KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Học tập và vận dụng tấm gương tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tin đăng ngày: 29/11/2018 - Xem: 24
 

Nguyễn Văn Toàn

Những người sáng lập chủ nghĩa Mác- Lênin đã cho nhân loại thấy được phong cách tư duy mẫu mực. Có thể lấy những câu C. Mác trả lời con gái là một ví dụ: - Hỏi: Đức tính mà cha yêu quý nhất? - Trả lời: Giản dị. - Hỏi: Quan niệm của cha về hạnh phúc? - Trả lời: Đấu tranh. - Hỏi: Đặc điểm chủ yếu ở Cha? - Trả lời: Mục đích trước sau như một. - Hỏi: Tính xấu mà cha ghét nhất? - Trả lời: Xun xoe, quỵ lụy - Hỏi: Câu cách ngôn mà cha thích nhất? - Trả lời: “Không có cái gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi”.

Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về phong cách tư duy. Phong cách tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh không ra ngoài phương pháp biện chứng duy vật, nhưng với phẩm chất cá nhân và quá trình hoạt động cách mạng phong phú, những kinh nghiệm sống, Người đã có phong cách tư duy riêng, độc đáo. Nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-sơ-tam, vào cuối năm 1923, sau khi gặp gỡ, trò chuyện với Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này), đã viết một bài đăng báo Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ), có đoạn: “Dáng dấp con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, đang toả ra một cái gì đó thật lịch thiệp và tế nhị... Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Châu Âu, mà có lẽ nền văn hoá của tương lai... Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy được sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”[1]. GS.TS Mạch Quang Thắng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) đã nhận định: “Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là sự kết tinh từ tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, là tài sản tinh thần quý báu của nhân dân ta, giá trị hợp thành nền văn hóa Việt Nam. Mặc dù thể hiện cái riêng, nhưng phong cách tư duy của Người không xa lạ mà mang tính lan tỏa, tác động tích cực tới hành động của các thế hệ người dân Việt Nam yêu nước nói riêng, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới nói chung”[2].

Phong cách tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm: phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại; phong các tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình. Bài viết này xin đề cập phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Người.

Phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ nhất là Người đã xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, những “lẽ phải không ai chối cãi được” để nhận thức và lý giải những vấn đề của thực tiễn.  Ở Người không bao giờ tìm được biểu hiện nhỏ nào của xu hướng biệt phái, phiến diện, cực đoan. Để đàm phán, thuyết phục đối phương đi tới đồng thuận, Người thường lập luận trên cơ sở nguyên tắc về tính đồng nhất nguyên lý.

 Về quyền dân tộc

Trong “Tuyên ngôn Độc lập” (2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

“Tuyên ngôn Độc lập” với “những lẽ phải không ai chối cãi được” đã đập tan luận điệu “trở lại bảo hộ” nước ta của thực dân Pháp. Qua đó, Bản Tuyên ngôn cũng đã tranh thủ được sự ủng hộ của toàn dân và cộng đồng thế giới đối với nước Việt Nam mới. Bởi vậy, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc xong Bản “Tuyên ngôn Độc lập”, những lời thề đã vang lên: Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin thề: Cùng Chính phủ giữ nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng. Nếu Pháp đến xâm lược lần nữa thì chúng tôi xin thề: “Không đi lính cho Pháp, Không làm việc cho Pháp, Không bán lương thực cho Pháp, Không đưa đường cho Pháp!”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Quyền độc lập, tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sĩ và đoàn kết của toàn quốc dân mà xây dựng nên”.

Tiếp sau đó, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, buộc toàn thể nhân dân vùng lên theo Lời Kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946): “Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Trong thư gửi những người bạn Pháp ở Đông Dương năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do… Chúng tôi cũng phải được yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng, cũng phải là lý tưởng của chúng tôi”. Do đó, sau 9 năm kháng chiến gian khổ nhưng thắng lợi vẻ vang bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “vang vọng năm châu, chấn động địa cầu” (1954), Việt Nam đã buộc kẻ thù phải ký vào Hiệp định Genève vào ngày 20-7-1954 để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Giáo sư Nhật Bản Singo Sibata đã đánh giá: “Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ đã phát triển quyền con người thành quyền dân tộc”. Giám đốc UNESCO phụ trách khu vực văn hóa châu Á - Thái Bình Dương, Tiến sĩ M.Ahmed cũng đã phát biểu như sau: “Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho tổ quốc và nhân loại bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại mang lại viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”. Thực tế chứng minh rằng sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, một phong trào giải phóng dân tộc đã bùng lên mạnh mẽ, đập tan hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân.

Về chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Vì vậy, theo Người, sau khi giải phóng dân tộc thì phải bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều này được thể hiện ngay trong tiêu đề văn bản hành chính của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không nói đến những lý luận cao xa về chủ nghĩa xã hội, mà Người nói một cách giản dị, dễ hiểu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc thì chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc”, “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, người già không lao động được thì được nghỉ ngơi...”, “Chủ nghĩa xã hội ấy là lấy máy xe lửa, ngân hàng… làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ em”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất dị ứng với mọi biểu hiện của lối suy nghĩ cạn hẹp, cực đoan, phiến diện, một chiều. Theo Người, lịch sử là một dòng chảy không ngừng, cách mạng là đột biến trong liên tục, cái mới sinh ra từ cái cũ, có khi lật ngược cái cũ, nhưng không vứt bỏ những yếu tố đúng đắn, hợp lý của cái cũ; chủ nghĩa xã hội không phủ định sạch trơn mà là sự kế thừa và phát huy tất cả những giá trị văn hóa - văn minh của nhân loại từ các đời trước để lại. Do đó, là người cộng sản nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng, và luôn luôn có ý thức khai thác, vận dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên chúa giáo... vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”[3]. Đặc biệt, Người viết: “hiểu chủ nghĩa Mác – Lê-nin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lê-nin được”[4].

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhận ra rằng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công thì cần phải giải phóng hoàn toàn người phụ nữ. Từ rất sớm, Người đã nhận định: “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”. Càng về sau Chủ tịch Hồ Chí Minh lại càng quan tâm sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ mà người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực như việc lái các con tàu vũ trụ Phương Đông”. Về kết quả công cuộc giải phóng phụ nữ ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo...”. Người khẳng định thêm rằng: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thế là dưới chế độ tốt đẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ đã thật sự làm chủ nước nhà”. Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước đã nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại và từ đó giải phóng chính mình”[5]. Bà Ketherine Muller - Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam trong lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 2010 đã nhận định: “Người cũng quan tâm đến quyền và vai trò của phụ nữ trong xã hội. Trong Di chúc, Người dặn rằng Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để đảm bảo ngày càng có thêm nhiều phụ nữ tham gia vào mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo. Đối với UNESCO, bình đẳng giới là một điều kiện cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển quốc tế”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân hãy chăm lo đến môi trường sống của mình để “con đường từ Chủ nghĩa xã hội đến Chủ nghĩa Cộng sản thêm xanh tươi”. Khi cả nước đang chuẩn bị bước vào thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Tết trồng cây gây rừng”. Bà Ketherine Muller - Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam trong lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 2010 đã nhận định: “Với tầm nhìn xa rộng của mình, Người đã nhận thấy trước ý nghĩa quan trọng của việc bảo vệ môi trường và tăng cường mối quan hệ hòa hợp giữa con người và thiên nhiên vì sự phát triển bền vững của quốc gia. Người ủng hộ sự cần thiết phải chống thiên tai, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng môi trường sinh thái, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trồng rừng, làm thủy lợi và cải thiện chất đất. Người khuyến khích nhân dân trồng thật nhiều cây”.

Về quan hệ quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem cách mạng Việt Nam là “bộ phận của cách mạng thế giới”. Phát biểu tại Hà Nội vào ngày 12-9-1973 trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Thủ tướng Chính phủ Cách mạng nước Cộng hòa Cuba Fidel Castro nhấn mạnh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một quan niệm rất rõ ràng về các lực lượng của phong trào cách mạng quốc tế. Ngày từ đầu, Người đã hiểu rằng cách mạng Việt Nam là một bộ phận của lực lượng ấy. Chính Người đã dựa vào các lực lượng của phong trào cách mạng ấy, vì nếu không có sự đoàn kết đó thì không có một dân tộc nào có thể thắng được các lực lượng hùng mạnh của chủ nghĩa đế quốc trên thế giới ngày nay. Đây là một trong những bài học tuyệt vời khác mà Đảng Lao Động Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã chỉ ra cho tất cả các dân tộc cách mạng trên thế giới”.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nổ lực xây đắp tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân thế giới với tinh thần muốn là bạn với mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Người từng viết: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau: Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”. Trong bài “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế” (1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần Quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới”. Tấm gương đi đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vấn đề giải phóng dân tộc và quan hệ quốc tế đã có tác động định hướng và cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh giành hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới.

Trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về phong trào cộng sản thế giới, rằng: “là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em! Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”. Cảm phục về tinh thần quốc tế trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo Quyền lợi đỏ của Tiệp Khắc vào ngày 9-9-1989 đã có bài viết về bản Di chúc lịch sử của Người, trong đó nhấn mạnh: “Bác Hồ cùng với bản Di chúc của Người là thuộc về tất cả phong trào cộng sản, công nhân và cách mạng trên thế giới. Người được liệt vào những bậc mà thân thế và sự nghiệp đã vượt ra ngoài phạm vi biên giới của Tổ quốc mình”.

Kết quả là từ vỏn vẹn 11 nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1954, đến năm 2015 nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả châu lục; đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với nhiều quốc gia chủ chốt trên thế giới. Năm 1990, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, UNESCO đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất. Bà Ketherine Muller - Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam trong lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 2010 đã nhận định: “Hồ Chí Minh là một vĩ nhân có tầm nhìn xa trông rộng, Người đã đoán trước được sự phát triển vĩ đại của dân tộc này và do đó, đã góp phần vào việc xây dựng một phong cách mới của ngoại giao Việt Nam, một phong cách đã giúp Việt Nam xác lập thành công vị trí của mình ở khu vực và trên thế giới, rất phù hợp với những khái niệm về hợp tác hòa bình và hiểu biết lẫn nhau trên thế giới được UNESCO quảng bá”.

Học tập, vận dụng phong cách

Tại Đại hội VII (1991), Đảng ta đã xác định: “Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định “đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị”. Ngày 15-5-2016, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Chỉ thị 05 về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với trọng tâm là học tập và làm theo phong cách, tác phong Hồ Chí Minh về: dân chủ, nêu gương, quần chúng, khoa học, nói đi đôi với làm.., với mục tiêu tạo động lực mới trong việc đổi mới phong cách, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp, các ngành. Bởi vậy, việc học tập và vận dụng phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh càng trở nên thiết thực, quan trọng cho cán bộ, đảng viên.

Phong cách có liên quan chặt chẽ với tư tưởng, đạo đức. Đạo đức được thể hiện qua phong cách. Bởi vậy qua phong cách có thể đánh giá được đạo đức, nhân cách của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”. Do đó, phong cách có vai trò quan trọng đến kết quả hoạt động đối với cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, phong cách không phải bẩm sinh mà được hình thành bởi sự phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi không ngừng. Xây dựng cho mình một phong cách mang tính cách mạng và khoa học là công việc của mỗi người cán bộ, đảng viên, và phải phấn đấu bền bỉ, suốt đời.

Có thể nói rằng, phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mối quan hệ hài hòa giữa cái chung và cái riêng, là tư duy biện chứng trên cơ sở nguyên tắc về tính đồng nhất của nguyên lý, là phong cách tư duy phù hợp với quy luật phát triển, là tư duy hài hòa giữa lý tưởng và hiện thực, giữa dân tộc và thời đại. Nó chính là sự đánh giá đúng đắn, hợp lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực tiễn về mối quan hệ giữa dân và nước, giai cấp và dân tộc, dân tộc và nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời, không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân” . Bởi vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải phát huy hơn nữa tinh thần “trung với nước, hiếu với dân”, phải thực sự cảm thấy vinh dự khi “nguyện suốt đời làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân” và “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

Với quan niệm “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” nên cán bộ, đảng viên chính là người tiên phong, gương mẫu. Học tập và làm theo phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên xác định rõ trách nhiệm gương mẫu trước nhân dân, nói đi đôi với làm, xây dựng niềm tin của nhân dân, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ với nhân dân. Và mỗi cán bộ, đảng viên cũng phải thấm nhuần lời dạy của của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta là con của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, chúng ta chỉ biết trung thành với giai cấp vô sản, quyết tâm đấu tranh cho nhân dân. Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường nên Đảng ta rất vĩ đại. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Bên cạnh đó, toàn thể cán bộ, đảng viên phải thực hiện cho kỳ được điều mong muốn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người viết trong Di chúc, là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Xin dẫn một số câu chuyện về phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Bà Hồ Thị Nguyệt, sinh năm 1922, người con gái đất Kim Long của xứ Huế nguyên là cán bộ văn phòng của Phụ nữ Cứu quốc Trung ương ở chiến khu Việt Bắc. Bà nhớ lại: Một buổi chiều tôi đang cùng anh chị em làm vệ sinh trong khu vực cơ quan Trung ương Hội Phụ nữ, thì có một đoàn khách đến thăm. Bên cạnh chị Hoàng Thị Ái, Bí thư Trung ương Hội là một cụ già quắc thước, dáng vẻ nhanh nhẹn, vầng tráng cao, mắt sáng...

Chị Ái giới thiệu tôi với Bác:

- Thưa Bác! Đây là cô Nguyệt cán bộ phụ nữ mới ở Bình Trị Thiên ra.

Biết tôi mới ra Việt Bắc, Bác hỏi:

- Thế cháu tham gia công tác Phụ nữ Cứu quốc từ khi nào?

- Thưa Bác! Khởi nghĩa cướp chính quyền là cháu theo các chị tham gia hoạt động. Lần đầu cháu làm công tác phụ nữ ở xã, sau thoát ly làm công tác ở huyện và lên tỉnh.

Mắt Bác chợt ánh lên vẻ hóm hỉnh. Bác tiếp tục hỏi:

- Làm công tác vận động phụ nữ thế cháu có biết nấu cám lợn không?

Tôi thưa với Bác những công việc mình làm được, kể cả việc náu cám lợn. Nghe xong Bác gật đầu, rồi quay sang nói với chị Ái:

- Phải biết làm như thế. Cán bộ quần chúng, nhất là cán bộ phụ nữ mà không biết những khó khăn của phụ nữ, những công việc phụ nữ hay làm và phải làm thì không vận động phụ nữ, không vận động quần chúng được[6].

Phóng viên Thanh Thủy, công tác tại báo Phụ nữ Việt Nam thời kỳ 1945-1946 kể lại: Khi đến xin ý kiến Bác về tờ báo Tiếng gọi phụ nữ sắp xuất bản, Bác hỏi chúng tôi:

- Các cô có con chưa?

- Dạ chưa ạ!

- Thế các cô có biết quấn tã cho bé không?

Chúng tôi còn lúng túng chưa kịp trả lời, Bác bảo:

- Viết báo phụ nữ không thể cứ ngồi trong bốn bức tường rồi nghĩ ra viết điều này điều nọ, mà phải viết về những chuyện, những việc cụ thể, thiết thực trong đời sống hàng ngày của phụ nữ, của bà mẹ, của trẻ em[7].

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong cách của người nữ cán bộ, đảng viên như trên thật có lý có tình biết bao! Xuất phát từ cái chung, “những công việc phụ nữ hay làm và phải làm”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục bà Hồ Thị Nguyệt và phóng viên Thanh Thủy nhanh chóng đi tới đồng thuận và phấn đấu rèn luyện thêm để nêu gương với quần chúng nhân dân.

 

Huế, ngày 30-7-2018

N.V.T

 

Chú thích

[1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2011, tr. 462 – 463.

[2] GS.TS Mạch Quang Thắng, “Phong cách tư duy Hồ Chí Minh”, Tạp chí Quốc phòng Toàn dân điện tử, cập  nhật 13h00 ngày 22-12-2016.

[3] Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 43

[4] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 668.

[5] Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn Đài Phát thanh BBC (Vương quốc Anh) vào ngày 3 tháng 7 năm 2001. Xem:  http://www.mofahcm.gov.vn/en/mofa/cs_doingoai/pbld/ns04081814261544.

[6] Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế. Xem: http://www.bthcm.thuathienhue.gov.vn/.

[7] Theo Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xem: http://www.bqllang.gov.vn/.

KHXHNV & Đời sống khác:
Khoa học và công nghệ tạo đột phá trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp (4/12/2018)
Kinh tế Nghệ An sẽ thích ứng như thế nào trước cách mạng công nghiệp 4.0 (4/12/2018)
Học tập và vận dụng tấm gương tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/11/2018)
Nhân tính, Quốc tính và Cá tính (28/11/2018)
Giáo dục Mới tại Việt Nam: Những nhà tiên phong thể nghiệm (23/11/2018)
Giáo dục lương tâm? (23/11/2018)
Ngô Thì Nhậm, người kế tục xứng đáng truyền thống văn chính luận Việt Nam trung đại (14/11/2018)
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia (9/11/2018)
Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng của Karl Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay (9/11/2018)
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,110 | Tất cả: 1,552,686
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp