NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Tìm hiểu các nguyên lý bài trí thờ tự - tại di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Tin đăng ngày: 4/12/2018 - Xem: 27
 

Quảng Phước

Nghệ An là một vùng đất có bề dày lịch sử, giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Chính vì vậy các di tích - danh thắng ở Nghệ An giàu về số lượng, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung, đậm đà bản sắc xứ Nghệ. Theo Quyết định số 201/QĐ-UBND ngày 17/01/2018 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt danh mục kiểm kê di tích, danh thắng trên địa bàn Nghệ An có 2.602 di tích - danh thắng, trong đó 4 di tích quốc gia đặc biệt, 139 di tích cấp quốc gia, 272 di tích cấp tỉnh. Các di tích danh thắng là những chứng cứ vật chất và tinh thần thể hiện cội nguồn dân tộc và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng. Đồng thời đây cũng là bức thông điệp phản ánh sinh động bản sắc văn hoá xứ Nghệ.

Hiện nay, các loại hình di tích có gắn với việc thờ tự ở Nghệ An gồm có: Đình, đền, chùa, nhà thờ họ, nhà thánh, thiện đàn, nhà lưu niệm, nhà tưởng niệm. Mỗi loại hình di tích trên đều có một công năng thờ tự riêng. Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh, thiên tai, đặc biệt là sau thời kỳ cải cách ruộng đất, phần lớn các di tích đã bị xuống cấp hoặc bị tàn phá, đồ tế khí ly tán nhiều nơi, dẫn đến quá trình hợp tự, bài trí sắp xếp các ngai thờ hết sức lộn xộn, thần, phật, thánh lẫn lộn, không đúng với công năng của từng loại hình di tích. Có di tích là đình làng vốn thờ Thành Hoàng nhưng nay Phật ngồi chính cung, Thành Hoàng xếp sang một bên; có di tích là chùa nhưng Thần được bài trí thờ trên Phật; có di tích là đền nhưng chính cung lại thờ Phật… kể cả nhà thờ dòng họ việc bài trí thờ cũng hết sức lộn xộn, không theo trật tự trên dưới, có khi ngai thờ của thủy tổ lại ở dưới ngai thờ của con cháu…  

Về các loại đồ tế khí ở các di tích Nghệ An rất phong phú và đa dạng như: long ngai, bài vị, hương án, bộ chấp kích, bộ bát bửu, trống, chiêng, kiệu, đài trản, y môn, cọc nến, lư hương, đỉnh đồng, mâm cổ bồng, lọ hoa, tam sự, ngũ sự… Mỗi loại đồ thờ đều có những công năng, ý nghĩa tâm linh riêng và phải được sắp xếp tại một vị trí nhất định phù hợp với quy luật âm dương, ngũ hành… Nhưng một thực tế hiện nay là việc sắp xếp, bài trí đồ tế khí hết sức bừa bãi, không theo một nguyên tắc nào, có di tích bát hương đặt trong cùng của hương án, có di tích bát hương đặt ngoài cùng, có di tích bát hương lại đặt chính giữa và số lượng bát hương trên mỗi cung thờ nơi ít, nơi nhiều, có khi vị trí trống chiêng lẫn lộn, đỉnh đồng đặt ở vị trí long ngai bài vị… Việc bài trí đồ thờ hiện nay hoàn toàn theo cảm tính mà không hiểu vì sao lại phải theo nguyên tắc như: tả chiêng hữu trống, tả nam hữu nữ, đông bình, tây quả, bát hương nên đặt chỗ nào của cung thờ cho đúng, cọc nến đặt ở đâu, đỉnh đồng để ở đâu…

Qua nghiên cứu thực tế tại các di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An và các sách về viết về phong tục truyền thống như Thọ Mai gia lễ của Tiến sĩ Hồ Sĩ Tân, Hồ Thượng thư gia lễ của Lễ bộ Thượng thư Hồ Sĩ Dương, Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, Đất lề quê thói của Nhất Thanh, các bản gia phả dòng họ, hương ước của nhiều làng xã ở Nghệ An, chúng tôi tạm rút ra một số nguyên lý cơ bản của việc bài trí thờ tự như sau:       

- Bài trí theo nguyên lý Âm - Dương  

Thuyết âm dương là cốt lõi của nền triết học cổ Đông phương. Theo thuyết này thì âm dương là hai mặt, hai thế lực đối lập nhau nhưng lại thống nhất với nhau trong vạn vật, là khởi đầu của mọi sinh thành biến hóa. Âm dương không loại trừ nhau mà tạo điều kiện tồn tại cho nhau, gắn kết với nhau trở thành động lực của mọi vận động và phát triển. Căn cứ theo thuyết này thì trời là dương, đất là âm; mặt trời là dương, mặt trăng là âm; nam là dương, nữ là âm; trẻ là dương, già là âm; cứng là dương, mềm là âm; động là dương, tĩnh là âm; đậm là dương, nhạt là âm; đông là dương, tây là âm; nam là dương, bắc là âm; trái là dương, phải là âm... Âm dương ở đây mang tính chất tương đối, trong âm có dương, trong dương có âm, dương trưởng âm tiêu, âm trưởng dương tiêu, dương đến cực đại thì hóa thành âm, âm đến cực đại thì hóa thành dương. Điều này được thể hiện rất rõ qua biểu tượng khoáy âm dương. Cùng một vật thể đó nhưng đặt trong mối quan hệ với cái này thì nó là dương nhưng khi đặt nó trong mối tương quan với cái khác thì nó lại là âm. Ví dụ như xét về tính chất cứng - mềm thì đất là dương, nước là âm, nhưng xét về tính chất động - tĩnh thì nước là dương, đất là âm. Hoặc màu xanh, màu đỏ là dương, màu trắng, màu đen là âm nhưng nếu chỉ xét riêng màu xanh với màu đỏ thì đỏ là dương, xanh là âm; màu trắng và màu đen thì trắng là dương, đen là âm... Nghĩa là âm dương đối đãi cùng tương hòa, giao hợp mà phát triển. Khái niệm âm dương đã được triết học hóa vào Kinh dịch. Trong Kinh dịch có hai quẻ trái ngược nhau là quẻ “địa thiên thái” (thường gọi là quẻ Thái) và “thiên địa bỉ” (thường gọi là quẻ Bỉ). Quẻ “địa thiên thái” có hình quẻ âm ở trên, dương ở dưới, tượng quẻ “Thiên địa hòa xướng chi tượng: tượng trời đất giao hàa”, âm dương giao hòa, gắn bó mật thiết với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau khiến cho mọi vật yên ổn, thúc đẩy phát triển thịnh vượng. Ngược lại với quẻ “địa thiên thái” là “thiên địa bỉ”. Tượng quẻ này là “Thượng hạ tiếm loạn chi tượng: trên dưới lôi thôi”. Âm dương riêng rẽ, không giao nhau dẫn tới bế tắc, quy luật ở người như vậy mà ở vạn vật cũng như vậy. Đã bế tắc thì không phát triển. Người xưa đã biết vận dụng triết lý âm dương của Kinh dịch trong việc bài trí sắp xếp đồ tế khí, được đúc kết lại thành những câu thành ngữ như: “đông bình, tây quả” nghĩa là phía đông thuộc dương đặt bình hoa, phía tây thuộc âm đặt đĩa quả, tức là đơm hoa trước, kết quả sau. Hoặc “đông chinh tây cổ”, “đông chung, tây đạc” nghĩa là phía đông để chinh (chiêng), chung (chuông) là những đồ tế khí được làm bằng kim loại, thuộc dương; còn phía tây để cổ (trống), đạc (mõ) với vật liệu làm từ da, gỗ, thuộc âm. Hoặc “đông phù tây thủy” nghĩa là phía đông để đĩa trầu cau (trầu cau là cây cỏ, thuộc dương), phía tây để chén nước (nước thuộc âm). Hoặc “nam tả, nữ hữu” nghĩa là nam bên trái (dương), nữ bên phải (âm)... Nhưng khái niệm đông - tây, tả - hữu ở đây không phải hiểu theo phương vị địa lý trên thực tế mà là căn cứ theo hướng tay ngai từ trong nhìn ra thì đông có nghĩa là bên trái (tả), tây có nghĩa là bên phải (hữu) [ngược với người sống]. 

Upload

Bài trí nhà thờ họ Nguyễn Đình chi 2, Xuân Sơn, Đô Lương

- Bài trí theo nguyên lý Ngũ Hành

Theo quan niệm cổ đại, tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm nguyên tố cơ bản và luôn trải qua năm trạng thái là: Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, được gọi là Ngũ hành (五行). Ngũ hành không phải là vật chất như cách hiểu đơn giản theo nghĩa đen trong tên gọi của chúng mà đúng hơn là cách quy ước của người cổ đại để xem xét mối tương tác và quan hệ của vạn vật. Học thuyết Ngũ hành diễn giải sinh học của vạn vật qua hai nguyên lý cơ bản là Tương sinh và Tương khắc.

Trong mối quan hệ tương sinh thì Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau, hỗ trợ nhau để phát triển. Đem Ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy năm hành có quan hệ xúc tiến, nương tựa lẫn nhau. Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ trên hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra.

Ngược lại là quan hệ tương khắc: Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ. Tương khắc có nghĩa là áp chế lẫn nhau, giúp duy trì sự cân bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hóa trở thành bất thường. Từ quy luật tương khắc, bàn rộng thêm ta có tương thừa (nghĩa là khắc quá đỗi) và tương vũ (nghĩa là khắc không nổi mà bị phản phục lại). Trong tương khắc, mỗi hành cũng lại có hai mối quan hệ: Cái khắc nó và cái nó khắc.

Hiện tượng tương sinh, tương khắc không tồn tại độc lập với nhau. Trong tương khắc luôn có mầm mống của tương sinh, trong tương sinh luôn có mầm mống của tương khắc, ví dụ như thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa nhưng thủy lại khắc hỏa… Do đó các trạng thái của sự sống được cân bằng, vạn vật luôn luôn tồn tại và phát triển. Nếu sinh thái quá hoặc khắc thái quá thì dẫn đến quá thừa hoặc quá thiếu, muôn vật sẽ không phát triển bình thường được. Hiểu được nguyên lý đó, con người ta với mong muốn cuộc sống được bình hòa, yên ổn thì luôn luôn tìm cách cân bằng ngũ hành, không để cái gì thái quá cũng không để cái gì bất cập.  

Người xưa đã áp dụng những quy luật đó vào việc bài trí thờ tự, sắp xếp đồ tế khí đảm bảo ngũ hành cân bằng, hài hòa. Do đó trong một cung thờ các đồ tế khí đều có vị trí ứng với những chức năng riêng nhưng không tách rời mà hòa quyện vào nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất: Hương án phía trước bàn thờ là tượng trưng cho tầng trời, cho vũ trụ vì thế ở đây bao giờ cũng được bài trí đầy đủ ngũ hành: tro trong bát hương và những đồ bằng sứ tượng trưng cho hành Thổ; những đồ bằng kim loại như bộ đỉnh trầm, hạc đồng tượng trưng cho hành Kim; nước và rượu tượng trưng cho hành Thủy; hoa, quả, cây hương và đồ bằng gỗ như đài, tam sơn tượng trưng cho hành Mộc; lửa cháy trên nén hương và lửa trên ngọn nến tượng trưng cho hành Hỏa… Không bao giờ các đồ tế khí trên một bàn thờ chỉ được làm bằng một loại chất liệu mà thường có sự kết hợp giữa nhiều loại chất liệu như đồng, đá, gỗ, sứ… Đặc biệt, thể hiện rõ nhất của việc kết hợp ngũ hành đó là mâm ngũ quả. Ngũ quả không có nghĩa là chỉ năm loại quả, mà đây có ý nghĩa tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), ngũ phương (đông, tây, nam, bắc và trung ương) để cầu mong ngũ phúc (phúc, lộc, thọ, khang, ninh)… Quả màu xanh tượng trưng cho hành Mộc ở phương Đông, quả màu đỏ tượng trưng cho hành Hỏa ở phương Nam, quả màu trắng tượng trưng cho hành Kim ở phương Tây, quả mà đen hoặc tím hoặc thẫm màu tượng trưng cho hành Thủy ở phương Bắc, quả màu vàng tượng trưng cho hành Thổ ở phương Trung ương.

- Bài trí theo nguyên lý giữa trước, hai bên sau: 

Giữa có nghĩa là nhân vật được thờ chính tại đó; hai bên có nghĩa là nhân vật phối thờ, tòng tự hoặc có vị thế thấp hơn. Trong một ngôi đền, đình… thì vị thần chủ ở đó bao giờ cũng được bài trí ở vị trí trung tâm, ở nơi thâm nghiêm nhất thể hiện sự tôn sùng, thành kính của người thờ phụng, xác lập rõ đây là chủ nhà. Các vị thần được phối thờ hoặc không phải là thần chính, thậm chí kể cả những vị thần có phẩm trật cao hơn nhưng chỉ là nhân vật phối thờ thì được thờ cấp bậc thấp hơn hoặc ở các vị trí “vòng ngoài”. Đối với nhà thờ họ thì gian chính giữa bao giờ cũng là nơi thờ ông bà thủy tổ của dòng họ, các gian kế tiếp sẽ là nơi thờ các vị tổ phân chi hoặc các nhân vật được tòng tự tại nhà thờ. Cung thờ nhân vật chính sẽ được bài trí đầy đủ các đồ tế khí hơn, cũng là nơi trang trọng, thâm nghiêm nhất, thậm chí là ít người được tiếp cận đến. Ngay cả việc dâng lễ cúng thì ở đây cũng là nơi “chính hiến” (dâng lễ chính) còn các ban thờ còn lại chỉ là “quân hiến” (dâng đều). Vì vậy, muốn bài trí đúng cần phải xác định rõ nhân vật được thờ chính là ai và nhân vật nào là phối thờ, tòng tự?  

Riêng đối với việc bài trí ở chùa thì lấy chư Phật làm trung tâm. Các vị Bồ Tát, Long Thiên, Hộ Pháp, chư tổ, đức ông… được thờ ở hai bên hoặc phía sau chính điện. Mặc dầu, ở trong chùa các tượng Phật thường được xếp theo kiểu tam cấp từ cao xuống thấp nhưng nó không có ý nghĩa phân biệt cấp bậc cao thấp vì các vị đã thành quả Phật thì đều ngang hàng với nhau. Việc sắp xếp các tượng Phật từ cao xuống thấp chỉ có ý nghĩa về thời gian xuất thế của các vị, đồng thời để chúng sinh ở dưới có thể dễ dàng chiêm ngưỡng được tất các vị (vì nếu xếp bằng nhau cả thì sẽ có những tượng ở phía trong bị che khuất).  

UploadBài trí bàn thờ ở đền Cờn- Hoàng Mai 

- Bài trí theo nguyên lý nội trọng, ngoại khinh:

Nội ở đây nghĩa là bên trong, phía trong; ngoại là bên ngoài, phía ngoài. Trọng khinh ở đây được hiểu là coi trọng, khinh có nghĩa là nhẹ, chứ không hiểu theo nghĩa khinh thường. Trong một ngôi đình, đền, nhà thờ họ thì những điện thờ ở phía trong bao giờ cũng quan trọng hơn những điện thờ ở phía ngoài. Vì thế, để tạo không gian thiêng và sự thâm nghiêm cho nơi thờ tự người ta làm nhiều tòa liên tiếp nhau kiểu chữ Tam (), chữ Nhị (), chữ Công () hoặc nội Công ngoại Quốc (内工外国). Trong đó loại kiến trúc “nội công ngoại quốc” có quy mô lớn nhất và nhiều công trình với nhiều chức năng phúc tạp. Một ngôi đền có kiến trúc “nội công ngoại quốc” thường bố trí như sau: Từ ngoài vào là Nghi môn, có nơi Nghi môn làm đơn giản chỉ có bốn trụ biểu nhưng có nơi Nghi Môn làm thành một tòa nhà đồ sộ có chính môn, tả môn, hữu môn. Ở Nghi môn chỉ đắp tượng quan văn, quan võ, voi, ngựa hoặc ông hổ… mang tính chất bảo vệ vòng ngoài. Tếp đến là nhà Ca vũ chỉ để tế lễ, múa hát hầu thánh (tòa này thì có nơi có, có nơi không). Thứ ba là Hạ điện thường bài trí thờ công đồng, để kiệu, voi ngựa… Tòa thứ tư là Trung điện, ở tòa này thì thường bài trí thờ các vị phối tự hoặc các vị thị tùng của thần chính. Tòa trong cùng là Thượng điện, thường gọi là cung cấm hay nội điện là nơi thờ vị thần chính. Nội điện/cung cấm ở sâu trong cùng, muốn vào được phải đi qua các tòa nhà phía trước, vì vậy ít người được tiếp cận với khu vực này. Hai bên dãy công trình chính là Tả vu, Hữu vu đây là nơi cất các đồ tế khí hoặc nơi soạn lễ, thay đồ… Ít khi bài trí thờ cúng ở hai dãy nhà này.

Trong trường hợp chỉ có một tòa kiến trúc, để tạo cho nơi thờ tự có chiều sâu người ta thường bài trí thờ dọc, dân gian có câu “họ thờ ngang, làng thờ dọc” là vì vậy. Thờ dọc tạo cho không gian thờ tự thâm nghiêm hơn thờ ngang. Nếu thờ dọc thì người ta ngăn gian trong cùng làm cung cấm. Ngăn cách giữa cung cấm bên trong và không gian bên ngoài là bức thuận bằng gỗ, ở giữa trổ cửa sổ xuyên hoa, hai bên có cửa ra vào kiểu thượng song hạ bản; hoặc ở giữa làm cửa võng, phía trước đặt hương án chắn ngang, cửa ra vào mở hai bên. Phía trong cung cấm này là nơi thờ vị thần chính, còn các vị thần phối thờ hoặc thị tùng của thần chính được thờ ở ban công đồng phía ngoài.

- Bài trí theo nguyên lý thân trọng sơ khinh:

Khái niệm “khinh - trọng” ở đây cũng được hiểu tương tự như trên. Những vị thần nguyên gốc ở mỗi di tích sẽ được bài trí ở vị trí quan trọng hơn, còn những vị thần mới phối thờ sau này sẽ thờ ở vị trí kém hơn. Nguyên lý này thường áp dụng cho những nơi hợp tự hoặc phối thờ nhiều nhân vật.

Trong trường hợp hợp tự nhiều đình, đền, chùa, miếu ở trong làng, trong xã và trong vùng về thì ngoài vị thần chủ đương nhiên là ở vị trí chính cung, còn những vị được hợp tự sẽ phân biệt theo thân sơ. Những vị thần của làng (tuy không phải là thần chủ ở đó nhưng được dân làng thờ phụng và có công lao với dân làng) hoặc những vị thần có sự tích liên quan đến vị thần chủ thì sẽ được thờ ở những vị trí quan trọng thứ hai sau thần chủ. Những vị thần của các làng khác hợp tự về sẽ thờ ở các vị trí kém hơn các vị trên. Trong các bài văn tế ở những nơi này người ta cũng chỉ thường đọc vị hiệu các vị thần của làng sở tại, còn các vị hợp tự từ các làng khác về chỉ được ghi chung chung một câu “bản từ/bản miếu/bản đình hợp tự liệt vị thần quan đại vương” và thường đọc sau khi đọc hết toàn bộ vị hiệu thần của làng sở tại. Điều đó cho thấy “thân” bao giờ cũng quan trọng hơn “”. 

Một số dòng họ, gia đình do bên ngoại không có con trai, việc thờ tự được giao cho con gái nên trong nhà thờ hoặc trong gia đình có thiết lập bàn thờ tổ tiên bên ngoại. Nhưng những bàn thờ này thường nhỏ, thấp hơn, bài trí đơn giản hơn, ít đồ tế khí, lễ vật đạm bạc hơn bàn thờ tổ tiên bên nội. Khi có cúng đơm, giỗ chạp thì cũng thắp hương sau, cúng lễ sau, có được xướng tên trong văn tế thì cũng xướng sau khi xướng hết các vị hiệu của tổ tiên bên nội.    

- Bài trí theo nguyên lý thượng tôn, hạ ty:

Thượng tôn hạ ty” nghĩa là trên thì cao, dưới thì thấp. Trong trường hợp một nơi thờ tự thờ nhiều vị thần khác nhau thì vị nào có phẩm trật cao hơn được thờ ở trên, vị nào có phẩm trật thấp hơn được thờ ở dưới. Thời Lê, triều đình không phân rõ phẩm trật cụ thể cho các vị thần, mà chỉ phong chung là Đại Vương. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là không có sự phân biệt cao thấp trong đó. Đối với các vị nhân thần là khai quốc công thần hoặc trung hưng công thần thì tùy theo công lao mà được vinh phong cao thấp theo 24 cấp: Suy trung, Dực vận, Tá lý, Tĩnh nạn, Kính thận, Minh nghĩa, Trung ý, Phụ quốc, Hiệp mưu, Đồng đức, Khiêm cung, Đoan nhã, Kiệt tiết, Tráng liệt, Uy dũng, Cương chính, Bình văn, Hiệu thuận, Thuần tín, Đôn hậu, Tuyên lực, Cẩn lễ, Tán trị, Dương võ. Ngoài ra, các vị nhân thần sinh thời có quan tước thì còn theo phẩm trật của triều đình. Đối với các vị nhân thần khác và các loại thần linh khác thì sự vinh phong cao thấp được thể hiện qua số mỹ tự trong sắc phong thần. Thần càng có nhiều mỹ tự thì chứng tỏ càng linh thiêng, được phong nhiều lần và phẩm trật cao. Vì thế có một số vị thần như Tứ Vị Thánh Nương, Uy Minh Vương, Sát Hải Đại Vương, Cao Sơn Cao Các… sắc phong rất dài, số mỹ tự lên đến hàng chục chữ. Trong khi đó có những vị thần chỉ có vài ba mỹ tự ngắn gọn. Vì vậy, chúng ta có thể căn cứ vào các vị mỹ tự đó để sắp xếp các vị thần theo thứ bậc cao thấp. Đến thời Nguyễn, việc sắc phong cho bách thần được quy định chặt chẽ hơn, phẩm trật cho bách thần được quy định rõ ràng thành ba cấp: Thượng đẳng (cao nhất), Trung đẳng (bậc ở giữa) và Hạ đẳng (bậc thấp nhất). Vì vậy chúng ta có thể căn cứ vào đó để sắp xếp một cách dễ dàng.

Đối với trường hợp ở Nhà thánh thì các vị được thờ tại Nhà thánh thường ít khi được phong thần (đối với Khổng Tử, vua không bao giờ ban sắc phong thần mà chỉ tôn kính và truy tôn các danh hiệu cho ngài) thì việc sắp xếp ngôi thứ tại đây lại căn cứ theo khoa bảng, học hàm, học vị. Nghĩa là ai đỗ đạt cao thì được thờ ở trên, ai đỗ đạt thấp thờ ở dưới, hai người cùng đỗ bằng nhau thì ai đỗ trước thờ trước, ai đỗ sau thờ sau, hoặc thờ ngang hàng.

Đối với nhà thờ họ, việc bài trí ngôi thứ tôn ty theo thứ tự huyết thống, phả hệ, các thế hệ trước được thờ trên, các thế hệ sau thờ dưới. Hoặc theo thứ tự chiêu mục, bên chiêu tức là bên trái thờ những người có vị thế cao hơn, bên mục nghĩa là bên phải thờ những người có vị thế thấp hơn.

Việc bài trí thờ tự, sắp xếp đồ tế khí đều mang những ý nghĩa tâm linh thiêng liêng, gửi gắm trong đó những khát vọng, ước mơ của tiền nhân, hàm chứa trong đó những ý nghĩa triết học sâu sắc về nhân sinh quan và vũ trụ quan. Vì vậy cần bài trí thờ tự - sắp xếp đồ tế khí cho các di tích một cách khoa học đúng với ý nghĩa tâm linh của các đồ thờ tự, phù hợp với các loại hình di tích, nhằm bảo đảm tính khoa học, thẩm mỹ, tính thiêng và đảm bảo giá trị truyền thống,  định hướng kịp thời để bảo tồn và phát huy giá trị di tích lâu dài.

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Tìm hiểu các nguyên lý bài trí thờ tự - tại di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An (4/12/2018)
Góp phần cải chính về năm mất của Nguyễn Công Trứ (4/12/2018)
Hoàn cảnh ra đời câu thơ của Trần Nhân Tông (14/11/2018)
Đề xuất giải pháp sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An (9/11/2018)
Hội thảo khoa học: Truông Bồn - Giá trị lịch sử, bảo tồn và phát huy (2/11/2018)
Hội thảo khoa học "Thân thế và sự nghiệp Tiến sỹ Trần Đình Phong" (1/11/2018)
Về chuyến thăm Nghệ An năm 1932 của vua Bảo Đại (10/10/2018)
Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Hòa Bình, UBND huyện Cao Phong làm việc và chia sẻ kinh nghiệm tại Nghệ An (10/10/2018)
Hội thảo khoa học Thoát nước đô thị Vinh - Thực trạng và giải pháp (3/10/2018)
Bàn giải pháp và chương trình phối hợp hoạt động KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp (27/9/2018)
Nâng cao hiệu quả hoạt động Khoa học và công nghệ cấp huyện (25/9/2018)
Đi tìm một bản sử thi "Khun Chương" đầy đủ (10/9/2018)
Vấn đề Hồ Xuân Hương - Thử tiếp cận những bài thơ có gốc nguồn văn bản (31/8/2018)
Khoa học & công nghệ trong nông nghiệp ở Nghệ An: Cần có những tác động mới (31/8/2018)
Đội ngũ cán bộ không chuyên trách ở Nghệ An Thực trạng và giải pháp (31/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,129 | Tất cả: 1,552,705
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp