KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia
Tin đăng ngày: 9/11/2018 - Xem: 16
 

Lê Thị Thu Hương

Tóm tắt: Do ảnh hưởng của nền giáo dục Nho học Trung Quốc, hệ thống trường học ở Việt Nam được định hình khá sớm. Việc triều đình nhà Lý cho dựng Văn Miếu năm 1070, Quốc Tử giám năm 1076 - ngôi trường đầu tiên ở nước ta đã đặt dấu mốc quan trọng trong nền giáo dục khoa cử nước nhà. Tại Nghệ An, để tạo điều kiện cho con em được đến trường đến lớp, nhiều làng xã đã tự dựng trường, mở lớp trên diện tích đất công của địa phương hoặc lấy Văn từ, Văn chỉ làm nơi dạy học. Mỗi ngôi trường đó đều có những quy định riêng về việc mời thầy, thưởng phạt đối với học sinh, kinh phí hoạt động, tu bổ. Ngoài ra, còn có trường học của các nhà khoa bảng được mở ra để dạy dỗ con em trong làng ngoài xã và những vùng lân cận, như trường của Tiến sĩ Nguyễn Đức Đạt, Tiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành, thầy Hồ Mậu Đức. Điều đó được ghi chép cụ thể qua tư liệu tục lệ và bi ký Hán Nôm.

  1. Việc dựng trường dạy chữ Hán tại Nghệ An

1.1. Trường học do thôn xã mở ra

Tại Nghệ An, theo nguồn tư liệu tục lệ và văn bia, các ngôi trường chủ yếu được dựng vào thế kỷ XIX, thời kỳ khoa bảng Nho học ở Nghệ An đạt được những thành tựu rực rỡ nhất. Trường được dựng lên ở các thôn xã, thu hút nhiều con em địa phương đến học. Đất dựng trường là đất công của bản giáp, thôn, xã với quy mô nhỏ, thường từ 3 gian đến 5 gian, gia đình có con em đến tuổi đi học đưa đến trường, mọi chi phí đã có từ nguồn hoa lợi của ruộng học điền“一款村內有例定設立學場一屋一位三间在本村[9b]公土或何家有子宜將至場呈師受教無費損一毛已有學田秋夏二務得二畝六高七尺六寸㨿全年給與教師支卞” (Trong thôn có lệ định dựng một ngôi trường học ba gian tại đất công của bản thôn, nhà nào có con nên đem đến trường trình thầy xin học, không phí tổn một hào (vì) đã có học điền, xuân hạ hai vụ được 2 mẫu 6 sào 7 xích 6 thốn, cả năm cấp cho thầy giáo chi biện)(1). Thôn Thượng Khê xã Hương Cái tổng Hải Đô(2) định lệ dựng một ngôi trường ở địa phận bản giáp, sức cho học sinh từ 12 tuổi trở lên được phép đến học, nếu bỏ học, lười biếng không chăm chỉ bị phạt 50 roi.

Văn từ, Văn chỉ là nơi thờ Khổng Tử cùng các vị tiên hiền, tiên Nho cùng các nhân vật đỗ đạt khoa bảng, nơi tổ chức các kỳ tế đinh vào mùa xuân, mùa thu hàng năm, nơi sinh hoạt của Hội Tư văn của các địa phương. Ngoài một số địa phương có quỹ đất cho việc lập trường, thôn Bùi Châu, xã Bùi Ngõa, tổng Hải Đô, phủ Hưng Nguyên lấy Văn từ bản xã làm trường học “其學場以本社文祠為所社內何人有子孫就學者只有時節之禮多少隨心”(3) (Trường học lấy văn từ bản xã làm nơi học, trong xã người nào có con cháu đến trường chỉ có lễ theo mùa, nhiều ít tùy tâm). Khuyến khích người dân mời thầy lập trường học thôn Na Điền huyện Thanh Chương quy định “村內某有延師立學場者本村給公錢每年貳拾贯”(Trong thôn ai mời thầy lập trường học bản thôn cấp tiền công mỗi năm 20 quan).

Tuy là trường do thôn, giáp lập lên xong mỗi ngôi trường đều đặt ra những quy định riêng rất chặt chẽ, nhằm mang lại kết quả học tập cao nhất cho người đi học. Ngày khai trường thường được diễn ra vào tháng Giêng đầu Xuân, lễ vật giao cho Lý trưởng lo biện, mời 2 thầy dạy đại tập, 2 thầy chuyên dạy trẻ nhỏ hàng tháng đều khảo xét, chính vì vậy việc học rất hiệu quả: “一定正月拾六日延請教師至十八日行開場禮存禮物交里長料行. 一筵請教師二員一員教大習每月進益課一期 據伊某月十五日就亭所考課 一筵二教師專教小童初習每月二期考課或對聯或詩賦隨教師意見命題”(4) (Ngày 16 tháng Giêng mời thầy đến, ngày 18 tiến hành lễ khai trường, lễ vật giao cho Lý trưởng lo liệu. Mời 2 thầy giáo, 1 người dạy đại tập, mỗi tháng một kỳ tiến khóa, cứ ngày rằm hàng tháng tập trung tại đình để khảo xét. Mời 2 thầy giáo chuyên dạy trẻ nhỏ mới học, mỗi tháng 2 kỳ khảo xét hoặc câu đối hoặc thơ phú tùy ý kiến mệnh đề của thầy). Để hoạt động của trường được diễn ra có kỷ luật, sĩ tử học tập có kết quả tốt, nhiều thôn xã bầu 2 người giám sát, cuối tháng thân chinh đến trường kiểm tra, người nào học tập chuyên cần, văn chương tiến bộ thì thưởng 1 quan tiền xanh, người nào ăn chơi phạt 30 roi, nếu không thay đổi, tái phạm thì đuổi khỏi trường để làm nghiêm việc học, như thôn Ngọc Điền, huyện Hưng Nguyên(5). Các thôn xã thuộc tổng Vân Tụ, huyện Yên Thành đều “bầu ra một người giám trường” giúp cho việc trông nom trường học và các công việc hiếu hỷ của thầy dạy.

Để có nguồn kinh phí dành cho việc tu bổ, duy trì hoạt động của trường các thôn xã có nhiều biện pháp rất linh hoạt: trích tiền công của thôn xã, thu của sĩ tử mới nhập học, bán thóc lúa dự trữ hoặc trích thuế ruộng. Thôn Lỗ Điền tổng Hải Đô “學校一座遞年摘取公消一百貫修捕 (…) 據入學士子炤收每名全年六貫以助 存欠干全民發買巡霜栗附入或摘稅每畝半方以供給再席帳與筆紙各款增捕在士子 亦可或里長支料俟有何支費炤扣亦可(6) (Trường học 1 ngôi nhà, hàng năm trích 100 quan tiền công để tu bổ, còn tiền (… ) sĩ tử nhập học chiếu thu mỗi người 6 quan cho cả năm để hỗ trợ, còn thiếu toàn dân phát bán thóc lúa phụ vào hoặc trích tiền thuế mỗi mẫu nửa phương để cấp. Các khoản chiếu trướng, bút giấy có thể thu thêm của sĩ tử hoặc lý trưởng liệu chi, đợi có khoản chi phí nào chiếu theo trừ bớt cũng được). Con em trong xã đến học tập nếu người nào không lo được giấy bút, toàn dân cấp cho, tiền giấy bút mỗi tháng là 1 quan(7), hoặc được cấp 3 sào ruộng giúp cho việc chi phí để biểu thị sự khuyến khích. Đó được coi như hình thức xã hội hóa giáo dục rất đáng học tập và khích lệ, tạo cho sĩ tử có một môi trường học tập tốt, điều kiện học tập tốt để họ yên tâm học tập và duy trì được dài lâu.

Upload

Trường học không phải do triều đình mở ra mà được dựng ngay trong khuôn viên nhà thầy giáo

hoặc trong các đình làng, tùy vào hoàn cảnh mỗi nơi (Ảnh: Tư liệu)

1.2. Trường học của các nhà khoa bảng

Bên cạnh việc các thôn xã tự dựng trường, mời thầy, đón học sinh về học, tại Nghệ An có khá nhiều trường lớp do nhà khoa bảng mở ra để dạy dỗ con em trong làng, ngoài xã và những nơi lân cận. Nhiều nhà khoa bảng chọn phương châm sống “tiến vi quan, thoái vi sư” khi nghỉ hưu, bản thân hoặc gia đình có chuyện riêng, hoặc không muốn ở lại quan trường nhưng vẫn muốn đem kiến thức tích lũy được truyền dạy cho các thế hệ học trò, nhiều thầy đã mở lớp dạy học, đào tạo được nhiều thế hệ học trò đỗ đạt, rạng danh cho quê hương, đất nước.

Thầy giáo Nguyễn Đức Đạt 阮德達 người xã Nam Kim, tổng Trung Cần, huyện Thanh Chương nay là thôn Hoành Sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông sinh năm Giáp Thân (1824), đậu Cử nhân khoa Đinh Mùi (1847), 30 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh nhất danh (Thám hoa thứ nhất). Lúc đầu ông được bổ chức Thị giảng Tập Hiền viện, sau thăng Cấp sự trung. Được ít lâu xin về quê phụng dưỡng cha mẹ già. Năm Canh Thân (1860) trở lại Kinh, được bổ chức Chưởng Ấn Kinh kỳ đạo. Khi cha mẹ già qua đời, ông xin về cư tang, rồi mở trường dạy học. Học trò nghe danh tiếng gần xa đến xin theo học rất đông(8). Tiếp đó là những năm Nguyễn Đức Đạt “đăng trướng thụ đồ” ông nhận lời dạy học ở làng Hương Vân (Nam Đàn), sau dân làng Lãng Đông dựng sẵn một ngôi trường rồi gánh lễ sang đón mời ông đến dạy. Năm 1876 ông lấy cớ ốm đau bệnh tật xin cáo quan trở về, dân làng Hoành Sơn dựng ngay ngôi trường năm gian để đón ông về làng dạy học. Từ đó đến những năm cuối đời ông giành hết tâm huyết cho ngôi trường này. Học trò của ông đông lên từng ngày, không chỉ bên Hưng Nguyên, Nam Đàn mà cả bên Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc học trò nghe tiếng cụ Đốc Thám Nhất về quê dạy học thì kéo đến ùn ùn, học trò ngồi cả ra sân, mỗi khóa có đến cả trăm người. Học trò của ông nhiều người thành đạt như Hoàng giáp Đặng Văn Thụy, Tiến sĩ Đinh Văn Chất, Hoàng giáp Nguyễn Đức Qúy(9)...

Thầy giáo Nguyễn Nguyên Thành 阮元城 (1825-?) người xã Đô Lương, huyện Lương Sơn, nay là Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Ông tự là Uẩn Phủ hiệu Hương Phong, biệt hiệu Sơn Đường Dạng Phu, đỗ Tú tài khoa Bính Tý, Cử nhân khoa Mậu Thân (1848), 27 tuổi đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Hợi niên hiệu Tự Đức (1851). Hồi đầu giữ chức Biên tu, sau thăng Tri phủ Lý Nhân, do để vỡ đê ông bị giáng làm Lễ bộ Tư vụ. Năm Mậu Thìn sung làm Đốc học tỉnh Bình Định. Học trò của ông nhiều người đậu phó bảng, cử nhân, tú tài, thí sinh, họ cùng nhau dựng lại bia ghi tiểu sử về thầy với tiêu đề Sơn Đường tiên sinh tự bốc thọ tàng山堂先生自卜壽藏 (hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm)(10).

Thầy Tôn Đức Tiến người xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tuy thi Hương mấy lần chỉ đậu Tú tài nhưng ông được sử sách đánh giá là một trong những người thầy uyên bác: “Tôn Đức Tiến, hiệu Lỗ Xuyên người huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, mấy lần thi đỗ Tú tài ở nhà dạy học, yên phận nghèo nàn kiệm ước, chỉ chăm chăm vào việc dẫn bảo hậu học về các kinh sử, chư tử bách gia cho đến cửu lưu (…) người đời sau khen là văn học sâu rộng, học trò được hiển đạt có mấy trăm người”(11).

Tiên sinh họ Nguyễn hiệu Lễ Nham, con trai thứ hai của cụ Thọ Phong, húy là Hoàn, tự là Chính Phủ. Năm Quý Mão đỗ Hương giải, sau khi tham dự thi Hội ông trở về mở trường dạy học, đào tạo được nhiều thế hệ học trò. Năm Bính Thìn bổ Hàn lâm viện Điển bạ, lãnh chức Huyện huấn huyện Quảng Điền, Phong Điền. Năm Đinh Tỵ nhiếp Huyện ấn huyện Hương Thủy, Phú Lộc. Năm Mậu Ngọ làm Giáo thụ phủ Đức Thọ, năm Tân Dậu làm học chính bản tỉnh. Học trò ông sau này nhiều người đậu cử nhân, tú tài họ cùng nhau dựng bia ghi lại tiểu sử thầy dạy(12).

Thầy giáo Hồ Mậu Đức sinh năm Bảo Hưng thứ 1 (1801) từ nhỏ nổi tiếng thông minh, được gọi là thần đồng, thi đỗ kì thi Hương, được bổ làm Huyện lệnh huyện Đông Triều. Sau xin về phụng dưỡng mẹ già, mở trường dạy học, mẹ mất lại ra làm quan, bổ làm Huyện doãn huyện Hương Sơn rồi bị miễn quan. Năm Mậu Thân (1848) ông về hưu, tiếp tục dạy học. Học trò theo ông rất đông, trong đó nhiều người hiển đạt. 270 người là cử nhân, tú tài, ấm sinh, khóa sinh, họ tên của họ được khắc đầy đủ ở mặt sau tấm bia(13).

Các thầy giáo nơi đây xuất phát từ những nhà Nho nghèo, họ mở trường lớp dạy học không phải mục đích mưu sinh mà để tiếng thơm cho đời, mang lại những thế hệ học trò rạng danh cho quê hương. Thông thường thầy dạy càng giỏi càng nhiều học trò tìm đến xin học, học trò đỗ đạt càng nhiều thầy giáo càng nổi tiếng, càng được trọng vọng. Thầy Dương Tồn dạy học ở Quỳnh Lưu đã có công đào tạo học trò nghèo là Hồ Sĩ Dương thi đậu Tiến sĩ, thầy được dân làng lập đền thờ làm Tiên hiền, con cháu đời đời được miễn phu phen tạp dịch, khi thầy mất hội đồng môn lo giỗ kỵ cho thầy. Nối tiếp sự nghiệp của thầy, Hồ Sĩ Dương truyền thụ kiến thức, đào tạo học trò là Hoàng Công Chí thi đậu Tiến sĩ năm 30 tuổi, Hoàng Công Chí lại có công đào tạo học trò Nguyễn Công Hãng cũng thi đậu Tiến sĩ(14).

Trường học với quy mô vừa và nhỏ được mở ra tại các thôn xã ở Nghệ An đã trở thành nơi học tập chung cho cả làng, cả xã, thậm chí nhiều xã lân cận trong vùng, góp phần vào việc dạy dỗ các lớp học trò, mở rộng môi trường học tập, đưa trường học đến gần hơn với người dân, đến với con em nhà nghèo. Có trường, có lớp, có thầy dạy, con em địa phương có cơ hội được học hành nhiều hơn, được truyền dạy chữ Thánh hiền, được  học đạo lý Nho gia, làm tiền đề cho con đường học tập, khoa cử sau này.

Upload

Một lớp học ngày xưa (Ảnh: Tư liệu)

2. Việc mời thầy dạy và tinh thần “tôn sư trọng đạo”

Dân tộc ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, đó là một truyền thống tốt đẹp của một dân tộc văn hiến và hiếu học. “Tôn sư” là đề cao, tôn vinh, coi trọng người thầy, “trọng đạo” là coi trọng nghề dạy học, đạo ở đây là đạo làm thầy. Ông cha ta từng nhắc nhở con cháu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” có nghĩa là người dạy cho ta một chữ cũng là thầy, dạy nửa chữ cũng là thầy, bởi “Không thầy đố mày làm nên”.

Để tạo điều kiện học tập tốt nhất cho con em trong địa phương, ngoài việc dựng trường, trang bị đồ dùng học tập cho học sinh, các thôn xã tại Nghệ An còn đặc biệt quan tâm đến việc mời thầy về dạy học cho con em ở địa phương mình.  Việc chọn thầy có thể là người trong xã, ngoài xã, hoặc trong huyện, là quan về hưu hoặc tiến sĩ, cử nhân, tú tài, người đỗ nhất nhị trường, đôi khi những viên chức trong thôn có học hành được bầu làm thầy dạy con em trong làng… đều do quan viên, lý dịch, kỳ mục và toàn dân chọn mời(15).

Để các thầy chuyên tâm vào việc truyền dạy kiến thức cho học sinh, các thôn xã đã đặt ra những chế độ đãi ngộ rất tốt với thầy, thường thì thôn xã sẽ trích ra một số ruộng công nhất định, tùy từng nơi, có thể là 2 mẫu, 3 mẫu, có nơi lên đến 10 mẫu… làm ruộng học điền, có thể giao trực tiếp cho thầy để thầy tự lo liệu hoặc giao cho người dân địa phương trồng cấy lấy hoa lợi trả lương thầy. Người nhận ruộng học đó phải gắng sức làm, nếu để ruộng cằn cỗi sẽ bị phạt tiền để mua phân bón ruộng rồi mới được phép nhận canh tác tiếp, có nơi đợi đến cuối vụ đông nộp lúa để nuôi thầy, có nơi trích 100 quan ở kho thóc dự trữ để trả lương thầy. Toàn dân thôn Bùi Châu xã Bùi Ngõa “đặt 3 mẫu học điền để trả lương cho thầy, giao cho một đinh nam gánh nước hoặc thầy sai khiến khi có việc, cũng đặt 2 hai sào ruộng cho phép người đó canh tác để lấy hoa lợi”, có thôn “hễ đến đông chí bản thôn nộp 40 gánh lúa để nuôi thầy”, hay “cả học trò cùng thầy dạy đều được bản thôn cấp 3 sào ruộng công trợ giúp cho chi phí, biểu thị sự khuyến khích”(16). Xã Yên Pháp, tổng Đô Yên còn miễn tạp dịch cho những người đến 20 tuổi mới nhập hương ẩm, theo nghề thầy giáo và tập trung tâm trí vào việc dạy học.

“Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy” cha mẹ là người sinh ra, nuôi dưỡng chúng ta nhưng để chúng ta đỗ đạt, thành công trên con đường sự nghiệp hay không thì phần lớn phải nhờ vào công lao của người thầy. Vì vậy chữ “ơn thầy” cũng giống như ơn bậc cha mẹ đã sinh thành ra mình vậy. Trong phong tục tết xưa, người Việt đã rất coi trọng việc quan tâm đến người thầy “Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”, trong ba ngày tết thì không thể thiếu ngày đến thăm hỏi thầy dạy. Tuy nhiên, có những nơi như thôn Quỳnh Lưu “Từ ngày mồng 2 tháng Giêng các quan viên chức sắc đã đi lễ ở nhà thờ các quan lớn đại khoa, học trò đến bái yết nhà thầy giáo không kể thầy còn sống hay chết”. Nhiều thôn xã thuộc tổng Vân Tụ, huyện Yên Thành như thôn Phú Ninh, giáp Ngọc Hạ, thôn Kim Liên, xã Hợp Hòa…đều lập ra lệ đồng môn. Đồng môn ở đây là một nhóm gồm năm mười người cùng học một thầy, họ cùng nhau lập ra một hội, đề ra những quy định về việc lễ tết thầy, thăm hỏi thầy lúc ốm đau, khi gia đình thầy có việc, khi tang ma, giỗ chạp thầy coi đó như hình thức trả ơn công lao dạy dỗ của thầy. Đồng môn thôn Trịnh Sơn xã Quảng Động, huyện Yên Thành nghĩ rằng “Dân tôi có ông thầy học dạy học trò khi đầu thời dạy nghĩa dạy viết, sau thời dạy văn dạy bài khó nhọc lắm, cảm đến công ơn thầy cho nên làm ra lệ đồng môn để trả công ơn cho thầy, tục ngữ nói rằng muốn cho hay chữ thời yêu lấy thầy là phải lắm”(17). Thông thường hội đồng môn đó sẽ họp nhau lại lập một quyển sổ ghi tên mọi người vào, mỗi người góp một số tiền, góp gạo sau đó bầu ra một người trông coi trường, giữ cuốn sổ đó khi nào nhà thầy có việc vui việc buồn thì trích tiền đó ra chi dùng. Lệ đồng môn của thôn Yên Lăng xã Yên Lăng quy định rằng “Dân chúng tôi những người nào đi học với thầy học, dạy được năm mười người thời năm mười người ấy rủ nhau làm quyển sổ ghi tên vào, đóng tiền mỗi người 2 quan, bầu 1 người giám trường khi nào thầy có việc vui mừng hoặc có việc tang khóc thời người giám trường đi dạy cho những người ấy, lại để mà đi mừng thầy hoặc đi thăm thầy ấy là lệ đồng môn”. Vào ngày mồng 5 Tết hàng năm đồng môn thôn Phong Niên, xã Đồng Thống, tổng Vân Tụ rủ nhau đem tiền, đem gạo đến nhà thầy lễ tết.

Khi các thầy sống được dân làng trọng hậu, khi thầy qua đời thì được thờ tự chu đáo. Hội đồng môn của nhiều thôn xã thuộc tổng Vân Tụ đã đề ra những quy định về việc để tang, giỗ chạp thầy dạy. Người dân thôn Phú Ninh, thôn Phong Niên, xã Tiên Cảnh, tổng Vân Tụ còn quy định khi thầy mất học trò phải mặc áo trắng, đội khăn trắng để tang thầy: “Dân chúng tôi học trò đến học theo thầy khi đương học phải làm lễ tiết, đến ngày thầy chết thời mặc đồ áo trắng khăn trắng đến đưa, lại làm câu đối cỗ xôi gà đến phúng, khi giỗ chạp đến lại cúng thầy”(18), những người có học với thầy ở xã Hiệp Hòa, tổng Vân Tụ đóng mỗi người một quan để lại khi nào thầy mất thời mỗi năm làm giỗ một lần.

Người làm thầy phải có đầy đủ các điều kiện, tài năng mới có thể làm thầy.  Người làm thầy ắt phải trung với đạo, truyền đạo thông qua “thụ nghiệp” cho học trò. Chính vậy đạo là tiêu chí căn bản đầu tiên để chọn thầy, người làm thầy đầu tiên phải có tín niệm, kiên trì đối với đạo(19). Thực tế trong xã hội đã có những trường hợp mượn cớ làm thầy mà gây ra nhiều phiền nhiễu, ảnh hưởng đến việc học tập của học trò, đến phong tục của làng xã. Vì vậy một số làng xã đặt ra những quy định riêng đối với thầy nhằm có được những người thầy đủ tài đủ đức để không chỉ truyền dạy kiến thức cho học trò mà còn dạy họ làm người tốt. Hương khoán của thôn Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, một vùng quê khoa bảng nổi tiếng Nghệ An đã đưa quy định “bản thôn vốn gọi là làng văn chương phong nhã, gần đây các người dạy học có người mượn cớ đạo để gây việc, gây ra nhiều oán báng, tệ ấy phải nên đe răn từ nay về sau nếu người nào quen thói hủ lậu, bị phát giác thì lập tức theo lời bàn công bằng mà bài trừ, người đã có công danh thì không cho đi thi, việc ấy quan hệ đến phong hóa, không cho chống chế, nhân đấy yết thị lên để cho phong hóa học trò được đúng đắn”(20). Nơi đây vốn sinh ra nhiều bậc văn chương chuyên làm nghề dạy học, nên thôn đưa ra quy định “một khi đã làm bậc thầy thì đều nên lấy đạo làm trọng, mỗi cử chỉ về lời nói việc làm không nên cẩu thả, nếu càn rỡ tự cho mình là bậc tôn quý đòi hỏi quá nhiều, một khi không vừa ý thì lăng nhục chủ nhà, đóng cửa chuồng trâu, và có ý riêng thế nào, tai tiếng đồn vang, làm thương tổn đạo nho, người có tên trong sổ hội thì tước bỏ tên ra, người không dự tên trong sổ hội thì đánh 30 gậy và đưa giấy sang nơi khác phải nhất thiết đuổi đi”(21).

Việc lựa chọn được thầy có tài, có đức cùng những chế độ đãi ngộ tốt, với tinh thần “tôn sư trọng đạo” đã khiến cho các thầy giáo toàn tâm toàn ý, dồn tâm dồn sức để dạy dỗ, truyền thụ kiến thức cho những thế hệ học trò nơi đây.

Kết luận: Không được thiên nhiên ưu đãi về mặt khí hậu, mảnh đất Nghệ An quanh năm nắng hạn khô cằn; không thuận lợi về khoảng cách địa lý do xa kinh đô, tỉnh lộ nhưng nhờ những ngôi trường được dựng lên ở các thôn, xã; những lớp học do các nhà khoa bảng mở ra  đã tạo tiền đề, nền tảng vững chắc giúp cho người dân Nghệ An trong học tập. Có trường lớp, có thầy dạy họ yên tâm, tin tưởng cho con em mình đi học, tiếp thu tri thức, tiến thân trên con được học hành, thi cử. Đó chính là trong những hoạt động khuyến học có ý nghĩa, thiết thực và giàu tính nhân văn. Với truyền thống tôn sư trọng đạo, có thể thấy vai trò của người thầy luôn được đề cao, coi trọng trong bất cứ thời điểm lịch sử nào, là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý.

 

Chú thích

(1). Nghệ An tỉnh, Hưng nguyên phủ, Hải Đô tổng, Hạ Khê thôn tục lệ乂安省興元府海都總賀溪村俗例, AFb1/7, tờ 9a.

(2). Nghệ An tỉnh, Hưng nguyên phủ, Hải Đô tổng, Thượng Khê thôn tục lệ乂安省興元府海都總上溪村俗例, AFb1/7, tờ 23b.

(3). Nghệ An tỉnh Hưng nguyên phủ Hải Đô tổng Bùi Ngõa xã Bùi Châu thôn tục lệ乂安省興元府海都總裴𤬪社裴洲村俗例, AFb1/12, tờ 38b.

(4). Nghệ An tỉnh Hưng nguyên phủ Hải Đô tổng Lỗ Điền thôn tục lệ乂安省興元府海都總魯田村俗例, AFb1/8, tờ 18-19.

(5). Nghệ An tỉnh Hưng nguyên phủ Thông Lãng tổng Do Lễ xã Ngọc Điền thôn tục lệ乂安省興元府通朗總由礼社玉田村俗例, AFb1/17, tờ 43a.

(6). Chú thích 4, tờ 18a.

(7). Nghệ An tỉnh Hưng nguyên phủ Thông Lãng tổng Do lễ xã Ngọc Điền thôn tục lệ乂安省興元府通朗總由礼社玉田村俗例, AFb1/17, tờ 43a.

(8). Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam, Nxb. Văn học, tr. 724.

(9). Ngô Đức Thọ (2012), “Thám hoa Nguyễn Đức Đạt (1825-1887) và trường Đông Sơn nổi tiếng cuối thế kỷ 19”, nguồn http://ngoducthohn.blogspot.com/2012/10/tham-hoa-nguyen-uc-at-1825-1887.

(10). Sơn Đường tiên sinh tự bốc thọ tàng山堂先生自卜壽藏, N0 2655-56.

(11). Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Huế, Thuận Hóa 1993, dẫn theo  Đào Tam Tỉnh  (2000), Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), Sở VHTT Nghệ An, Thư viện Nghệ An, tr. 41.

 (12). Lễ nham đạo trai Nguyễn tiên sinh thọ tàng, 禮巖道齋阮先生壽藏, N02638 - 39.

(13). Vô đề N02848-49, Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 2, tr. 309.

(14). Đào Tam Tỉnh (2000), Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), Sở VHTT Nghệ An, Thư viện Nghệ An, tr. 32-33.

(15). Chú thích 7,  tờ 43a;  chú thích 3, tờ 38a  và Thượng An thôn hương lệ上安村鄉例, VHv.2675/1, tờ 5a.

 (16). Chú thích 3, tờ 38a; Yên Thành huyện Quan Trung tổng Phú Văn hương ước 安城縣關中總富文鄉約, HUN.807,  tờ 12.

(17). Yên Thành huyện Vân Tụ tổng Quảng Động xã Trịnh Sơn Công thôn luận tục lệ安城縣雲岫總廣洞社鄭山公論村俗例, VNv.7/2, tờ 5a.

 (18. Chú thích 18, VNv.7/1, tờ 6a.

(19). “Một số vấn đề về nội dung tư tưởng và ngữ pháp trong tác phẩm “Hàn thuyết” của Hàn Dũ. Nguồn: lytran187.wordpress.com/2010/12/09.

(20).  琼堆古 今事跡鄉編小引(鄉券), tờ.39a, b.

 (21). Chú thích 21, tờ.50b.

KHXHNV & Đời sống khác:
Ngô Thì Nhậm, người kế tục xứng đáng truyền thống văn chính luận Việt Nam trung đại (14/11/2018)
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia (9/11/2018)
Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng của Karl Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay (9/11/2018)
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc giảng dạy triết học Mác -Lênin tại Trường đại học Kinh tế Nghệ An hiện nay (11/9/2018)
Quan điểm của Xuân Diệu trước 1945 về tính dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại của văn học Việt Nam (10/9/2018)
Những người phụ nữ đi đầu trong “Tuần lễ vàng” (6/9/2018)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức trong - Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp (31/8/2018)
Lịch sử một dân tộc “dễ bị tổn thương” (31/8/2018)
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về Khoa học và công nghệ trong giai đoạn phát triển mới (28/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,620 | Tất cả: 1,508,680
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp