoàng, thậm chí là tổ tiên, ruột thịt của những ông đồng, bà đồng đã qua đời. Ở những ngày lễ tại điện Huệ Nam, do nghi lễ lên đồng diễn ra đồng loạt trên nhiều thuyền, do vậy còn có hình thức Hầu âm, tức hầu không có đàn hát (chầu văn) và Hầu chìm, tức chỉ ngồi nhập đồng, không được nhảy múa.

Theo giới đồng cốt ở Huế, không phải ai cũng lên đồng được. Chỉ có những người có “căn mạng” thì mới có thể lên đồng. Đối với các ông đồng bà cốt, ngoài áo, khăn đội đầu và hai dải khăn bằng lụa là trang phục chính họ còn phải sắm thêm nhiều món trang sức phụ khác như vòng vàng chuỗi hạt, nước hoa, son phấn...

Ngồi đồng ở Huế chẳng cần sửa soạn gì nhiều. Chỉ cần rửa mặt mày tay chân sạch sẽ, áo xống chỉnh tề rồi làm lễ trước bàn thờ, phủ khăn đỏ lên đầu rồi ngồi xếp bàn trước bàn thờ nghe cung văn đàn hát. Đến khi nào “con đồng” thét lên một tiếng và đứng dậy, ấy là “ngài” đã về. Cũng có người chẳng thấy phủ khăn gì cả, đang ngồi trong đám hầu, tự nhiên “ngài” nhập về lúc nào không hay. Mỗi cấp bậc của giá đồng có một điệu chầu văn khác nhau. Tuy nhiên, khi cung văn đang chầu văn ngon trớn, bỗng nghe một tiếng hét rồi có người ngã vật ra, biết ngay là có cô hay ông đã “thăng”, khi đó họ sẽ tấu ngay câu “loan xa giá ngự hồi cung” kèm theo ba tiếng chuông tiễn đưa. Còn muốn “đủ lễ”, con đồng phải thực hiện 9 giá đồng cơ bản và tùy hoàn cảnh còn phải thực hiện 12 giá đồng phụ. Do đó, lên đồng ở Huế thường có thời gian dài với tiếng nhạc chầu văn mạnh mẽ như thúc giục.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã có nhận xét khá chí lý trong “Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam” rằng: “Lên đồng là một hiện tượng hóa thân, người phụ nữ Việt mượn đồng bóng để thể hiện những nguyện vọng thầm kín của mình. Ai cũng biết trong dĩ vãng, người đàn bà Việt Nam chịu thua thiệt đủ điều. Lên đồng giúp họ một ảo tưởng ăn chơi như ông hoàng bà chúa. Khi bóng cô bóng cậu nhập vào người lên đồng thì cuộc sống thần tiên bắt đầu”. Tuy nhiên, cụ Phan Kế Bính sau khi trình bày về tín ngưỡng “lên đồng” đã luận bàn rằng: “Than ôi, đạo phù thủy cùng là đạo đồng cốt còn thịnh hành ngày nào thì dân trí còn ngu xuẩn ngày ấy. Bao giờ trong nước tuyệt hẳn được cái mối ấy thì mới có cơ khôn ngoan cả hơn”. Do đó, mặc dù người dân Huế gọi những người đi viếng “Mẫu” tại điện Hòn Chén là những người theo đạo Thiên Tiên Thánh Giáo song theo Sở VH-TT&DL Thừa Thiên - Huế thì Nhà nước ta chưa bao giờ công nhận đây là một tôn giáo mà chỉ là một hoạt động tín ngưỡng dân gian.

3.4. Lễ hội điện Huệ Nam (Hòn Chén)

Điện Huệ Nam là thánh địa của Thiên Tiên Thánh giáo. Lễ hội điện Huệ Nam vào tháng 3 và tháng 7 Âm lịch (xuân thu nhị kỳ) do đó là lễ hội quan trọng nhất của tín ngưỡng. Trong đó thì lễ Nghênh Thần được tổ chức rất trang trọng. Đó cũng là đại hội hầu bóng lớn nhất trong năm.

Vào dịp này, trên sông Hương xuất hiện hàng chục chiếc bằng nối đua nhau trải dài xa tít tắp. Bằng là hai chíếc đò ghép lại với nhau liên kết với nhau bằng những tấm ván lót nằm ngang, tạo nên một mặt bằng rộng rãi. Trước bằng, người ta treo biển đề tên am, tên phổ, chẳng hạn: Kim Đồng Tiên Nữ, Thiên Thai Thuỷ Cảnh, Đài Minh Cảnh, Linh Sơn Điện, Linh Dược Điện, Tân Đức Điện, Hoằng Hoá Điện, Sòng Sơn Vọng Từ... Trên bằng, người ta thiết lập án thờ với tất cả vẻ trang nghiêm và rực rỡ nhất có thể được. Tất cả đều ngược dòng Hương để cùng tới điểm hẹn linh thiêng theo một thứ tự quy cũ: Đi đầu đoàn rước là thuyền đơn của giám sát Thượng Ngàn để mở đường, tiếp sau là bằng rước Mẫu Thượng Ngàn và rước Quan Thánh để dẹp đường cho bằng của Thánh Mẫu và Hội đồng (Công đồng) đi. Theo sau bằng Thánh Mẫu là bằng của Mẫu thuỷ Cung và các vị thần đi phò Thiên Ya Na. Trên đường từ Huế tới điện Hòn Chén, đoàn rước phải dừng lại ở chùa Thiên Mụ để cúng Mẹ. Bởi vì theo quan niệm dân gian Thánh Mẫu Thiên Ya Na cũng đã từng giáng ở đây.

Tiếp đó, sau khi đã đến điện Huệ Nam, những tín đồ và du khách sẽ được tham gia vào các nghi thức lễ hội. Trong đó Lễ chính là rước sắc thánh mẫu Thiên Y A Na từ Minh Kính Đài lên đình làng Hải Cát bằng đường thuỷ. Một đám rước chưa từng thấy. Đầy đủ hoa hương, chuông trống, cờ quạt, kiếm cung, tiền hô hậu ủng. Dẫn đầu là thần Hổ với các ông Bảy, ông Chín Thượng Ngàn.

Đình làng Hải Cát nằm ven tả ngạn dòng Hương, cách điện Hòn Chén chừng 2km về phía thượng nguồn. Trong đình thắp điện đèn sáng rực, long trọng thỉnh Mẫu vào chính điện để tiến hành lễ tế, nguyện cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, nhà nhà sung túc. Và suốt đêm, trên hàng chục bằng án lẫn châu án đỗ dài trước bến đình, các đồng cô bóng cậu lên đồng. Đến sáng mai lại rước Mẫu hồi loan, trở về núi Ngọc.

4. Hiện trạng một số địa điểm tín ngưỡng tiêu biểu

4.1. Điện Huệ Nam

Điện Huệ Nam ngoài giá trị phục vụ tín ngưỡng, tâm linh còn là một trong những thắng cảnh nổi tiếng của Thừa Thiên – Huế. Chính kiến trúc của điện hòa quyện cùng với dòng sông, làng mạc, núi non đã tạo nên một bức tranh phong cảnh hữu tình và tuyệt đẹp, thu hút hàng ngàn khách du lịch và tín ngưỡng đến đây, nhất là vào dịp lễ hội tháng 3 và tháng 7 Âm lịch hàng năm.

Điện Huệ Nam là ngôi điện duy nhất có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân xứ Huế và đây cũng là ngôi điện duy nhất ở Huế có sự kết hợp giữa nghi thức cung đình và tín ngưỡng dân gian; giữa lễ hội và đồng bóng; giữa văn hóa tâm linh và mê tín dị đoan. Đây còn là nơi trang trí mỹ thuật đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ XIX.

Mặt bằng kiến trúc của toàn bộ ngôi đền không rộng, gồm điện thờ chính là Minh Kính Ðài nằm ở giữa, mặt hướng ra sông; bên phải là Nhà Quan Cư, Trinh Cát Viên, Chùa Thánh; bên trái là Dinh Ngũ Vị Thánh Bà, bàn thờ Các Quan, động thờ ông Hạ Ban (tức ông Hổ - con cọp), Am Ngoại Cảnh. Dưới bờ sông, cuối đường bên trái là Am Thủy Phủ. Trên mặt bằng kiến trúc ấy, còn có một số bệ thờ và am nhỏ khác nằm rải rác đó đây, như Am Cô Ngọc Lan, Am Trung Thiên...

Xin được miêu tả sâu về Minh Kính Đài. Kiến trúc này được xây dựng năm 1886 dưới thời vua Ðồng Khánh được chia làm 3 cung (theo thứ tự từ cao xuống thấp và từ sau đến trước căn cứ vào chức năng thờ phụng). Đầu tiên là Minh Kính Cao Ðài Ðệ Nhất Cung, còn gọi là Thượng Cung hay Thượng Ðiện, chia làm 2 tầng. Tầng trên thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na, Thánh Mẫu Vân Hương, ảnh vua Ðồng Khánh và một số thần thánh cao cấp khác trong tôn giáo; tầng dưới dùng làm chỗ tiếp khách và nơi ở của người thủ từ. Thứ hai là Minh Kính Trung Ðài Ðệ Nhị Cung, còn gọi là Cung Hội Ðồng, giữa xây bệ thờ cao và lớn, cung này thờ hàng chục tượng thần thánh khác nhau, có cả tượng Phật, và dùng làm nơi thiết trí các đồ thờ dùng để rước sắc trong những dịp lễ lớn: Võng Cung Nghinh Mẫu, Phụng Liễn, Long Ðình. Cuối cùng là Minh Kính Tiểu Ðài Ðệ Tam Cung, còn gọi là Tiền Ðiện - nơi xây một hương án lớn, hai bên đặt trống chuông, là chỗ cử hành tế lễ. Nơi đứng cúng lạy của khách hành hương được nới rộng thêm bằng một mái hiên và cái sân ở mặt trước tòa nhà.

Với kiến trúc và vị thế độc đáo như vậy nên Điện Hòn Chén là 1 trong 16 công trình kiến trúc triều Nguyễn ở Huế được UNESCO công nhận di sản văn hoá thế giới vào ngày 11-12-1993. Điện Hòn Chén cũng được Bộ Văn hoá và Thông tin công nhận là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 2009/1998 QĐ/BVHTT ban hành ngày 26-9-1998.

4.2. Tổng hội Thiên Tiên Thánh Giáo

Trong Lễ hội điện Huệ Nam, Tổng hội Thiên Tiên Thánh Giáo tọa lạc tại đường Chi Lăng, P. Phú Hậu, TP. Huế chính là địa điểm tổ chức lễ rước Thánh Mẫu xuống những chiếc bằng trên sông Hương. Trong đoàn người rước Thánh Mẫu tại Tổng hội, ngoài những tín đồ Thiên Tiên Thánh Giáo ở Huế còn có rất nhiều du khách ngoại tỉnh.

Xuất phát từ bến thuyền Tổng hội, những chiếc bằng này dẫn đầu hàng trăm chiếc bằng khác và nhiều loại thuyền bè nối đuôi nhau trên sông Hương ngược đến diện Huệ Nam, tạo nên một cảnh tượng hoành tráng không có lễ hội sông nước nào ở Thừa Thiên - Huế sánh kịp. Theo quan sát, Tổng hội Thiên Tiên Thánh Giáo vì mới được xây vào thập niên 60 của thế kỷ XX và may mắn không bị chiến tranh tàn phá nên những kiến trúc tâm linh vẫn còn khá nguyên vẹn. Đó là ngôi điện thờ chính rất bề thế với hệ thống tâm linh thờ cúng rất đặc trưng của Thiên Tiên Thánh Giáo, chiếc đại hồng chung đánh vào âm rất vang, hang động thờ cúng bí hiểm, hệ thống am thờ độc đáo, tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát nhân từ che chở cho cư dân vùng sông nước Hương Giang…

4.3. Miếu Long Thuyền

Miếu Long Thuyền (nơi tưởng nhớ những thủy binh phục vụ hoàng triều Nguyễn) nằm ở mặt Nam Kinh Thành Huế (gần Phu Văn Lâu) từng là nơi sinh hoạt của hội Thiên Tiên Thánh Giáo nhưng dưới tác động của nhiều biến cố lịch sử - xã hội, di tích này gần như trở thành phế tích, phần mái và kết cấu bên trong bị hư hỏng nặng.  Năm 2014, Miếu Long Thuyền đã được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế phối hợp với Công ty Cổ phần Tu bổ Di tích Trung ương trùng tu, tôn tạo.

5. Một số nhận định bước đầu

Có thể nói Thiên Tiên Thánh Giáo là một tín ngưỡng độc đáo của cư dân vùng sông nước Thừa Thiên - Huế bởi nó đã phối kết hợp nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Mặc dù về mặt khoa học thuật đồng cốt cần được hạn chế nhưng lễ hội điện Huệ Nam thì cần phát huy như một hoạt động văn hóa - tâm linh đặc trưng của mảnh đất Thừa Thiên – Huế.

Trên thực tế, lễ hội điện Huệ Nam đã từng trở thành một hoạt động chính của Chương trình Năm Du lịch Quốc gia Duyên hải Bắc Trung Bộ 2012. Đây là một lễ hội đặc sắc mà Tỉnh Thừa Thiên – Huế muốn quảng bá cho cả nước và thế giới được biết đến. Bên cạnh đó, “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt” chính thức được được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12-2016. Do đó, thiết nghĩ hiện nay việc đẩy mạnh công tác bảo tồn điện Huệ Nam và lễ hội điện Huệ Nam; bảo tồn khuôn viên Tổng hội Thiên Tiên Thánh Giáo… để phục vụ cho lễ hội điện Huệ Nam vào những năm tiếp theo sau này là rất cần thiết.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đinh Gia Khánh, Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam”, Tạp chí Văn học, số 5/1992.
  2. Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc), Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ Nữ, Hà Nội, 1993.
  3. Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007.
  4. Nguyễn Hữu Thông (chủ biên), Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền trung Việt Nam. Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2001.
  5. Trần Đại Vinh (chuyên luận), Tín ngưỡng dân gian Huế, Nxb.Thuận Hoá, Huế, 1995.
  6. Tư liệu điền dã.

 

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Ảnh hưởng của Phật giáo đối với giới trí thức phong kiến Đại Việt (21/5/2019)
NHỮNG ĐIỀU LẠ Ở DI CHÚC CỦA BÁC HỒ (16/5/2019)
Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng thay đổi cơ cấu kinh tế (15/5/2019)
Tóm tắt tiểu sử Nguyên Chủ tịch nước - Đại tướng Lê Đức Anh (3/5/2019)
Đại tướng Lê Đức Anh và tấm lòng với Nghệ An (3/5/2019)
Nối tiếp tinh thần đại thắng mùa Xuân 1975 (24/4/2019)
Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, mãi mãi tự hào của dân tộc ta (24/4/2019)
Vài suy tư về Ngày 30 tháng Tư... (23/4/2019)
Những ca khúc đầy ấn tượng ra đời trong đại thắng mùa Xuân năm 1975 (Bài viết nhân kỉ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975 - 30/4/2019) (10/4/2019)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ trí thức ngành y tế (10/4/2019)
Tiểu dị trong đại đồng xứ Nghệ Kì 2: Tiểu dị về nhân văn trong đại đồng xứ Nghệ (22/3/2019)
Xúc tiến đầu tư vào Nghệ An 11 năm nhìn lại (22/3/2019)
Lễ hội Xăng Khan trong tâm thức của đồng bào dân tộc Thái miền Tây Nghệ An (6/3/2019)
“Hát mừng nhà mới” - dân ca nghi lễ, phong tục Thái (26/2/2019)
Nghệ An sẽ dồn nguồn lực tương xứng nhất cho công cuộc hỗ trợ các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các startup (26/2/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
Chuyên san KHXH&NV Nghệ An số tháng 3/2019
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 480 | Tất cả: 1,711,601
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp