NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Hoàn cảnh ra đời câu thơ của Trần Nhân Tông
Tin đăng ngày: 14/11/2018 - Xem: 27
 

 

 Nguyễn Tâm Cẩn  

                                                  (Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An) 

  Vua Trần Nhân Tông, tên thật là Trần Khâm (1258 - 1308) vị hoàng đế thứ ba của vương triều Trần. Ngài là con trưởng của  vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh. Ông lên và ở ngôi hoàng đế từ năm 1278 đến năm 1293; sau đó nhường ngôi cho con để làm Thái thượng hoàng từ năm 1293 cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được nhiều sử gia đánh giá là một vị vua anh minh, đảm lược, nhân từ, quyết đoán đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước vào nửa cuối thế kỷ 13. Công tích lớn nhất là vua đã cùng triều thần, đứng đầu là Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo lãnh đạo quân dân Đại Việt làm nên kỳ tích đánh bại quân  Nguyên – Mông vào các năm 1285 và 1288 mà có lúc lên đến 50 van tên. Đây là đội quân xâm lược hung hãn, hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Ngoài danh vị là một Hoàng đế , Trần Nhân Tông còn là sư tổ sáng lập  dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Phật giáo Việt Nam đồng thời cũng là một nhà thơ lớn của dân tộc. 

Điều đáng nói là trong khi đang diễn ra cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai (1285); khi trên bộ, lúc dưới thuyền, ông phải đi qua nhiều vùng đất nước để tránh sự truy đuổi ráo riết của kẻ thù. Nhưng những lúc ấy, vị vua trẻ Trần Nhân Tông vẫn luôn an nhiên tự tại để dự định kế sách chiến lược giữ nước trước những diễn biến phức tạp của tình hình. Tiêu biểu cho sự ấy là hoàn cảnh ra đời của hai câu thơ được viết lên cuối mạn thuyền rồng với dụng ý sâu xa:

會 稽 舊 事 君 須 記

驩 愛 猶 存 十 萬 兵  (1)

    Cối Kê (2) cựu sự quân tu ký,
        Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh.

Dịch nghĩa:

     Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ,
     Hoan Diễn kia còn chục vạn quân.

Hai câu thơ này ra đời trong hoàn cảnh nào? và được ghi lên mạn thuyền lúc nào?. Đó là những vấn đề mà các nhà viết sử và bình luận đã đưa ra những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. Để trả lời câu hỏi này thiết tưởng chúng ta cần nhắc lại vài nét về hoàn cảnh và diễn biến chiến sự giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia  cũng như một số bài viết khác thì ngày 27 tháng 1 năm 1285, quân Nguyên vượt biên giới, nhanh chóng đánh bại quân Đại Việt tại các cửa ải Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược và Chi Lăng. Trước tình thế ấy, Trần Quốc Tuấn buộc phải lui quân chiến lược về bến Vạn Kiếp – Hải Đông (nay thuộc tỉnh Hải Dương) để tính kế tiếp theo. Sau khi nhận được tin, vua Trần Nhân Tông bỏ cả bữa ăn sáng đi thuyền xuống Hải Đông để gặp Quốc Tuấn. Tại đây, ông truyền cho Trần Quốc Tuấn gọi quân từ các lộ phía đông bắc như Vân Trà, Ba Điểm về Vạn Kiếp để cùng liệu kế sách chống giặc. Cùng lúc, các vương Trần Quốc Nghiện, Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng … cũng hội 20 vạn quân để giữ nơi này. Để động viên tinh thần tướng sĩ, Trần Nhân Tông đã đề ở cuối thuyền hai câu thơ rằng:

   Cối Kê việc cũ người nên nhớ,

  Hoan Diễn kia còn chục vạn quân.

       Theo Đại cương lịch sử Việt Nam thì tháng 2 năm 1285 tướng Nguyên là Toa Đô và Giáo Kỷ từ Chăm pa đánh ra Quảng Bình, tướng nhà Trần là  Trần Nhật Duật và Trần Đình Toàn vừa mới vào đất Nghệ An chống cự không nổi, Toa Đô chiếm Nghệ An, Trần Quang Khải tăng viện nhưng không kịp, Toa Đô tiến ra Thanh Hóa. Trần Kiện, Trần Quốc Khang, Lê Trắc... đã đầu hàng giặc. Tháng 3 năm 1285 đại quân do Trần Hưng Đạo chỉ huy rút khỏi Thiên Trường, vua Trần theo sông Hồng ra cửa Giao Hải rồi ngược lên phía bắc quay vào nguồn Tam Trĩ để đánh lừa giặc. Ngày 7/4/1285 vua Trần hành quân bộ từ Tam Trĩ về Thủy Chú rồi đi thuyền ra cửa Nam Triệu vào Thanh Hóa.  Khi đại quân rút khỏi Thiên Trường, một số quý tộc nhà Trần như Trần Ích Tắc, Trần Tá Hoãn, Trần Văn Lộng dao động đầu hàng giặc. Cùng lúc, một số quan lại nhà Tống khi mất nước chạy sang Đại Việt nương thân cũng quay ra đầu hàng quân Nguyên. Trước tình thế ấy, trên đường vượt biển, vua Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi thuyền hai câu thơ trên.

        Nhưng theo giáo sư Trần Bá Chí thì sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất (1258), Trần Quang Khải được cử vào làm quản hạt Nghệ An. Vốn nghe tiếng  Bạch Liêu (3) là người tài giỏi nên đã triệu kiến, từ đó đôi bên đã nhiều lần gặp gỡ, đàm đạo và xướng họa văn chương. Thế rồi, “Đồng thanh tương khí, đồng chí tương cầu” mà trở nên gắn bó. Trần Quang Khải đã nhận Bạch Liêu làm môn khách và theo kế sách của Bạch Liêu, xây dựng xứ Hoan, Diễn thành hậu phương chiến lược đề phòng các thế lực xâm lược đến từ phương Bắc. Thực tiễn này đã được lịch sử kiểm chứng từ những cuộc chiến tranh chống xâm lược trước đó của Đại Việt. Thế là, chỉ một thời gian sau, trạng nguyên  Bạch Liêu đã trình lên Trần Quang Khải  một kế hoạch chiến lược. Kế hoạch đó gồm ba phần và được gọi là Biến pháp tam chương (Tam chương biến pháp -三章 變法), nội dung  khái lược như sau:

1) Tuyển quân và luyện binh tại chỗ: điểm lại dân số, tuyển trai tráng vào quân ngũ, tiến tới có một số binh lính khoảng 10 vạn người. Quân sĩ sau khi được huấn luyện chỉ tập trung một số quân thường trực nhất định, khi có biến mới điều động tất cả.

2) Lập các kho lương từ Ngọc Sơn (Thanh Hóa) cho đến Hoành Sơn (Hà Tĩnh), cứ 20 dặm có một kho chứa đầy tiền và thóc, được bảo vệ một cách chu đáo và bí mật.

3) Củng cố các đồn binh ở biên giới phía nam Nghệ An đồng thời cho dân khai thác khẩn trương đất đai bỏ hoang của người Chiêm Thành để lại, khai khẩn đến đâu lập giáp làng đến đó, vừa mở mang bờ cõi vừa theo dõi tình hình địch.

     Trong thời gian đương trách Trần Quang Khải đã tích cực thực hiện kế hoạch này cho đến tháng 3/1271 khi vua Trần xuống chiếu điều ông ra Thăng Long làm Tướng quốc Thái úy, thì mọi việc sắp đặt ở Nghệ An vẫn được người kế nhiệm tiến hành đều đặn. Do đó khi xẩy ra chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285) thì vùng  Hoan, Diễn  về cơ bản đã trở thành một hậu phương vững mạnh. Riêng việc tuyển quân Bạch Liêu đã hiến kế: điểm lại dân số, tuyển trai tráng vào quân ngũ, tiến tới có một số binh tịch sẵn sàng đủ 10 vạn quân. Có quân rồi các châu huyện phải điểm binh, luyện tập võ nghệ, sắm sửa vũ khí... rồi cho về nhà sản xuất. Khi nào có giặc mới điều động lực lượng này.

     Thế nên, vào khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1285, khi mà cuộc chiến đang ở thời điểm cam go, căng thẳng  quân nhà Trần thất bại ở nhiều nơi,  một số quý tộc nhà Trần run sợ trươc thế giặc mạnh muốn đầu hàng giặc, lại có kẻ khuyên vua nên đầu hàng để cứu muôn dân. Trước tình hình ấy, Nhà vua có lúc không khỏi băn khoan lo lắng. Điều này là có cơ sở vì có lần Ngài đã nói với Hưng Đạo đại vương: "Thế giặc to như vậy mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm phải chịu hàng đi để cứu muôn dân" (cũng có thể, vua dò ý của Hưng Đạo). Để an lòng vua, Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy thì thật là lời nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn đầu hàng xin trước hãy chém  đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng." (4) . Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy và  khi mà  Nhà vua  cùng với một số quan lại thân cận đang ở trong thuyền ngự  thì nhận được tờ tâu của Trần Quang Khải. Để có được tờ tâu này Quang Khải đã yêu cầu Bạch Liêu soát lại binh tịch ước độ 10 vạn người và viết tờ tâu dâng lên vua Trần, nói rõ tình hình khả quan ở mặt trận phía Nam. Nhận được tờ tâu của Trần Quang Khải, Nhà vua phấn khởi tin tưởng đã viết vào mạn thuyền hai câu thơ trên . Đây có thể là một trong những cơ sở để tin về xuất xứ, hoàn cảnh, thời điểm ra đời của hai câu thơ đó.

      Theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi thì  "Hai câu thơ, có lẽ chỉ nhằm trấn an những bề tôi nào đó cùng đi trên thuyền, nhưng đã lan truyền rất nhanh như một thông điệp về tinh thần tự chủ kỳ lạ của người đứng đầu xã tắc." và "Gợi một điển tích cũ để bày tỏ niềm tin vững chắc của mình vào triển vọng của đất nước lúc bấy giờ, trong tình thế nghìn cân treo sợi tóc, đồng thời Trần Nhân Tông cũng nhắc người nghe đừng quên mất thực tế là vùng hậu phương Thanh - Nghệ lực lượng hiện vẫn chưa suy suyển. Nhưng còn quan trọng hơn là cái dung lượng triết lý mà câu nói của ông chứa đựng. Với hình thức thi ca chứ không phải chiếu lệnh, Nhân Tông như muốn truyền vào người tiếp nhận cùng lúc nguồn cảm hứng lãng mạn của một thi nhân và con mắt nhìn động của một triết nhân, để họ nhận rõ xu thế chuyển hóa bên trong của cái hiện thực rối bời trước mắt".

      Lại nói, Trần Nhân Tông là người sùng tín đạo Phật , nên chăng chữ “Duyên” trong tâm thức của nhà vua được kết tinh từ tinh thần “Anh em đồng thuận, cả nước một lòng”. Tâm cảnh ấy đã làm nên khí phách, lòng cảm khái của Nhà vua trong lúc thế giặc đương mạnh. Điều này thấy khá rõ ở cách gieo vần nhả chữ, chỉ với hai câu thôi mà đủ cả đề và đối, tạo nên sự hoàn chỉnh của một bài thơ. Đã trải qua nhiều thế kỷ, với hai câu thơ, người đọc dường như vẫn nghe thấy Nhà vua nói với binh tướng và những ai còn giao động rằng: hãy nhớ lấy bài học Cối Kê (chuyện về "nếm mật nằm gai" chỉ ý chí kiên trì vượt qua gian khổ khó khăn  để đạt được mục đích), tạm lùi chỉ là chiến lược, chúng ta còn cả một vùng Hoan,Diễn với hàng chục vạn quân, thắng lợi chỉ còn là thời gian, hãy gắng sức giết giặc lập công. Và quả thật đúng như lòng tin của Nhà vua chỉ hai, ba tháng sau ngày 6 tháng 6 năm 1285 quân và dân ta đã tiến vào giải phóng Thăng Long và mở hội ca khúc khải hoàn.

 

Chú thích

(1) Hai câu thơ này còn có một dị bản khác cũng rất phổ biến như ở sách Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học xã hội, 1977 hoặc Bài "Đọc thơ Trần Nhân Tông" của Nguyễn Lương Vỵ và một số nơi khác:

Cối Kê cựu sự quân tu ký,  
Hoan, Ái do tồn thập vạn binh
.

(Việc cũ ở Cối Kê ngươi nên nhớ,  
Châu Hoan, Châu Ái đang còn hàng chục vạn quân).

(2)  Cối Kê : là một địa danh cũ của Trung Quốc naỳ thuộc tỉnh Chiết Giang . Việc cũ Cối Kê  xẩy ra cuối thời Xuân Thu. Lúc này những cuộc chiến tranh giữa nước Việt với nước Ngô lớn hơn xẩy ra thường xuyên. Năm 496 TCN, vua Ngô là Hạp Lư đem quân đánh Việt bị quân Việt bắn bị thương rồi chết. Con là Phù Sai lên nối ngôi nuôi chí báo thù. Ba năm sau Việt Vương Câu Tiễn đánh Ngô bị thua to, đem 5000 quân đến giữ và trốn ở núi Cối Kê. Phù Sai đuổi đến bao vây núi, Phạm Lãi khuyên ông xin đầu hàng dùng lời lẽ khiêm nhường, dùng lễ hậu để lấy lòng vua Ngô và nếu không được thì phải đến thân hành hầu hạ.... Câu Tiễn nghe theo, nước Việt không bị tiêu diệt nhưng Câu Tiễn bị bắt về nước Ngô.

       Sau ba năm phục dịch và chịu đủ mọi nỗi nhục cay đắng Câu Tiễn được Ngô Vương cho về nước. Ông đã thực hiện triệt để kế sách "nếm mật nằm gai" theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, tiến hành cải cách lớn đất nước: bên trong trọng dụng người tài, luyện tập quân đội, tích trữ lương thực nuôi chí phục thù , bên ngoài lo triều cống chu đáo đem vàng bạc và cả người đẹp Tây Thi dâng cho Ngô Vương làm cho Phù Sai hoang dâm xa xỉ, bỏ bê chính sự , giết hại trung thần... Sau 10 năm phục hưng nước Việt trở nên hùng mạnh. Từ năm 483 TCN - 475 TCN Câu Tiễn ba lần mang quân đánh Ngô và đều giành được thắng lợi. Năm 473 TCN vua Ngô là Phù Sai xin quy hàng và phải tự sát.

       (3)  Bạch Liêu (1236  - 1315) là vị tổ khai khoa cho đất Nghệ An quê ở làng Thanh Đàm, xã Nguyên Xá, huyện Đông Thành,  nay thuộc xã Mã Thành, huyện Yên Thành. Ông đỗ Trạng nguyên năm Thiệu Long thứ 9 (1266) đời vua Trần Thánh Tông. Sau đó nhà vua đã ra chiếu chỉ  mời vào triều nhận chức quan nhưng ông đã xin ở lại quê hương. Ông là môn khách (cương vị như quân sư) của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải và đã giúp chủ tướng thảo kế hoạch tuyển quân, tích trử lương thảo, củng cố biên giới phía Nam (gọi là Biến pháp tam chương) góp phần quan trọng trong việc chống lại cánh quân Nguyên do Toa đô chỉ huy. Khi Toa đô rời khỏi Nghệ An, Bạch Liêu còn theo Trần Quang Khải trên đường trường chinh ra Bắc và các trận đánh do Quang Khải chỉ huy ở Phú Tân (Thanh Hóa), Chương Dương, Thăng Long... đều có công sức đóng góp của Bạch Liêu.  Ông cũng được nhà vua cử tham gia đoàn sứ bộ sang Nguyên vào năm 1287. Bằng trí tuệ uyên bác và tài ngoại giao, ông đã góp phần tạo quan hệ hòa hiếu giữa hai nước sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai.                                                                           

(4) Trần Trọng Kim “Việt Nam sử lược”, NXB Văn Học 2008, tr. 145.

 

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Tìm hiểu các nguyên lý bài trí thờ tự - tại di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An (4/12/2018)
Góp phần cải chính về năm mất của Nguyễn Công Trứ (4/12/2018)
Hoàn cảnh ra đời câu thơ của Trần Nhân Tông (14/11/2018)
Đề xuất giải pháp sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An (9/11/2018)
Hội thảo khoa học: Truông Bồn - Giá trị lịch sử, bảo tồn và phát huy (2/11/2018)
Hội thảo khoa học "Thân thế và sự nghiệp Tiến sỹ Trần Đình Phong" (1/11/2018)
Về chuyến thăm Nghệ An năm 1932 của vua Bảo Đại (10/10/2018)
Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Hòa Bình, UBND huyện Cao Phong làm việc và chia sẻ kinh nghiệm tại Nghệ An (10/10/2018)
Hội thảo khoa học Thoát nước đô thị Vinh - Thực trạng và giải pháp (3/10/2018)
Bàn giải pháp và chương trình phối hợp hoạt động KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp (27/9/2018)
Nâng cao hiệu quả hoạt động Khoa học và công nghệ cấp huyện (25/9/2018)
Đi tìm một bản sử thi "Khun Chương" đầy đủ (10/9/2018)
Vấn đề Hồ Xuân Hương - Thử tiếp cận những bài thơ có gốc nguồn văn bản (31/8/2018)
Khoa học & công nghệ trong nông nghiệp ở Nghệ An: Cần có những tác động mới (31/8/2018)
Đội ngũ cán bộ không chuyên trách ở Nghệ An Thực trạng và giải pháp (31/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,154 | Tất cả: 1,552,730
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp